1. Trang chủ >
  2. Giáo Dục - Đào Tạo >
  3. Cao đẳng - Đại học >

Với Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (344.48 KB, 18 trang )


Về sau này, một số tác giả bắt đầu nghiên cứu thêm nhóm các nước ở châu Á. Kết quả nghiên cứu cũng không khác mấy so với kết quả từ các nghiên cứu trước
đó đối với nhóm OECD hay G7. Cụ thể, ở một số nước như Nhật, Thái Lan, Sri Lanca, Philippines, và Indonesia, lạm phát và năng suất khơng hề có quan hệ gì với
nhau. Ở một số nước khác như Malaysia, lạm phát có tác động tiêu cực đến năng suất. Ở những nước như Hàn Quốc, Ấn Độ, và Singapore, 2 biến số này tác động lẫn nhau.
Căn cứ vào kinh nghiệm của những quốc gia như nêu trên, có thể rút ra một số bài học cho Việt Nam liên quan đến MTLP ở ta như hiện nay: Ảnh hưởng của lạm phát là
không rõ ràng lên tăng trưởng kinh tế.
Theo nghiên cứu của một số nhà kinh tế học thì lạm phát và tăng trưởng có mối quan hệ phi tuyến tính:
-Lạm phát chỉ tác động tiêu cực lên tăng trưởng khi đạt ngưỡng nhất định nào đóthreshold.
+Dấu hiệu bất ổn kinh tế vĩ mô. +Tăng sự không chắc chắn của các hoạt động đầu tư.
+Lạm phát làm thay đổi giá cả tương đối,làm méo mó q trình phân bổ
nguồn lực. +Lạm phát còn được xem như là một loại thuế đánh vào nền kinh tế.
-Ở mức dưới ngưỡng,lạm phát không nhất thiết tác động tiêu cực lên tăng trưởng,thậm chí có thể tác động dương như lý thuyết của Keynes đã đề cập.

3.1.3 Với Việt Nam


a-Mục tiêu và chính sách tăng trưởng của Việt Nam năm 2008: Về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2008, báo cáo của Bộ Kế hoạch và
Đầu tư đưa ra dự kiến GDP tăng từ 8,6-8,9 so với năm 2007; tổng giá trị GDP khoảng 83 tỉ USD, bình quân đầu người tương đương khoảng 956-960 USD, giảm tỉ
lệ hộ nghèo xuống còn 13...
Để hồn thành các mục tiêu này, Thủ tướng đặc biệt nhấn mạnh 8 nhóm giải pháp cần tập trung thực hiện. Trước hết là huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát
triển, đặc biệt là đầu tư cho cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội. Đây là yếu tố có ý nghĩa quyết định cho tăng trưởng.
Về điều hành vĩ mô, phải giữ cho được ổn định tỷ giá, chỉ số giá tiêu dùng phải thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế và không vượt mức 8; tiếp tục đổi mới doanh
nghiệp nhà nước, phát triển khu vực doanh nghiệp tư nhân; đẩy mạnh công tác cải cách hành chính; tập trung quy hoạch và phát triển đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng
yêu cầu của thời kỳ hội nhập; tăng cường xã hội hoá trong các lĩnh vực y tế, giáo dục và giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội, trong đó ưu tiên xố đói giảm nghèo;
tăng cường an ninh quốc phòng và đấu tranh phòng chống tham nhũng lãng phí.
b- Lạm phát và chính sách kiềm chế lạm phát của chính phủ và ngân hàng nhà nước:
Những chính sách trợ giá thiếu hiệu quả của nhà nước hiện nay tạo nên một “thuế lạm phát” tác động trực tiếp vào những người nghèo, vơ hình chung giúp người
giàu “bóc lột” người nghèo một cách hợp pháp làm cho phân hóa giàu nghèo trở nên trầm trọng hơn.
Tình hình lạm phát hai tháng cuối năm và những tháng đầu năm có thể tiếp tục tăng cao do cung tiền đô-la tiếp tục tăng cao do lượng ngoại hối sẽ được các Việt
Kiều mang về nước tiêu xài trong dịp cuối năm và Tết âm lịch cộng với giá dầu tăng cao sẽ làm cho tình hình lạm phát ngày càng trầm trọng hơn.
