1. Trang chủ >
  2. Giáo Dục - Đào Tạo >
  3. Cao đẳng - Đại học >

Vi phạm hành chính

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (182.07 KB, 23 trang )


định để có thể có khả năng nhận thức được đầy đủ ích chất thực tế và tích chất pháp lý của hành vi do mình thực hiện, cũng như có khả năng điều khiển được đầy đủ
hành vi đó.

III, Vi phạm hành chính


1. Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân hay tổ chức thực hiện một
cách vô ý hay cố ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà khơng phải là hình sự và theo quy định của vi phạm pháp luật bị xử phạt hành chính.
Hành vi vi phạm hành chính được xác định là hành vi vi phạm mà cá nhân hoặc tổ chức khi vi phạm do lỗi cố ý hay vô ý đều được xác định là vi phạm
hành chính. Vi phạm hành chính có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với tội hình sự .Vi phạm hành chính khác với tội vi phạm hình sự ở tính
chất và mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm . Tính cất nguy hiểm của hành vi phụ thuộc vào khả năng gây thiệt hại của hành vi.Nếu khả năng này
lớn thì tính nguy hiểm của hành vi cao và ngược lại mức độ nguy hiểm của hành vi phụ thuộc vào quy mô vi phạm và thiệt hại thực tế đã xảy ra
2. - vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính khơng chỉ do luật mà
còn do văn bản dưới luật điều chỉnh và chủ yếu thuộc thẩm quyền xử lý của cơ quan nhà nước và theo thủ tục hành chính. Trong thực tế số lượng vi phạm
hành chính thường xuyên xảy ra ở các lĩnh vực của đời sống xã hội và tác hại của nó cũng rất lớn .
Ví dụ : Do chấp hành luật lệ giao thơng không nghiêm nên hàng ngày trên các quốc lộ thường xuyên xảy ra do các hành vi vi phạm luật lệ giao thông
dẫn đến mức độ thiệt hại về người và phương tiện rất lớn. Mặc dù vi phạm hành chính rất đa dạng nhưng cũng có đặc điểm.
Về chủ thể của vi phạm hành chính :
Chủ thể của vi phạm hành chính là tội phạm có thể cùng là cá nhân thực hiện vi phạm pháp luật. Hành vi trái pháp luật có lỗi mới là vi phạm pháp luật, vì vậy, chủ
thể của vi phạm pháp luật phải là người có năng lực hành vi. Năng lực hành vi là khả năng của chủ thể, khả năng này được nhà nước thừa nhận, bằng các hành vi của
mình thực hiện trên thực tế các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý, tức là tham gia vào các quan hệ pháp luật. Năng lực hành vi trách nhiệm pháp lý của con người phụ
thuộc vào độ tuổi, tình trạng sức khoẻ có bị bệnh làm mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức về hành vi của mình hay khơng và tuỳ theo từng loại trách nhiệm pháp lý
mà được pháp luật qui định cụ thể. Theo quy định của pháp luật hành chính và hình sự nước ta, chủ thể vi phạm hành chính và tội phạm đều phải đạt độ tuổi từ đủ 14
tuổi trở lên mà trí tuệ phát triển bình thường. Theo quy định tại Điều 6 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị xử
phạt đối với những vi phạm hành chính thực hiện do cố ý. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra. Tương tự như
vậy, Bộ luật hình sự năm 1999 của n-ớc ta cũng quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12 như sau:
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. 2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Từ những vấn đề trình bày ở trên, chúng ta có thể nhận thấy chủ thể - cá nhân vi phạm
hành chính và tội phạm có chung độ tuổi chịu trách nhiệm về hành vi do mình gây ra. Việc quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hành chính và hình sự thể hiện chính
sách hành chính và hình sự nhân đạo của nhà nước ta đối với người phạm tội ở tuổi chưa thành niên.
Dấu hiệu pháp lý của hành vi VPHC
Gồm 4 dấu hiệu pháp lý của VPHC: - Dấu hiệu trong mặt khách quan.
- Dấu hiệu trong mặt chủ quan. - Dấu hiệu về chủ thể.
- Dấu hiệu về khách thể.
+ Dấu hiệu trong mặt khách quan: - Dấu hiệu bắt buộc là hành vi VPHC là hành vi xâm phạm các quy tắc quản lý
nhà nước và đã bị pháp luật hành chính ngăn cấm. Việc bị ngăn cấm thể hiện rõ trong các văn bản pháp luật quy định về xử phạt VPHC.
Những hành vi này bị pháp luật quy định là sẽ bị xử phạt bằng các hình thức, biện pháp xử phạt hành chính.
- Như vậy, khi xem xét để đi đến kết luận rằng hành vi của cá nhân hay tổ chức có phải là VPHC hay khơng, bao giờ cũng phải có những căn cứ pháp lý rõ ràng xác
định hành vi đó phải được pháp luật quy định là sẽ bị xử phạt bằng các biện pháp xử phạt hành chính. Cần tránh tình trạng áp dụng “nguyên tắc suy đoán” hoặc “áp
dụng tương tự pháp luật” trong việc xác định VPHC đối với các tổ chức và cá nhân.
