1. Trang chủ >
  2. Y Tế - Sức Khỏe >
  3. Y học thưởng thức >

Tỷ lệ tử vong quanh phẫu thuật ở bệnh nhân tách Phơng pháp mổ tối u phụ thuộc từng phẫu thuật viên, Biến chứng của phẫu thuật bao gồm chảy máu, nhiễm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (329.2 KB, 27 trang )


hoặc tiết niệu kèm theo. Những bệnh nhân tách thành ĐMC đoạn gần có những bệnh khác không thể phẫu
thuật đợc cũng nên điều trị nội khoa. Mục đích của điều trị nội khoa khi tách thành ĐMC giai đoạn cấp
nhằm ổn định vết nứt tách, phòng vỡ chỗ phình tách, thúc đẩy quá trình liền của vết tách và làm giảm nguy
cơ biến chứng.

5. Nguy cơ tiềm tàng luôn phải đề phòng khi điều trị nội


khoa để mổ kịp thời bao gồm: vết tách thành ĐMC tiếp tục lan rộng, khối phình tách ngày càng phồng
hơn, nguy cơ ép vào các tổ chức lân cận gây giảm tới máu các cơ quan - thờng biểu hiện trong bệnh cảnh
cơn đau ngựcbụng tái phát, chớng bụng, toan chuyển hoá tăng, men tim tăng dần vàhoặc suy giảm dần
chức năng thận. Nguyên nhân chính gây tử vong ở bệnh nhân điều trị nội khoa là vỡ khối phình tách
ĐMC và giảm tới máu các cơ quan.

C. Phẫu thuật 1. Chỉ định mổ:


a. Mọi bệnh nhân có tách thành ĐMC cấp đoạn gần, trừ trờng hợp không thể phẫu thuật do các bệnh lý
nặng kèm theo. Chống chỉ định thờng gặp là đột quỵ mới do nguy cơ vùng nhũn não chuyển thành
xuất huyết não khi dùng chống đông và do hiện t- ợng tái tới máu sau phẫu thuật.
b. Chỉ định phẫu thuật ở nhóm tách thành ĐMC cấp đoạn xa bao gåm: khối phình tách phồng lên
nhanh chóng, thấm máu phúc mạc, doạ vỡ, đau kéo dài không kiểm soát đợc vàhoặc thiếu máu
chi hoặc tạng, tách lan ngợc về ĐMC đoạn lên, có hở van ĐMC hoặc ë bƯnh nh©n cã héi chøng
Marfan.

2. Tû lÖ tử vong quanh phẫu thuật ở bệnh nhân tách


thành ĐMC giao động từ 5-10, có thể lên tới 70 160
nếu đã có biến chứng. Các yếu tố độc lập tiên lợng tử vong bao gồm: ép tim, truỵ tim mạch, vị trí vết nứt,
thời điểm phẫu thuật, thiếu máu thận hoặc tạng, rối loạn chức năng thận và có bệnh phổi hoặc bệnh động
mạch vành kèm theo. Thời gian tiến hành chẩn đoán trớc mổ càng dài, tỷ lệ tử vong trong và sau phẫu
thuật càng cao.

3. Phơng pháp mổ tối u phụ thuộc từng phẫu thuật viên,


đa số đều phối hợp với dán keo ĐMC. Mục đích của phẫu thuật nhằm cắt bỏ và thay thế đoạn ĐMC có vết
nứt đầu tiên, chứ không phải toàn bộ phần ĐMC bị tách thành. Nếu van ĐMC không thể sửa lại thì áp
dụng phẫu thuật Bentall thay đoạn gốc ĐMC và van ĐMC, cắm lại động mạch vành. Dán keo ĐMC
chiếm vai trò quan trọng, dùng để dán các lớp ĐMC bị tách và trám kín chỗ chảy máu của miệng nối ở
ĐMC, nhờ đó làm giảm tỷ lệ thay van ĐMC, giảm chảy máu trong và sau mổ cũng nh giảm tần suất và
mức ®é biÕn chøng.

4. BiÕn chøng cña phÉu thuËt bao gåm chảy máu, nhiễm


trùng, hoại tử ống thận cấp vàhoặc thiếu máu mạc treo. Biến chứng đáng sợ nhất sau mổ tách thành
ĐMC đoạn xuống là liệt hai chi dới do thiếu máu vào động mạch tuỷ sống qua các động mạch gian sờn.
Các biến chứng muộn bao gồm hở van ĐMC tiến triển nếu không thay van ĐMC luôn, phình mạch
tại miếng nối và tái phát phình tách ĐMC. Khoảng 50 trờng hợp còn tồn tại một phần phình tách sau
mổ. Khoảng 15 bệnh nhân mổ tách thành ĐMC phải mổ lại do tiến triển tiếp của tách thành ĐMC
còn sót lại; hoặc do tách thành ĐMC mới ở vùng miệng nối hoặc đoạn ĐMC khác; hoặc do tạo thành
túi thừa ĐMC. Các phơng pháp nh chụp MRI, siêu âm tim qua thực quản rất có giá trị để theo dõi đoạn
161
mạch nhân tạo, miệng nối hoặc phát hiƯn sím gi·nphång §MC.
D. Can thiƯp qua da theo đờng ống thông 1. Đặt giá đỡ Stent trong lòng ĐMC chỉ mới đợc
thực hiện trên số ít bệnh nhân có nguy cơ cao khi phẫu thuËt, ®a sè là những bệnh nhân tách thành
ĐMC xuống có triệu chứng giảm tới máu chi dới hoặc các tạng ổ bụng nh ruột, gan, vàhoặc thận.
Đặt giá đỡ đợc coi là thành công khi bít đợc vết nứt nội mạc đầu tiên, gây đông lòng giả trong vòng 2 giờ
sau đặt: tỷ lệ thành công trên lâm sàng từ 76-100, tỷ lệ tử vong sau 30 ngày là 25. Các biến chứng
gồm nhồi máu ruột, suy thận, thuyên tắc chi dới, vỡ lòng giả, hội chứng sau đặt Stent trong lòng ĐMC
tăng thân nhiệt và protein C phản ứng thoáng qua, tăng nhẹ bạch cầu đa nhân, với tần suất giao động từ
0 đến 75. Tại thời điểm hiện nay, đặt Stent đợc coi nh một biện pháp điều trị tạm thời ở những bệnh
nhân có triệu chứng giảm tuới máu chi dới và hoặc tạng ổ bụng thứ phát do tách thành ĐMC đoạn xa.
Đặt Stent vàhoặc đục lỗ lòng giả có thể áp dụng cho những bệnh nhân tách thành ĐMC đoạn gần để ổn
định toàn trạng trớc khi phẫu thuật.

2. Hiện tại, khoảng 13 bệnh nhân tách thành ĐMC đ-


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (27 trang)

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×