1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Công nghệ thông tin >

Chuyển tiếp nội bộ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (437.19 KB, 41 trang )


hiện tại. Khoảng thời gian ưu tiên và tranh chấp gồm hai giai đoạn lắng nghe được phân tách với nhau bởi một giai đoạn truyền dẫn mẫu truy nhập, mỗi giai đoạn có
độ dài khác nhau. Việc chỉ sử dụng một giai đoạn truyền dẫn làm giảm phần thông tin phụ thực hiện chuyển mạch vô tuyến. Điều này giải thích tại sao các khe ưu tiên
được xây dựng dựa trên cơ sở các số thập phân mà không phải là các số nhị phân mà trong trường hợp này cần ít các khe thời gian hơn.
Q trình đồng bộ hoá được thực hiện bằng cách ép các mẫu truy nhập bắt đầu sau khi kết thúc một quá trình truyền dẫn gói.
Nếu mơi trường truyền dẫn là rỗi trong khoảng nhỏ nhất 2000 bit, EY- NPMA cho phép truy nhập tức thì mà khơng u cầu phải truyền dẫn một mẫu truy
nhập. Giống như 802.11 các gói unicast được xác nhận trong khi các gói broadcast và multicast không được xác nhận.

2.5.4 Chuyển tiếp nội bộ


Một điểm hay trong giao thức MAC là nó cho phép chuyển tiếp các gói giữa các nút kề cận sử dụng các thuật tốn chuyển tiếp gói và phát hiện đường dẫn, quá
trình này gọi là chuyển tiếp nội bộ. Chuyển tiếp nội bộ cho phép các bản tin đã gửi tới các nút khơng có kết nối vơ tuyến trực tiếp được chuyển tới các nút khác. Đặc
điểm này chiếm ưu thế so với đặc tính vùng phủ hạn chế của các mạng WLAN độc lập và cho phép một mạng WLAN có thể được mở rộng mà khơng cần các điểm
truy nhập, hay một mạng đường trục hữu tuyến. Với cơ chế chuyển tiếp nội bộ, việc bổ sung thêm nút mới vào mạng thực sự làm cải thiện độ tin cậy của q trình
truyền dẫn một gói dữ liệu bởi vì nó có thể được định tuyến tới nút đích thơng qua nhiều đường truyền hơn. Trong các điều kiện truyền sóng khơng có lợi, thuật tốn
chuyển tiếp nội bộ cho phép mạng HIPERLAN có thể được chia thành các mạng con nhỏ hơn, mỗi mạng con có một vùng phủ hẹp hơn. Vì thế, thuận lợi của mạng
HIPERLAN Type I là ở khả năng thích nghi với những thay đổi về cấu hình và khả năng tái định tuyến các gói khi có một vài đường truyền vơ tuyến bị hỏng. Ở đây
không thể bắt buộc một quá trình nhận dạng duy nhất đối với nhiều mạng vơ tuyến độc lập khác nhau vì sẽ rất khó khăn khi thực hiện phối hợp cho thuộc tính nhận
dạng này.
Thuật toán chuyển tiếp nội bộ cho phép một nút chuyển tiếp một gói dữ liệu vào hai chế độ có thể được: chế độ phát điểm đến điểm và phát quảng bá. Để làm
được điều này, mỗi nút chuyển tiếp duy trì một bảng định tuyến và một tập các chuyển tiếp đa điểm. Bảng định tuyến xác định đích khả dụng, địa chỉ của nút
chuyển tiếp gần nhất đến đích và độ dài đường truyền. Vì vậy, mỗi gói dữ liệu chứa hai địa chỉ: địa chỉ đích cuối cùng và địa chỉ chuyển tiếp kề cận. Các nút chuyển
tiếp này tối thiểu hoá số lượng các nút thực hiện chuyển tiếp các gói quảng bá bằng việc sử dụng những ưu điểm của quá trình truyền dẫn vơ tuyến quảng bá. Mỗi gói
quảng bá khi phát qua một nút chuyển tiếp cho trước sử dụng cùng một cơ chuyển tiếp đa điểm. Một nút không phải là nút chuyển tiếp đa điểm khơng thực hiện
chuyển tiếp gói quảng bá mà nó thu được từ các nút khác. Các địa chỉ chuyển tiếp đa điểm là không tường minh trong gói. Hơn thế nữa, trường địa chỉ kề cận được
30
thay thế bằng địa chỉ quảng bá cơ sở. Các chuyển tiếp đa điểm được chọn dựa trên một tập hợp nhỏ nhất của các nút chuyển tiếp mà nó bao phủ tồn bộ các nút ở xa
nằm giữa hai chặng tính từ nút chuyển tiếp. Điều này tạo ra một quá trình phân cấp hai mức trong cấu hình mạng, ẩn đi những thay đổi trong các phần ở xa của mạng
đối với các nút nội bộ.
Để chuyển tiếp các gói, mỗi nút phải có khả năng phát hiện các nút lân cận khi có các đường truyền vơ tuyến trực tiếp và tin cậy. Do đặc tính truyền sóng
khơng dự đốn được của truyền dẫn vơ tuyến, mọi đường truyền phải được kiểm tra theo cả hai hướng trước khi chúng được xác định là hợp lệ. Các nút chuyển tiếp sử
dụng thuật toán từng chặng hop-by-hop, thuật tốn này được gọi ra mỗi khi nút có gói tin được phát. Thuật tốn này có một số thuận lợi:
• Tuyến được một gói sử dụng có thể sẵn sàng thích ứng với cấu hình
gần nhất trong khi nó được phát đi.

Phần tiêu đề của gói có đọ dài cố định và ngắn hơn nhiều khi so sánh với các gói sử dụng định tuyến nguồn.
Q trình chuyển tiếp đòi hỏi nút di động thực hiện các tính tốn khá kỹ lưỡng. Vì các nút di động bị giới hạn về nguồn điện, màn hình hiển thị, giới hạn về
tốc độ xử lý và bộ nhớ nên có thể là thích hợp hơn khi chuyển các tính tốn phức tạp này cho điểm truy nhập thực hiện, các điểm truy nhập này ít bị hạn chế hơn so
với các nút di động.

2.5.5 Nút ẩn


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (41 trang)

×