+ Dấu hiệu trong mặt chủ quan: - Dấu hiệu bắt buộc là dấu hiệu lỗi của chủ thể vi phạm, thể hiện dưới hình thức
cố ý hoặc vơ ý người thực hiện hành vi này phải trong trạng thái có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng đã vơ tình, thiếu thận trọng
mà khơng nhận thức được điều đó hoặc nhận thức được nhưng vẫn cố tình thực hiện vi phạm.
- Nếu xác định rằng, chủ thể thực hiện hành vi khi khơng có khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì kết luận rằng khơng có vi phạm hành chính
xảy ra.
+ Dấu hiệu về chủ thể: - Chủ thể thực hiện hành vi VPHC là các tổ chức, cá nhân có năng lực chịu trách
nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật hành chính. -Theo quy định của pháp luật, cá nhân là chủ thể của VPHC phải là người không
mắc các bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi và đủ độ tuổi do pháp luật quy định, cụ thể là:
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là chủ thể của VPHC trong trường hợp thực hiện với lỗi cố ý. Người thực hiện hành vi với lỗi cố ý là người nhận thức được
hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật cấm đoán nhưng vẫn cố tình thực hiện.
- Người đủ 16 tuổi trở lên có thể là chủ thể của VPHC trong mọi trường hợp. Tổ chức là chủ thể VPHC bao gồm: cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các đơn
vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân. - Cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng là chủ thể VPHC theo quy định của pháp luật
Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
+ Dấu hiệu về khách thể: - Dấu hiệu khách thể để nhận biết VPHC là hành vi vi phạm này đã xâm hại đến
trật tự quản lý hành chính nhà nước đã được pháp luật hành chính quy định và bảo vệ.
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính
1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự là một năm, kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện; đối với vi phạm hành chính về
xuất cảnh, nhập cảnh thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là hai năm, kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện.
Nếu q các thời hạn nói trên thì khơng bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính quy định tại
Nghị định này.
2. Đối với cá nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự mà có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án
thì bị xử phạt vi phạm hành chính nếu hành vi của người đó có dấu hiệu vi phạm hành chính; trong trường hợp này, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là ba tháng,
kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vi phạm.
3. Trong thời hạn được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính mới hoặc cố tình trốn tránh, cản trở
việc xử phạt thì khơng áp dụng thời hiệu xử phạt nói trên; thời hiệu xử phạt được tính lại kể từ thời điểm người đó thực hiện hành vi vi phạm hành chính mới hoặc thời điểm
chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.
4. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nếu có lỗi trong việc để quá thời hiệu xử phạt thì bị xử lý theo quy định tại Điều 121 của Pháp lệnh Xử lý vi
phạm hành chính năm 2
Chế tài của vi phạm hành chính
Đối với mỗi vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây:
a Cảnh cáo Cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu,
có tình tiết giảm nhẹ hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện. Cảnh cáo được quyết định bằng
văn bản.
b Phạt tiền. 1.Mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính là từ 5.000 đồng đến
500.000.000 đồng.
2. Căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước được quy định như sau:
a Phạt tiền tối đa đến 20.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực: trật tự, an toàn xã hội; quản lý và bảo vệ các cơng trình
giao thơng; quản lý và bảo vệ cơng trình thủy lợi; lao động; đo lường và chất lượng hàng hóa; kế tốn; thống kê; tư pháp; bảo hiểm xã hội
b Phạt tiền tối đa đến 30.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực: trật tự, an tồn giao thơng đường bộ, đường thủy; văn hóa
- thơng tin; du lịch; phòng, chống tệ nạn xã hội; đất đai; đê điều và phòng chống lụt, bão; y tế; giá; điện lực; bảo vệ và kiểm dịch thực vật; bảo vệ nguồn lợi thủy sản; thú
y; quản lý, bảo vệ rừng, lâm sản; quốc phòng; an ninh
c Phạt tiền tối đa đến 70.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực: thương mại; hải quan; bảo vệ mơi trường; an tồn và kiểm
sốt bức xạ; trật tự, an tồn giao thơng đường sắt; xây dựng; bưu chính, viễn thơng và tần số vơ tuyến điện; chứng khốn; ngân hàng; chuyển giao cơng nghệ.
d Phạt tiền tối đa đến 100.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực: khống sản; sở hữu trí tuệ; hàng hải; hàng không dân
dụng; thuế trừ trường hợp các luật về thuế có quy định khác.
đ Phạt tiền tối đa đến 500.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi xâm phạm vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm nghiên cứu, thăm dò, khai thác nguồn lợi hải sản, dầu khí, các tài nguyên thiên nhiên khác.
