1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Kế toán >

Thế nào là tích luỹ t bản

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (182.32 KB, 30 trang )


Phần II:
Nội Dung
Chơng 1
: mộT Số Lí LUậN Về TíCH Luỹ TƯ BảN

1.1 Thế nào là tích luỹ t bản


1.1.1Các khái niệm có liên quan
1.1.1.1 Khái niện t bản Các nhà kinh tế học thờng nói rằng, mọi công cụ lao đông, mọi t liệu sản
xuất đều là t bản. Định nghĩa nh vậy nhằm mục đích che dấu thực chất việc nhà t bản bóc lột công nhân làm thuê, t bản tồn tại vĩnh viễn, không thay đổi của hết
thảy mọi hình thái xã hội. Thực ra bản thân t liệu sản xuất không phải là t bản, nó chỉ là điều kiện
cần thiết của sản xuất trong bất cứ xã hội nào. T liệu sản xuất chỉ trở thành t bản khi nó trở thành tài sản của nhà t bản, và đợc dùng để bóc lột lao dộng làm thuê.
Khi chế độ t bản bị xoá bỏ thì t liệu sản xuất không còn là t bản nữa. Nh vậy, t bản không phải là một quan hệ sản xuất xã hội nhất định giữa ngời và ngời
trong quá trình sản xuất, nó có tính lịch sử. Qua nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng d ta có thể định nghĩa: T
bản là giá trị đem lại giá trị thặng d bằng cách bóc lột công nhân làm thuê. T bản thể hiện quan hệ sản xuất giữa giai cấp t sản và vô sản trong đó các nhà t
bản là ngời sở hữu t liệu sản xuất và bóc lột công nhân làm thuê -ngời tạo ra giá trị thặng d cho họ. Quan hệ sản xuất này cũng giống các quan hệ sản xuất khác
của xã hội t bản đã bị vật hoá. 1.1.1.2 Khái niệm tích luỹ t bản
Tích luỹ t bản là biến một phần giá trị thặng d thành t bản phụ thêm t bản mới.
Trang4
Muốn mở rộng sản xuất nhà t bản không thể tiêu dùng hết giá trị thặng d mà chia thành 2 phần :một phần tích luỹ để mở rộng sản xuất, một phần để tiêu
dùng cá nhân và gia đình nhà t bản.
Ta sẽ làm sáng tỏ hơn về khái niệm tích luỹ sau khi đi nghiên cứu các vấn đề sau.
1.1.2 Thực chất của tĩch luỹ t bản
1.1.2.1 Tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng Dù hình thái xã hội của quá trình sản xuất là nh thế nào đi nữa, thì bao
giờ đó cũng phải có tính chất liên tục hay cứ từng chu kì một, phải không ngừng trải qua cũng những giai đoạn ấy. Xã hội không thể ngừng tiêu dùng, thì xã hội
cũng không thể ngừng sản xuất. Vì vậy xét trong mối liên hệkhông ngừng và trong tiến trình không ngừng của nó, mọi quá trình sản xuất xã hội đồng thời
cũng là quá trình tái sản xuất. Nhng điều kiện của sản xuất đồng thời cũng là những điều kiện của tái
sản xuất. Không một xã hội nào có thể sản xuất không ngừng tức là tái sản xuất, mà lại không liên tục chuyển hoá lại một phần sản phẩm nhát đinh của nó thành
t liệu sản xuất, hay thành những yếu tố của quá trình sản xuất mới. Nếu sản xuất mang hình thái TBCN thì tái sản xuất cũng mang hình thái đó. Qúa trình
lao động trong phơng thức sản xuất TBCN chỉ là một phơng tiện cho quá trình tăng thêm giá trị, thì tái sản xuất cũng vậy nó cũng chỉ là một phơng tiện để tái
