1. Trang chủ >
  2. Giáo Dục - Đào Tạo >
  3. Cao đẳng - Đại học >

Hàng hoá sức lao động

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.9 MB, 60 trang )


thong tạo ra giá trị thặng dư k? Sự lưu thông thuần tuý dù trao đổi ngang giá hay trao đổi không ngang giá cũng không hề làm tăng them giá trị.
-Trường hợp trao đổi ngang giá, những người tham gia trao đổi chỉ có lợi về mặt giá trị sử dụng chứ khơng có lợi về mặt giá trị, nên không tạo ra m. Trong trường hợp trao đổi không
ngang giá, người này được lợi trong mua và bán, thì người khác sẽ mất đi khi bán và mua, còn xet them phạm vi tồn Xh thì đó chỉ là sự phân phối lại giá trị mà thôi.
Sự phân tích trên cho thấy trong lưu thơng khơng làm cho T lớn lên, nhưng nếu nằm ngồi lưu thơng tức là tiền tệ để trong két thì tiền tệ cũng không làm tăng them giá trị.Như vậy mâu
thuẫn của công thức chung của tư bản biểu hiện ở chỗ: tiền tệ vừa lớn lên trong lưu thông vừa không được tạo ra trong lưu thông.
Để giải quyết được mâu thuẫn này phải tìm trên thị trường 1 hàng hố có khả năng tạo ra
giá trị mới lớn hơn giá trị của bản than nó. Đó là hàng hố sức lao động.

2. Hàng hoá sức lao động


: Sức lao động là tồn bộ thể lực, trí lực của con người, là khả năng lao động của con người.
Đ iều kiện để sức lao động trở thành hàng hố: người có sức lao động tự dovề than thể,
đượ c quyền làm chủ sức lao động của mình để có thể đi làm th bán sức lao động. Họ khơng
có tư liệu sản xuất và của cải khác trong điều kiện đó bụôc họ phải đi làm thuê tức là bán sức lao động của mình.
Hai thuộc tính của hàng hố sức lao động:hàng hố sức lao động cũng có hai thuộc tính như hàng hố thơng thường:
- Giá trị sức lao động cũng do số lượng lao động XH cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra nó quyết định. Sức lao động tồn tại trong cơ thể sống con người, muốn sản xuất và tái sản
xuất ra nó con người cần phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định. Vì vậy giá trị hàng hố sức lao động được tính bằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết về mặt vật
chất và tinh thần để duy trì đời sống bình thường của người cơng nhân và gia đình anh ta kể cả những phí tổn học tập để người cơng nhân có một trình độ nhất định.
Việc xác lập giá trị hàng hoá sức lao động như trên là tất yếu đối với quá trình tái sản xuất XH. Giá trị hàng hố sức lao động có được phụ thuộc vào yếu tố tinh thần và lịch sử, nghĩa là
nó phụ thuộc vào các điều kiện cụ thể của từng nước: khí hậu, tập quán, trình độ văn minh, nguồn gốc, hoàn cảnh ra đời và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân.
- Giá trị sử dụng của hàng hố sức lao động là cơng dụng của hàng hố sức lao động, nó nhằm thoả mãn nhu cầu của người mua để sử dụng vào quá trình lao động sản xuất. Khác với
hàng hố thơng thường khi được sử dụng nó có khả năng tạo ra một lượng giá trị mới hơn giá trị ban đầu của bản thân nó. Đó chính là nguồn gốc của giá trị thặng dư. Đây là đặc điểm riêng có
của hàng hố sức lao động. Đặc điểm này là chìa khố để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản.
Câu 4:Thế nào là tư bản bất biến, tư bản khả biến?Việc phân chia TB thành hai bộ phận như vậy có ý nghĩa gi?Thế nào là tỉ suất giá trị thặng dư?
1.TB bất biến và TB khả biến
Để tiến hành sản xuất nhà TB phải ứng tiền ra để mua các yếu tố của quá trình sản xuất.
Các bộ phận này có vai trò khác nhau trong việc tạo ra giá trị thặng dư. - TB bất biến là bộ phận TB tồn tại dưới hình thức giá trị TLSX nhà xưởng, máy móc,
thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, vật liệu phụ… mà giá trị của nó được bảo tồn và chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm, tức là giá trị khơng thay đổi về lượng trong q trình sản
xuất. TB bất biến kí hiệu là c. - TB khả biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức giá trị sức lao động, ln thay đổi
và tăng lên về lượng trong quá trình sản xuất, TB khả biến kí hiệu là v. Việc phân chia TB thành TB bất biến và TB khả biến có ý nghĩa rất quan trọng ở chỗ: nó
chỉ rõ vai trò và nguồn gốc của giá trị thặng dư là do sức lao động của công nhân làm thuê tạo ra. Tuy vậy cũng cần lưu ý rằng TB bất biến măcj dù không tạo ra giá trị thặng dư nhưng nó là
đ iều kiện khách quan cần thiết trong quá trình sản xuất và tăng năng suất lao động của cơng
nhân. Việc phân chia này còn giúp chúng ta có cơ sở để phê phán quan điểm của giai cấp tư sản cho rằng máy móc sinh ra lợi nhuận cho nhà TB chứ nhà TB khơng bóc lột cơng nhân làm
th.Từ sự phân tích trên có thể đưa ra cơng thức khái qt để tính giá trị của hàng hố trong các xi nghiệp TB là: Giá trị hàng hoá= c+v+m.
2.Tỷ suất giá trị thặng dư
Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ phần trăm giữa các giá trị thặng dư với TB khả biến và đượ
c xác định bằng cơng thức: m