3.Đối với hành vi vi phạm hành chính trong những lĩnh vực quản lý nhà nước chưa được quy định tại khoản 2 Điều này thì Chính phủ quy định mức phạt tiền, nhưng
tối đa khơng vượt quá 100.000.000 đồng.
-Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
a Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; b Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.
-Ngồi các hình thức xử phạt được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp
khắc phục hậu quả sau đây:
a Buộc khơi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ cơng trình xây dựng trái phép
b Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra
c Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện;
d Buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi và cây trồng, văn hóa phẩm độc hại;
đ Các biện pháp khác do Chính phủ quy định. 4. Người nước ngồi vi phạm hành chính còn có thể bị xử phạt trục xuất. Trục xuất
được áp dụng là hình thức xử phạt chính hoặc xử phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể.
Nội dung cơ bản của Quy định về xử phạt vi phạm hành chính:
Văn bản chế tài xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đầu tư và thực hiện dự án đầu tư gây ô nhiễm môi trường cần có các điều xử phạt đối với các hành vi: Vi
phạm quy định khi xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch; Thiếu nội dung đánh giá, dự báo tác động môi trường, biện pháp bảo vệ môi trường trong quá trình
xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; Thiếu chỉ tiêu đầu tư cho việc tăng cường năng lực về tổ chức quản lý, giám sát môi trường, ngăn ngừa và xử lý ô
nhiễm, cải tạo và bảo vệ môi trường trong kế hoạch phát triển, chương trình, dự án đầu tư; Khơng lấy ý kiến rộng rãi của các bộ, ngành, địa phương, các nhà khoa học
và chuyên gia có liên quan khi lập các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển; Không công bố công khai và trưng cầu ý kiến nhân dân và Hội đồng nhân dân sống
trong vùng quy hoạch đối với quy hoạch đô thị và nông thôn; Vi phạm quy định về cam kết bảo vệ môi trường; Vi phạm quy định về đánh giá tác động môi trường và
đánh giá môi trường chiến lược; Vi phạm khi triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án đầu tư, từ đó phát thải vào mơi trường các chất thải
độc hại…
Bên cạnh các hình thức xử phạt bằng tiền, còn cần quy định các biện pháp khắc phục hậu quả, thời gian phải khắc phục xong hậu quả, buộc phải bổ sung các nội
dung còn thiếu theo quy định.
1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương.
2. Các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực có thẩm quyền xử phạt đối với những hành
vi vi phạm hành chính được quy định cụ thể tại các nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước.
3. Thẩm quyền xử phạt của các chức danh theo quy định của Pháp lệnh trong từng trường hợp cụ thể được xác định như sau:
a Thẩm quyền phạt tiền được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định cho mỗi hành vi vi phạm hành chính.
b Thẩm quyền áp dụng hình thức tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính được xác định căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm
hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước quy định cho chức danh có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với một hành vi vi
phạm cụ thể. Trường hợp Pháp lệnh quy định thẩm quyền tịch thu theo trị giá của tang vật, phương tiện vi phạm thì phải căn cứ vào giá trị thực tế của tang vật,
phương tiện vi phạm để xác định thẩm quyền.
c Thẩm quyền áp dụng hình thức tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề được xác định căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm
hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước. Đối với hành vi vi phạm có quy định áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề
thì chức danh nào có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi đó cũng có quyền xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề đối
với người vi phạm; trường hợp luật có quy định khác thì theo quy định của luật. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người
đã ra quyết định xử phạt phải thơng báo bằng văn bản cho cơ quan cấp giấy phép, chứng chỉ hành nghề về việc đã áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy
phép, chứng chỉ hành nghề.
d Thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả được xác định căn cứ vào Pháp lệnh quy định chức danh đó có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc
phục hậu quả; đồng thời căn cứ vào hành vi vi phạm cụ thể có quy định việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả được quy định trong các nghị định của Chính
phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước.
đ Trong trường hợp mức tiền phạt, trị giá tang vật phương tiện bị tịch thu hoặc một trong các hình thức xử phạt hoặc biện pháp khắc phục hậu quả không thuộc
thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền thì người đang thụ lý vụ việc vi phạm phải kịp thời chuyển vụ việc vi phạm đó đến người có thẩm quyền xử phạt.
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính :
-Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Ủy ban nhân dân các cấp
1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có quyền xử phạt theo quy định tại Điều 30 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh
vực văn hố - thơng tin được quy định tại Nghị định này thuộc địa bàn quản lý của địa phương.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền xử phạt theo quy định tại Điều 29 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh
vực văn hố - thơng tin được quy định tại Nghị định này thuộc địa bàn quản lý của địa phương.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền xử phạt theo quy định tại Điều 28 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh
vực văn hố - thông tin được quy định tại Nghị định này thuộc địa bàn quản lý của địa phương.
-Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan thanh tra chuyên ngành
1. Thanh tra viên chun ngành văn hóa - thơng tin đang thi hành cơng vụ có quyền xử phạt theo quy định tại Điều 38 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối
với hành vi vi phạm trong lĩnh vực văn hóa - thơng tin được quy định tại Nghị định này.
2. Chánh thanh tra chuyên ngành văn hóa - thơng tin các cấp có quyền xử phạt theo thẩm quyền quy định tại Điều 38 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối với hành
vi vi phạm trong lĩnh vực văn hóa - thơng tin được quy định tại Nghị định này.
3. Thanh tra viên, Chánh thanh tra chuyên ngành các cấp của các ngành có liên quan đến lĩnh vực văn hóa - thơng tin có quyền xử phạt theo thẩm quyền quy định
tại Điều 38 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực văn hóa - thông tin được quy định tại Nghị định này thuộc phạm vi quản lý nhà
nước của ngành mình.
- Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Bộ đội biên phòng, Hải quan
Lực lượng Bộ đội biên phòng, Hải quan có quyền xử phạt theo thẩm quyền quy định tại các Điều 32 và 34 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi
vi phạm về xuất khẩu, nhập khẩu các sản phẩm văn hoá được quy định tại Nghị định này.
- Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Cảnh sát nhân dân
Lực lượng Cảnh sát nhân dân có quyền xử phạt theo thẩm quyền quy định tại Điều 31 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm hành
chính trong lĩnh vực văn hố - thơng tin có liên quan đến trật tự, an tồn xã hội thuộc thẩm quyền quản lý được quy định tại Nghị định này.
-Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan Quản lý thị trường
Lực lượng Quản lý thị trường có quyền xử phạt theo thẩm quyền quy định tại Điều 37 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm về kinh
doanh dịch vụ các sản phẩm văn hố - thơng tin được quy định tại Nghị định này.
- Thủ tục xử phạt
Thủ tục xử phạt những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa - thơng tin được áp dụng theo các quy định tại Chương VI Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành
chính và Chương IV Nghị định số 1342003NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm
hành chính.
- Thu, nộp tiền phạt
Tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hố - thơng tin mà bị phạt tiền thì phải nộp tiền tại địa điểm theo quy định của pháp luật. Thủ tục thu, nộp
tiền phạt thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
-Thủ tục tịch thu và xử lý tang vật, phương tiện vi phạm
1. Khi áp dụng hình thức tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hố - thơng tin, người có thẩm quyền xử phạt phải thực hiện đúng thủ
tục quy định tại Điều 60 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.
2. Người ra quyết định tịch thu có trách nhiệm tổ chức bảo quản tang vật, phương tiện bị tịch thu. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tịch thu tang vật, phương tiện vi
phạm, người ra quyết định tịch thu phải chuyển giao quyết định xử phạt, biên bản tịch thu và toàn bộ tang vật, phương tiện bị tịch thu cho cơ quan có thẩm quyền để
tổ chức bán đấu giá theo quy định tại Điều 61 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, trừ đối với băng đĩa và các sản phẩm văn hố đã có nội dung.
3. Đối với tang vật là di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, người ra quyết định phải báo cáo Bộ Văn hố - Thơng tin để Bộ trưởng Bộ Văn hố - Thơng tin giao cho cơ quan
thích hợp quản lý, sử dụng.
Trong mọi trường hợp chuyển giao tang vật sang sở hữu nhà nước, thủ tục chuyển giao và quản lý tang vật thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị định số
1342003NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.
4. Tiền thu được từ bán tang vật, phương tiện bị tịch thu, sau khi trừ các chi phí theo quy định của pháp luật, phải nộp vào ngân sách nhà nước.
-Thủ tục tước quyền sử dụng giấy phép
Thủ tục tước quyền sử dụng các loại giấy phép trong lĩnh vực văn hóa - thơng tin thực hiện theo quy định tại Điều 59 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.
- Thủ tục tiêu huỷ văn hố phẩm độc hại
1. Đối với văn hoá phẩm bị tịch thu và cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hố - thơng tin quyết định tiêu hủy thì phải thành lập Hội đồng xử lý để tiêu huỷ.
Thành phần Hội đồng xử lý bao gồm đại diện cơ quan quản lý nhà nước về văn hố - thơng tin, cơ quan cơng an, tài chính và các cơ quan có liên quan cùng cấp.
2. Khi tiến hành tiêu huỷ văn hố phẩm, cơ quan có trách nhiệm phải lập biên bản tiêu huỷ. Biên bản phải có chữ ký xác nhận của các thành viên Hội đồng xử lý.
Trong trường hợp cần thiết có thể mời đại diện các cơ quan, tổ chức hữu quan chứng kiến việc tiêu hủy.
3. Bộ Văn hố - Thơng tin hướng dẫn cụ thể thủ tục tiêu huỷ các loại văn hoá phẩm cần phải tiêu huỷ theo quy định tại Nghị định này.