sản ra giá trị ứng trớc với t cách là t bản , tức là với t cách là giá trị tự tăng thêm giá trị. Một ngời nào đó sở dĩ mang cái mặt lạ kinh tế đặc trng của nhà t bản thì
đó chỉ là vì tiền của anh ta không ngừng hoạt động với t cách là t bản. Và giá trị thặng d anh ta thu đuợc mang hình thức một thu nhập do t bản đẻ ra. Nếu nh thu
nhập đó chỉ đợc dùng làm quĩ tiêu dùng cho nhà t bản, hay nếu nh nó cũng đợc tiêu dùng theo từng chu kì giống nh ngời ta đã kiếm đợc nó thì trong những điều
kiện khác không thay đổi, sẽ chỉ diến ra có tái sản xuất giản đơn thôi.
Trang5
Tái sản xuất là quá trình sản xuất đợc lắp đi lắp lại không ngừng với qui mô năm sau lớn hơn năm trớc. Muốn tái sản xuất mở rộng nhà t bản phải mua
thêm t liệu sản xuất, thuê thêm công nhân do đó giá trị thặng d tích luỹ đợc phải
chia làm hai phần: Một phần để thuê thêm công nhân, một phần để mua thêm t liệu sản xuất.
Tái sản xuất giản đơn không phải là hình thái điển hình của CNTB. Hình thức tiến hành của CNTB là tái sản xuất mở rộng. Tái sản xuất ra của cải vật
chất, quan hệ sản xuất, sức lao động của con ngời, môi trêng sèng cđa con ngêi. 1.1.2.2 TÝch l t b¶n là tái sản xuất ra t bản với quy mô ngày càng mở
rộng t bản hóa giá trị thặng d. Thực chất của tích luỹ t bản là t bản hoá giá trị thặng d. Xét một cách cụ
thể, tích luỹ t bản là tái sản xuất ra t bản với quy mô ngày càng mở rộng. ở đây chúng ta không xét giá trị thặng d và tơng ứng với nó là sản phẩm
thặng d, chỉ với t cách là quỹ tiêu dùng cá nhân của nhà t bản mà chúng ta xét nó với t cách là quỹ tích luỹ. Thật ra giá trị thặng d không phải là quỹ tiêu dùng
và cũng không phải chỉ là quỹ tích luỹ, mà là cả hai. Một phần giá trị thặng d đ-
ợc nhà t bản tiêu dùng với t cách là thu nhập còn phần khác thì đợc nhà t bản dùng làm t bản, hay đợc tích luỹ lại.
Muốn tích luỹ, cần phải biến một phần sản phẩm thặng d thành t bản. Nhng nếu không phải là có phép lạ thì ngời ta chỉ có thể biến thành t bản những
vật nào dùng đợc vào quá trình lao động tức là những t liệu sản xuất, và sau đó là những vật phẩm có thể nuôi sống công nhân, tức là những t liệu sinh hoạt. Do
đó, một phần lao động thặng d hàng năm phải dùng để sản xuất thêm một số t liệu sản xuất và t liệu sinh hoạt ngoài số cần thiết để hoàn lại t bản đã ứng ra.
Nói tóm lại, sở dĩ giá trị thặng d có thể biến thành t bản là chỉ vì sản phẩm thặng d - mà giá trị của nó là giá trị thặng d-đã bao gồm các yếu tố vật thể của
một t bản mới rồi.
Trang6
Nghiên cứu tích luỹ và tái s¶n xt më réng t b¶n ta cã thĨ rót ra hai kết luận vạnh rõ hơn bản chất của quan hƯ s¶n xt t b¶n chđ nghÜa:
+Ngn gèc duy nhất của t bản tích luỹ là giá trị thặng d và t bản tích
luỹ chiếm một tỷ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ t bản. C.MAC nói rằng: t bản ứng trớc chỉ là giọt nớc trong dòng sông tích luỹ mà thôi
+Qúa trình tích luỹ đã làm cho quyền sở hữu trong nền sản xuất hàng hoá biến thành quyền chiếm đoạt t bản chủ nghĩa. Việc trao đổi giữa ngời lao