= m:v100 Cơng thức tính tỷ suất giá trị thặng dư còn có dạng: m

=t

:t100 Trong đó: t là thời gian lao động tất yếu,t

là thời gian lao động thặng dư Tỷ suất giá trị thặng dư phản ánh trình độ bóc lột của nhà TB đối với giai cấp cơng nhân
làm th. Nó chỉ rõ trong tổng số giá trị mới do sức lao động của người cơng nhân tạo ra thì người cơng nhân được hưởng bao nhiêu và nha TB chiếm đoạt bao nhiêu.
Câu 5: Thế nào là giá trị thặng dư? giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch? So sánh sự giống và khác nhau của giá trị thặng dư tuyệt
đối và giá trị thặng dư tương đối? 1.Giá trị thặng dư, giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng
dư siêu ngạch
- Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra ngồi sức lao động, do người cơng nhân làm th tạo ra.và bị nhà TB chiếm đoạt
Giá trị thặng dư phản ánh được bản chất của QHSX TBCN- quan hệ bóc lột của nhà TB đố
i với lao động làm thuê. Mục đích của các nhà TB là sản xuất giá trị thặng dư tối đa, vì vậy các nhà TB dùng nhiều
phương pháp để tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư. Khái quát lại có hai phương pháp chủ yếu để đạt được mục đích đó là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng
dư tương đối. - Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày lao động vượt khỏi
giới hạn thời gian lao động cần thiết. Ngày lao động kéo dài trong khi thời gian lao động cần thiết không thay đổi, do đó thời gian lao động thặng dư tăng lên.Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt
đố i là cơ sở chung của chế độ TBCN. Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong giai đoạn
đầ u của CNTB, khi lao động còn ở trình độ thủ công và năng suất lao động còn thấp.Với
lòngtham vơ hạn, nhà TB tìm mọi thủ đoạn để kéo dài ngày lao động, nâng cao trình độ bóc lột lao động làm th. Nhưng một mặt do giới hạn tự nhiên của sức lực con người, mặt khác do đấu
tranh quyết liệt của giai cấp công nhân đòi rút ngắn ngày lao động, cho nên ngày lao động
không thể kéo dài vô hạn. Tuy nhiên ngày lao động không thể rút ngắn đến mức chỉ bằng thời gian lao động tất yếu. Một hình thức khác của sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là tăng cường
độ lao động. Vì tăng cường độ lao động cũng giống như kéo dài thời gian lao động trong ngày,
trong khi thời gian lao động tất yếu không thay đổi. - Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất
yếu và tăng tương ứng với thời gian lao động thặng dư với độ dài ngày lao động không thay đổi, dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động XH. Việc tăng năng suất lao động xã hội, trứơc hết ở các
ngành sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng, sẽ làm cho giá trị lao động giảm xuống do đó làm giảm thời gian lao động cần thiết.Khi độ dài ngày lao động không thay đổi,thời gian lao động cần
thiết giảm sẽ làm tăng thời gian lao động thặng dư- thời gian để sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối cho nhà TB để giành ưu thế trong cạnh tranh, để thu được nhiều giá trị thặng dư, các
nhà TB đã áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, cải tiến tổ chức sản xuất, hoàn thiện phương pháp quản lý kinh tế, nâng cao năng suất lao động. Kết quả là giá trị cá biệt của hàng
hoá thấp hơn giá trị XH.Nhà TB nào thực hiện điều đó thì khi bán hàng hố của mình sẽ thu đượ
c 1 số giá trị thặng dư trội hơn so với các nhà TB khác. - Phần giá trị thặng dư thu được trội hơn giá trị thặng dư bình thường của XH được gọi là
giá trị thặng dư siêu ngạch. Xét từng đơn vị sản xuất TBCN, giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, cục bộ.
Nhưng xét trên phạm vi toàn XH TB, giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường xuyên. Vì vậy giá trị thặng dư siêu ngạch là một động lực mạnh nhất thúc đảy các nhà TB ra
sức cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động. - Giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối đều dựa trên cơ sở tăng năng
suất lao động. Cái khác nhau là ở chỗ giá trị thặng dư tương đối thì dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động XH, còn giá trị thặng dư siêu ngạch thì dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động cá
biệt.
2. So sánh sự giống và khác nhau của giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối
Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối đề
u có cái chùn giống nhau về mục đích là làm cho thời gian lao động thặng dư được kéo dài ra. Nhưng chúng vẫn có sự khác nhau về giả thiết, biện pháp và kết quả..
Câu 6: Thế nào là tuần hoàn và chu chuyển của TB? Những biện pháp làm tăng tốc độ chu chuyển của TB?
1.Tuần hoàn của TB
Mọi TB sản xuất trong quá trình vận động đều trải qua 3 giai đoạn, tồn tại dưới 3 hình thức, thực hiện 3 chức năng:
GĐ1: TB mang hình thức tiền tệ, thực hiện các chức năng mua các yếu tố sản xuất tư liệu sản xuất và sức lao động.
GĐ 2: TB mang hình thức TB sản xuất, thực hiện chức năng sản xuất ra hàng hoá và tạo ra giá trị thặng dư.
GĐ 3: TB mang hình thức TB hàng hố với chức năng thực hiện giá trị và giá trị thặng dư.
T-H …Sản xuất….
H-T

Giai đoạn 1 Giai đoạn 2
Giai đoạn 3 - Sự vận động của TB qua 3 giai đoạn, tồn tại dưới 3 hình thức, thực hiện 3 chức năng rồi
quay về hình thức xuất phát của nó gọi là tuần hoàn của TB.

2. Chu chuyển của TB


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (60 trang)

×