Tính trái pháp luật của vi phạm hành chính :
• hành vi mà tổ chức cá nhân thực hiện là hành vi trái pháp luật về quản lí nhà nước
nghĩa là tổ chức cá nhân đó thực hiện hoặc thực hiện ko đúng những yêu cầu mà pháp luật về quản lí hành chính nhà nước đề ra
• hành vi vi phạm hành chính của tổ chức phải có lỗi , có thể là lỗi cố ý hoặc vơ ý.
chủ thể thực hiện hàn vi vi phạm hành chính trong trạng thái có đủ khả năng nhận thức dc hành vi đó là trái pháp luật hành chính nhưng vãn cố ý thực hiện hoặc do
quá tự tin cẩu thả trong xử sự dẫn đến hành vi trái pháp luật về quản lí hành chính nhà nước xảy ra
• hành vi trái pháp luật về quản lí nhà nước do tổ chức cá nhân thực hiện ko phải là
tội phạm nghĩa là hành vi này có mức độ gây nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm. đây là dấu hiệu quan trọng để phan biệt vi phạm hành chính với tội phạm. để
đánh giá mức độ nguy hiểm của vi phạm hành chính phải căn cứ vào các yếu tố như: mức độ gây thiêt hại cho xã hội cuả hành vi , tính chất, mưc độ lỗi, tầm quan
trọng của khác thể được bảo vệ, nhân thân người vi phạm..
• hành vi trái pháp luật về quản lí nhà nước do tổ chức, cá nhân thực hiện phải dc
pháp luật hành chính qui định bị xử phạt hành chính. chỉ có quốc hội uỷ ban thường vụ quốc hội và chính phủ mới có quyền ban hành văn bản pháp luật qui định về vi
phạm hành chính và các biện pháp xử lí đối với vi phạm hành chính. quốc hội qui định về vi phạm hành chính, hình thức, biện pháp xử lí đối với vi phạm hành chính
trong các văn bản luật , uỷ ban thường vụ quốc hội qui định về vi phạm hành chính, hình thức biện pháp đối với vi phạm hành chính trong các pháp lệnh. Chính phủ qui
định về các vi phạm hành chính , hình thức biện pháp xử lí đối với vi phạm hành chính trong các nghị định
Các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lí vi phạm hành chính
1. Trong trường hợp cần ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp
sau đây theo thủ tục hành chính:
a Tạm giữ người; b Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
c Khám người; d Khám phương tiện vận tải, đồ vật;
đ Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; e Bảo lãnh hành chính;
g Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất;
h Truy tìm đối tượng phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong trường hợp bỏ trốn.
2. Khi áp dụng các biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này, người có thẩm quyền phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định tại các điều từ Điều 44 đến Điều 52 của Pháp
lệnh này; nếu vi phạm thì bị xử lý theo quy định tại Điều 121 của Pháp lệnh này.
- Tạm giữ người theo thủ tục hành chính
1. Việc tạm giữ người theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự cơng cộng, gây thương
tích cho người khác hoặc cần thu thập, xác minh những tình tiết quan trọng làm căn cứ để quyết định xử lý vi phạm hành chính.
2. Mọi trường hợp tạm giữ người đều phải có quyết định bằng văn bản và phải giao cho người bị tạm giữ một bản.
3. Thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính không được quá 12 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm; trong trường hợp cần thiết, thời hạn tạm giữ
có thể kéo dài hơn nhưng khơng được quá 24 giờ.
Đối với người vi phạm quy chế biên giới hoặc vi phạm hành chính ở vùng rừng núi xa xơi, hẻo lánh, hải đảo thì thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng khơng được
q 48 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm.
4. Theo yêu cầu của người bị tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải thông báo cho gia đình, tổ chức nơi làm việc hoặc học tập của họ biết. Trong trường hợp tạm
giữ người chưa thành niên vi phạm hành chính vào ban đêm hoặc giữ trên 6 giờ, thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo ngay cho cha mẹ hoặc người giám hộ
của họ biết.
5. Nghiêm cấm việc giữ người vi phạm hành chính trong các phòng tạm giữ, phòng tạm giam hình sự hoặc những nơi khơng bảo đảm vệ sinh, an tồn cho người bị tạm
giữ.