Theo tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, để đạt được mục tiêu “lạm phát thấp hơn tốc độ tăng trưởng” mà trên thực tế khơng hề có cơ sở khoa học vững chắc thì khi lạm
phát tăng, Chính phủ chỉ có thể có một trong hai lựa chọn: Một là kiềm chế lạm phát bằng cách giảm tốc độ tăng cung tiền và tín dụng đặc biệt là đối với các doanh
nghiệp nhà nước kém hiệu quả, đồng thời giảm bớt chi tiêu của Chính phủ bằng cách tăng hiệu quả chi tiêu, giảm lãng phí và thất thốt, hay thậm chí phải điều chỉnh
lãi suất. Hai là phải dồn sức đẩy mạnh tăng trưởng để “đuổi kịp” lạm phát.
Có vẻ như cho đến thời điểm này, phương án 1 chưa phải là lựa chọn của Chính phủ; còn phương án 2 nếu được thực hiện sẽ chỉ tiếp tục đổ thêm dầu vào ngọn
lửa lạm phát. Dưới góc độ quản lý nhà nước, không nên để một mục tiêu thiếu cơ sở khoa học như thế này trở thành một chiếc “vòng kim cơ” trói buộc các nhà điều hành
vĩ mơ.
Hiện nay chưa tìm thấy căn cứ khoa học cho luận điểm nêu trên, do đó, chúng ta khơng nên tự ràng buộc mục tiêu lạm phát vào một giới hạn khá dễ dãi
khoảng 8, để rồi lại bị cuốn vào nỗi lo con rồng sẽ giật đứt dây xích như hiện nay” Những diễn biến thực tế của nền kinh tế Việt Nam hiện nay cho thấy mục tiêu
“lạm phát thấp hơn tăng trưởng” đang trên đà “phá sản”, việc tiếp tục theo đuổi chính sách bất hợp lý và thiếu cơ sở khoa học vững chắc này sẽ làm cho tình trạng lạm phát
ngày càng trầm trọng hơn.
Hơn bao giờ hết phương án: hy sinh tốc độ tăng trưởng bằng cách giảm cung tiền và tín dụng đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhà nước để giảm lạm phát cần
được chính phủ lưu tâm đến. Nếu khơng với tốc độ lạm phát tăng cao trong những tháng cuối năm sẽ tiếp
tục tăng cao và khi mà dân nghèo khơng thể mua “ổ bánh mì” thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định xã hội.
. Chính vì mối quan hệ này, trong khi không thể cùng thực hiện cả hai mục tiêu, muốn ưu tiên mục tiêu nào, các chuyên gia đã dùng các cụm từ “hy sinh mục tiêu
tăng trưởng cho mục tiêu kiềm chế lạm phát” hay “hy sinh mục tiêu kiềm chế lạm phát cho mục tiêu tăng trưởng” để nói về chính sách kinh tế - tài chính của một nước
3.2 Giải pháp: Nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng cũng như tác động của
lạm phát tới đời sống kinh tế - xã hội là việc làm cần thiết để có thể xác định cho riêng quốc gia mình một chính sách kiểm sốt lạm phát phù hợp. Điều cần khẳng định ở
đây là khơng có liệu pháp nào hồn hảo, mọi liệu pháp bình ổn lạm phát đều có cái giá phải trả của nó, vấn đề là chính phủ đang theo đuổi một chiến lược phát triển vĩ mô
nào?
Ngành ngân hàng đang trở thành tâm điểm thực hiện các giải pháp kiềm chế lạm phát thời gian qua. Trong những giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ,
chính sách tiền tệ là một trọng tâm. Tiến sĩ Dương Thu Hương, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam đã trao đổi về những tác động của chính sách tiền tệ đến hoạt
động của các ngân hàng nói riêng cũng như kiềm chế lạm phát nói chung. Ngân hàng thực tế cũng là các doanh nghiệp, họ có vốn thì họ đầu tư, đó là chuyện đương nhiên.