6. Chính phủ ban hành Quy chế tạm giữ người theo thủ tục hành chính.
-Thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính
1. Những người sau đây có quyền quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính:
a Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, thị trấn, Trưởng Công an phường;
b Trưởng Công an cấp huyện; c Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng
Cảnh sát giao thơng, Trưởng phòng Cảnh sát kinh tế, Trưởng phòng Cảnh sát hình sự, Trưởng phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm ma túy, Trưởng phòng Quản lý
xuất cảnh, nhập cảnh của Công an cấp tỉnh;
d Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát cơ động từ cấp đại đội trở lên hoạt động có tính chất độc lập, Trạm trưởng Trạm Công an cửa khẩu;
đ Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm, Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động; e Chi cục trưởng Hải quan, Đội trưởng Đội kiểm soát thuộc Cục Hải quan, Đội
trưởng Đội Kiểm sốt chống bn lậu và Hải đội trưởng Hải đội kiểm soát trên biển thuộc Cục điều tra chống buôn lậu Tổng cục Hải quan;
g Đội trưởng Đội Quản lý thị trường; h Chỉ huy trưởng Tiểu khu biên phòng, Chỉ huy trưởng Hải đồn biên phòng, Chỉ
huy trưởng Hải đội biên phòng, Trưởng đồn biên phòng và Thủ trưởng đơn vị bộ đội biên phòng đóng ở biên giới, hải đảo;
i Hải đội trưởng, Hải đoàn trưởng Cảnh sát biển; k Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay, bến cảng.
2. Trong trường hợp những người quy định tại khoản 1 Điều này vắng mặt thì cấp phó được ủy quyền có quyền quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính và
phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
- Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
1. Việc tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp cần để xác minh tình tiết làm căn cứ quyết định xử lý hoặc ngăn chặn
ngay vi phạm hành chính.
Những người được quy định tại Điều 45 của Pháp lệnh này, Chánh thanh tra chuyên ngành cấp sở và Chánh Thanh tra chuyên ngành bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ có quyền quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
2. Trong trường hợp có căn cứ để cho rằng nếu khơng tạm giữ ngay thì tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có thể bị tẩu tán, tiêu hủy thì thủ trưởng trực tiếp
của chiến sĩ Cảnh sát nhân dân, Bộ đội biên phòng, kiểm lâm viên, nhân viên Hải
quan, kiểm soát viên thị trường hoặc thanh tra viên chuyên ngành được quyền ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Trong thời hạn 24
giờ, kể từ khi ra quyết định, người ra quyết định phải báo cáo thủ trưởng của mình là một trong những người có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính được quy định tại khoản 1 Điều này và được sự đồng ý bằng văn bản của người đó; trong trường hợp khơng được sự đồng ý của họ thì người đã ra quyết
định tạm giữ phải hủy ngay quyết định tạm giữ và trả lại vật, tiền, hàng hóa, phương tiện đã bị tạm giữ.
3. Người ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải lập biên bản về việc tạm giữ. Trong biên bản phải ghi rõ tên, số lượng, chủng loại tang
vật, phương tiện bị tạm giữ và phải có chữ ký của người ra quyết định tạm giữ, người vi phạm. Người ra quyết định tạm giữ có trách nhiệm bảo quản tang vật,
phương tiện đó; nếu do lỗi của người này mà tang vật, phương tiện bị mất, bán, đánh tráo hoặc hư hỏng thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường.
Trong trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm cần được niêm phong thì phải tiến hành ngay trước mặt người vi phạm; nếu người vi phạm vắng mặt thì phải tiến hành
niêm phong trước mặt đại diện gia đình, đại diện tổ chức, đại diện chính quyền và người chứng kiến.
4- Đối với tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý, kim khí quý, các chất ma túy và những vật thuộc chế độ quản lý đặc biệt khác, thì việc bảo quản được thực hiện
theo quy định của pháp luật.
Đối với tang vật vi phạm hành chính là loại hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng thì người ra quyết định tạm giữ phải xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 61 của Pháp
lệnh này.
5. Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải xử lý tang vật, phương tiện bị tạm giữ theo những biện pháp ghi trong quyết định
xử lý hoặc trả lại cho cá nhân, tổ chức nếu khơng áp dụng hình thức phạt tịch thu đối với tang vật, phương tiện bị tạm giữ. Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi
phạm hành chính có thể được kéo dài đối với những vụ việc phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá sáu mươi ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật,
phương tiện. Việc kéo dài thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện phải do những người được quy định tại khoản 1 Điều này quyết định.
6. Việc tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải có quyết định bằng văn bản kèm theo biên bản tạm giữ và phải giao cho người vi phạm, đại diện tổ
chức vi phạm một bản.
- Khám người theo thủ tục hành chính
1. Việc khám người theo thủ tục hành chính chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng người đó cất giấu trong người đồ vật, tài liệu, phương tiện vi phạm hành chính.
2. Những người được quy định tại Điều 45 của Pháp lệnh này có quyền quyết định khám người theo thủ tục hành chính.
Trong trường hợp có căn cứ để cho rằng nếu khơng tiến hành khám ngay thì đồ vật, tài liệu, phương tiện vi phạm hành chính có thể bị tẩu tán, tiêu hủy, thì ngồi những
người được quy định tại Điều 45 của Pháp lệnh này, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân, cảnh sát viên Đội nghiệp vụ Cảnh sát biển, chiến sĩ Bộ đội biên phòng, kiểm lâm
viên, kiểm sốt viên thị trường đang thi hành công vụ được khám người theo thủ tục hành chính và báo cáo ngay bằng văn bản cho thủ trưởng của mình là một trong
những người được quy định tại Điều 45 của Pháp lệnh này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc khám người.