Nhưng sự đầu tư ấy ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mơ, nên Nhà nước phải có chính sách để kiểm sốt. Vào những lúc khó khăn như thế này, càng phải đặt lợi ích quốc
gia lên trên hết, vì thế cần buộc hoạt động ngân hàng phải ở trong một khn khổ.
Sự tăng trưởng tín dụng quá nóng của các ngân hàng đã dẫn đến thiếu hụt thanh khoản, các ngân hàng bộc phát tăng lãi suất để thu hút tiền gửi, tăng lượng tiền
mặt. Vì vậy, cuộc chạy đua lãi suất đã được phanh lại, hình thành mặt bằng lãi suất chung là 12năm và sẽ giảm dần. Nhưng các kỳ hạn vẫn còn nơi cao nơi thấp. Dù
sao, trước mắt ổn định mặt bằng chung đã là thành cơng, còn khấp khểnh ở bên trong cần phải có thời gian. Trong kinh tế thị trường, lãi suất như một giá cả, lúc lên lúc
xuống, vì hồn cảnh lạm phát, thị trường đang có vấn đề, nên cần bàn tay can thiệp của Nhà nước. Theo tôi, mức lãi suất 12năm đã là dương rồi, tăng trưởng tín dụng
30 cũng khơng phải là thấp, vẫn bảo đảm được kế hoạch phát triển cho các ngân hang
Trước tình trạng lạm phát cao như thế này, theo lý thuyết kinh điển là phải hút ngay tiền về. Quốc gia nào trong tình thế này cũng đều xử lý như vậy và chúng ta
đã làm theo phương pháp đó. Phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, tăng dự trữ bắt buộc đều là động tác để hút tiền về, giảm bớt áp lực giữa tiền và hàng. Hay giải
pháp nâng lãi suất để hạn chế tăng trưởng tín dụng, có nghĩa là cũng hạn chế nguồn cung tiền. Mặc dù Chính phủ đã nhanh chóng đưa ra các biện pháp kiềm chế lạm phát
nhưng khơng phải nó có thể ngay lập tức mang lại hiệu quả mà cần có thời gian, ít nhất từ nay đến cuối năm.
Cũng cần phải thấy rằng, nếu chỉ đơn phương một mình chính sách tiền tệ thì khơng thể kiềm chế lạm phát nổi, mà phải có sự tham gia của chính sách tài chính,
đầu tư thậm chí cả chính sách thương mại nữa. Cùng kết hợp nhiều chính sách vĩ mơ hướng đến mục tiêu kiểm sốt lạm phát thì mới có thể đạt hiệu quả mong muốn.
- Nhìn chung các chính sách kiểm sốt sự phát triển bao giờ cũng ảnh hưởng đến các đối tượng của nền kinh tế. Các ngân hàng thương mại không thể cho vay thoải
mái như ngày xưa, tất nhiên sẽ nảy sinh tâm lý khó chịu khi bị nhà nước kiểm sốt,
nhưng đó là những hành động cần thiết trong hoàn cảnh này. Nếu khơng làm nghĩa là chúng ta tự hại mình, bao nhiêu công lao xây dựng đất nước, phát triển kinh tế sẽ bị
ngọn lửa lạm phát thiêu rụi.
Trong lúc này cũng khơng thể cầu tồn được, khó có đòi hỏi một lúc thực hiện cả hai mục tiêu vừa tăng trưởng kinh tế cao, vừa kiềm chế được lạm phát. Nếu từ
giờ đến cuối năm, tình hình lạm phát khơng dịu đi thì tăng trưởng chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng.
- Cho đến Công văn 319 của Thủ tướng Chính phủ thì đã là giải pháp trọn gói. Trước kia chỉ chính sách tiền tệ sợ rằng khơng đủ, bây giờ Chính phủ đã đi một
cách tồn diện rồi. Nhưng để có hiệu quả thì khâu thực hiện phải đi liền với chính sách, nếu như tất cả các bộ, các ngành đều có ý chí kiềm chế lạm phát quyết liệt, thậm
chí ở địa phương cũng phải có tư duy kiềm chế lạm phát thì Cơng văn 319 mới có hiệu quả. Ví dụ như Chính phủ quyết định rà sốt lại các cơng trình đầu tư, địa
phương cũng phải thực hiện kiên quyết, những dự án nào khơng hiệu quả, kéo dài, dứt khốt khơng đưa tiền vào nữa.