3. Việc khám người phải có quyết định bằng văn bản, trừ trường hợp cần khám ngay theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều này.
4. Trước khi tiến hành khám người, người khám phải thông báo quyết định cho người bị khám biết. Khi khám người, nam khám nam, nữ khám nữ và phải có người
cùng giới chứng kiến.
5. Mọi trường hợp khám người đều phải lập biên bản. Quyết định khám người và biên bản khám người phải được giao cho người bị khám một bản.
- Khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính
1.Việc khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng trong phương tiện vận tải, đồ vật đó có cất giấu tang vật vi
phạm hành chính.
2. Những người được quy định tại Điều 45 của Pháp lệnh này, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân, cảnh sát viên Đội nghiệp vụ Cảnh sát biển, chiến sĩ Bộ đội biên phòng,
kiểm lâm viên, nhân viên thuế vụ, kiểm soát viên thị trường, thanh tra viên chuyên ngành đang thi hành cơng vụ có quyền khám phương tiện vận tải, đồ vật trong phạm
vi thẩm quyền của mình.
3. Khi tiến hành khám phương tiện vận tải, đồ vật phải có mặt chủ phương tiện vận tải, đồ vật hoặc người điều khiển phương tiện vận tải và một người chứng kiến;
trong trường hợp chủ phương tiện, đồ vật hoặc người điều khiển phương tiện vắng mặt thì phải có hai người chứng kiến.
4. Mọi trường hợp khám phương tiện vận tải, đồ vật đều phải lập biên bản và phải giao cho chủ phương tiện vận tải, đồ vật hoặc người điều khiển phương tiện vận tải
một bản.
-Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
1. Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng ở nơi đó có cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính.
2. Những người được quy định tại Điều 45 của Pháp lệnh này có quyền quyết định khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; trong trường hợp nơi
cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là nơi ở thì quyết định khám phải được sự đồng ý bằng văn bản của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện trước khi
tiến hành.
3. Khi khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải có mặt người chủ nơi bị khám hoặc người thành niên trong gia đình họ và người chứng
kiến. Trong trường hợp người chủ nơi bị khám, người thành niên trong gia đình họ vắng mặt mà việc khám khơng thể trì hỗn thì phải có đại diện chính quyền và hai
người chứng kiến.
4. Không được khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
5. Mọi trường hợp khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải có quyết định bằng văn bản và phải lập biên bản. Quyết định khám nơi cất giấu tang
vật, phương tiện vi phạm hành chính và biên bản phải được giao cho người chủ nơi bị khám một bản.
-Bảo lãnh hành chính
1. Bảo lãnh hành chính là việc giao cho gia đình, tổ chức xã hội nhận quản lý, giám sát người có hành vi vi phạm pháp luật thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa
vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong thời gian cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục xem xét, quyết định việc áp dụng các biện pháp này nếu
người đó có nơi cư trú nhất định.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao việc bảo lãnh hành chính cho gia đình, tổ chức xã hội nơi đối tượng cư trú. Trong trường hợp đối tượng là
người chưa thành niên thì trách nhiệm bảo lãnh hành chính được giao cho cha mẹ hoặc người giám hộ.
Gia đình, tổ chức xã hội, người được giao trách nhiệm bảo lãnh hành chính có trách nhiệm khơng để đối tượng tiếp tục vi phạm pháp luật và bảo đảm sự có mặt của đối
tượng tại nơi cư trú khi được yêu cầu.
Việc bảo lãnh hành chính chấm dứt khi hết thời hạn bảo lãnh ghi trong quyết định giao bảo lãnh hoặc khi đối tượng được đưa đi chấp hành biện pháp quy định tại
khoản 1 Điều này.
3. Chính phủ quy định cụ thể về bảo lãnh hành chính.
-Quản lý đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất
Việc quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất do Chính phủ quy định.
- Truy tìm đối tượng đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong trường hợp bỏ trốn
1. Trong trường hợp người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh bỏ trốn trước khi được đưa vào trường hoặc cơ sở, thì cơ quan
Cơng an cấp huyện nơi người đó cư trú ra quyết định truy tìm đối tượng.
Trong trường hợp người đang chấp hành tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh bỏ trốn thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng hoặc Giám đốc cơ sở giáo
dục, cơ sở chữa bệnh ra quyết định truy tìm đối tượng. Cơ quan Cơng an có trách nhiệm phối hợp với trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong việc
truy tìm đối tượng để đưa người đó trở lại trường hoặc cơ sở.
2. Đối với người có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành quyết định tại trường giáo dưỡng quy định tại khoản 1 Điều này, nếu khi bị bắt lại
mà người đó đã đủ 18 tuổi thì Trưởng Cơng an cấp huyện đề nghị Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện hủy quyết định đưa vào trường giáo dưỡng và lập hồ sơ đề nghị
đưa vào cơ sở giáo dục.
IV. Để làm rõ những vấn đề trên nhóm chúng tơi đưa ra một sỗ tình huống cụ thể như sau :
1:
Doanh nghiệp V chuyên kinh doanh xăng dầu. Trước đây, nước thải của Công ty vẫn thải ra môi trường thông qua kênh dẫn đổ ra sông H. Từ khi Luật Bảo vệ mơi
trường 2005 có hiệu lực, có các Đồn kiểm tra về bảo vệ mơi trường lấy mẫu và kết luận doanh nghiệp chúng tôi vi phạm 2 lỗi. Đó là: Khơng lập hồ sơ, đăng ký có phát
sinh chất thải nguy hại đối với trường hợp phải đăng ký với cơ quan có chun mơn về bảo vệ môi trường cấp tỉnh; Xả nước thải vào nguồn nước các chất gây ơ nhiễm
vượt q TCCP.
Tình huống trên thì đơn vị nào có quyền ra Quyết định xử phạt? Và Công ty phải nộp phạt là bao nhiêu ?
Trả lời: Theo Nghị định số 812006NĐ-CP ngày 982006 của Chính phủ về Xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT thì Cơng ty HH đã vi phạm Khoản 4, Điều 15 và khoản 1 , điều 22 của nghị định
Khoản 4, Điều 15 quy định: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi khơng lập hồ sơ, đăng ký có phát sinh chất thải nguy hại đối với trường
hợp phải đăng ký với cơ quan có chun mơn về bảo vệ mơi trường cấp tỉnh.
Theo Khoản 1, Điều 22, hành vi xả, thải nước thải vào môi trường nước các chất gây ô nhiễm vượt quá TCCP thì bị phạt cảnh cáo hoặc bị phạt tiền từ 100.000 đồng
đến 500.000đồng
Quyết định xử phạt này sẽ do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh ra Quyết định .
2:
Tháng 92008, Bộ tài nguyên môi trường đã phát hiện ra vụ việc sai phạm của công ty Bột ngọt Vedan Công ty TNHH Vedan Việt Nam.Theo đó thì cơng ty
Vedan đã hằng ngày sả nước thải bẩn chưa qua xử lý trực tiếp ra sông Thị Vải Đồng Nai suốt 14 năm qua kể từ khi đi vào hoạt động 1994: khoảng
45000m31tháng. Hành động này gây ơ nhiễm nặng cho dòng sơng Thị Vải, gây
chết các sinh vật sống ở sông này và ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe người dân ven sông...
Trả li: Ô Mt khỏch quan:
- Hnh vi nguy him: s nước thải bẩn chưa qua xử lý ra sông Thi Vải: 45000m31tháng. Đây là hành vi trái pháp luật hành chính.
- Hậu quả: dòng sơng bị ơ nhiễm nặng, phá hủy môi trường sống và làm thủy sản chết hàng loạt, gây thiệt hại cho các hộ nuôi thủy sản và ảnh hưởng trầm trọng đến
sức khỏe người dân sống ven sơng. Những thiệt hại đó do hành vi trái pháp luật của công ty Vedan gây ra trực tiếp và gián tiếp.
- Thời gian: 14 năm từ năm 1994-2008. - Địa điểm: sông Thị Vải thuộc địa phận tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tp.Hồ
Chí Minh. - Phương tiện: s dng h thng ng s ngm.
Ô Mt khỏch th: Việc làm của công ty Vedan đã xâm hại đến các quy tắc quản lý nhà nước: vi phạm
trật tự quản lý nhà nước, làm tổn hại đến các quan h xó hi c phỏp lut bo v. Ô Mt chủ quan:
- Lỗi: là lỗi cố ý gián tiếp. Vì, Cơng ty Vedan khi thực hiện hành vi này thì nhận thấy trước hậu quả, tuy không mong muốn nhưng vẫn để hậu quả xảy ra.
- Mục đích: nhằm giảm bớt chi phí xử lý nước thải. Theo quy định thì cơng ty Vedan phải đầu tư khoảng 1 chục triệu để xử lý 1m3 dịch thải đậm đặc. Đáng ra
phải chi từ 15-20 vốn đầu tư cho việc xử lý nước thải thì Cơng ty Vedan chỉ dành 1,5 vn cho vic ú.
Ô Mt ch th vi phm: - Công ty Vedan thuộc Công ty TNHH Vedan Việt Nam là một công ty thực
phẩm với 100 vốn đầu tư Đài Loan. - Được xây dựng từ năm 1991.
- Có giấy phép hoạt động từ năm 1994. Dẫn đến, là một tổ chức có đầy đủ trách nhiệm pháp lý khi thực hiện hành vi trái
pháp luật này.

C. KẾT LUẬN


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×