Lạm phát đã đi sâu vào mọi ngóc ngách của đời sống, ảnh hưởng sâu rộng tới các tầng lớp người dân, vì thế mà tất cả mọi người đều phải thấy phần trách nhiệm
của mình trong đó. - Ảnh hưởng của sức ép từ bên ngồi là khơng thể kiểm sốt được, chỉ có thể
kiểm sốt bên trong thơi. Nhưng nếu chính sách kiềm chế lạm phát thực hiện tốt, mặt bằng giá trong nước ổn định thì tác động bên ngồi khơng thể cộng hưởng mà sẽ được
hạn chế đi. Bên ngồi đã khơng kiểm sốt được mà bên trong cũng bùng lên thì hậu quả sẽ rất khó lường.
Cũng phải nhìn nhận rằng, năm 2007 chưa lúc nào vốn đầu tư nước ngoài vào nhiều như vậy. Khi ngoại tệ đổ vào, chúng ta phải xuất tiền ra để chuyển đổi,
càng đưa tiền ra thì lạm phát càng lên. Vì vậy, cần phải giải quyết câu hỏi: Thơng qua những chính sách kinh tế vĩ mơ nào chúng ta hấp thụ lượng vốn đó như thế nào?
Thời điểm này, số lượng ngân hàng nhiều hơn, hệ thống ngân hàng phát triển hơn, thực hiện tự do hóa thương mại do vậy khó có thể sử dụng biện pháp hành chính,
cũng như khơng thể kiểm sốt nhập khẩu được, mà phải theo thị trường, do thị trường quyết định, theo quy luật của kinh tế thị trường. Sự điều tiết của Nhà nước chỉ thực
hiện ở chính sách kinh tế vĩ mơ. Chính vì vậy chúng ta nên tập trung vào thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô. Thay đổi theo hướng đúng như lý thuyết đã nêu, nghĩa là
càng lạm phát thì càng phải thắt chặt tài chính-tiền tệ, thắt chặt chi tiêu cơng. Từng giai đoạn một phải đặt ra một mục tiêu, ví dụ năm nay lạm phát chỉ 5, thì ngân hàng,
tài chính và các ngành khác phải theo cái đích đó. Trước nay chúng ta vẫn đặt ra mục tiêu nhưng đến khi thực hiện lại khơng thống nhất.
Thực tế thì đợt lạm phát lần này đã bắt đầu từ những năm 2003-2004, có năm lạm phát đến 9,6 nhưng lúc đó chính sách tiền tệ của chúng ta chưa làm quyết liệt,
còn chậm, nên những gì của thời gian ấy dồn tích đến năm 2007 và đã bục ra. Năm 2006 mọi người cảm thấy đất nước đang đứng trên “đỉnh cao”, chúng ta đã vui vẻ quá
trước thành công.
Phải nhìn nhận một kinh nghiệm hết sức quan trọng là: Ngay cả khi thắng lợi cũng phải suy nghĩ cho tương lai, để có được dự báo đúng, từ đó mà đưa ra những
quyết định đúng đắn, phù hợp thực tiễn
MỤC LỤC: Tài liệu tham khảo
Kinh tế vĩ mô 6 tháng năm 2008 Ngân Hàng Đầu Tư Phát Triển Việt
NamBIDV Tình hình kinh tế xã hội năm 2007-Tổng Cục Thống Kê
http:www.gso.gov.vndefault.aspx?tabid=507ItemID=6894 Tình hình kinh tế xã hội 6 tháng năm 2008-Tổng Cục Thống Kê
http:www.gso.gov.vndefault.aspx?tabid=507ItemID=7221
Lý giải một nguyên nhân lạm phát năm 2007
http:www.vietnamnet.vnkinhte200712761574

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (18 trang)

×