động và nhà t bản dẫn đến kết quả là nhà t bản chẳng những chiếm một phần lao động của ngời công nhân, mà còn là ngời sở hữu hợp pháp lao động không
công đó. Nh vậy đã có sự thay đổi căn bản trong quan hệ sở hữu. Nhng sự vi phạm đó không vi phạm qui luật giá trị.
1.1.3 Động cơ của tích luỹ t bản 1.1.3.1 Tích luỹ t bản là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa t bản
Với một khối lợng giá trị thặng d nhất định, một trong hai phần tích luỹ, tiêu dùng đó càng lớn thì phần kia càng nhỏ. Nếu những điều kiện khác không
thay đổi thì tỉ lệ phân chia đó quyết định đại lợng tích luỹ. Nhng kẻ thực hiện s phân chia đó là ngời sở hữu giá trị thặng d, tức là nhà t bản. Nh vậy, nó là mét
hµnh vi phơ thc vµo ý chÝ cđa nhµ t bản. Về cái phần của món cống vật đó do hắn thu đợc và đợc hắn đem tích tuỹ, thì ngời ta nói rằng nhà t bản đã tiết kiệm
phần đó, bởi vì hắn không ăn tiêu nó đi, nghĩa là hắn làm cái chức năng của hắn là nhà t bản, cụ thể là chức năng làm giàu.
Chỉ chừng nào nhà t bản là t bản nhân cách hoá, thì nhà t bản mới có một giá trị lịch sử và mới có cái quyền lịch sử đợc tồn tại và chỉ trong chừng mực ấy
tính tất yếu nhất thời của bản thân hắn mới đợc bao hàm trong tính yếu nhất thời của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa. Nhng trong chừng mực ấy thì
động cơ của nhà t bản không phải là giá trị sử dụng và hởng thụ mà là giá trị trao đổi và việc làm tăng thêm giá trị trao đổi. Là một kẻ cuồng tín việc làm
Trang7
tăng thêm giá trị, nhà t bản thẳng tay cỡng bức loài ngời sản xuất để sản xuất, do đó hắn cỡng bức họ phải phát triển những lực lợng sản xuất xã hội và tạo ra
những điều kiện sản xuất vật chất, mà chỉ một mình những điều kiện này mới
có thể hình thành cái cơ sở hiện thực của một hình thái xã hội cao hơn, một hình thái xã hội mà nguyên tắc cơ bản là mọi cá nhân đều đợc phát triển đầy đủ
và tự do. Nhà t bản chỉ đáng kính trọng chừng nào hắn còn là sự hiện thân của t bản. Với t cách này, hắn chia sẻ sự say mê tuyệt đối muốn làm giàu với kẻ tích
luỹ của cải. Những cái mà ngời này chỉ là một thói cá nhân, thì đối với nhà t bản nó lại là tác động của một bộ máy xã hội trong đó nhà t bản chỉ là một
chiếc bánh xe. Ngoài ra, sự phát triển của nền sản xuất t bản chủ nghĩa làm cho sự tăng thêm không ngừng cuả một số t bản bỏ vào một xí nghiệp, công nghiệp
trở thành một sự tất yếu, và cạnh tranh làm cho những quy luật bên trong của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa trở thành những quy luật bên ngoài có tính
chất cỡng chế đối với mỗi nhà t bản cá biệt. Cạnh tranh buộc nhà t bản không ngừng mở rộng t bản để giữ đợc t bản, và hắn chỉ có thể mở rộng t bản cuả mình
bằng cách tích luỹ ngày càng nhiều hơn mà thôi. 1.1.4 Các nhân tố ảnh hởng tới qui mô của tích luỹ t bản
Với một khối lợng giá trị thặng d nhất định thì qui mô của tích luỹ phụ thuộc vào tỉ lệ phân chia khối lợng giá trị thặng d đó thành quỹ tiêu dùng của
nhà t bản. Nếu tỉ lệ phân chia đó đã có sẵn thì rõ ràng đại lợng của t bản tích luỹ sẽ do đại lợng tuyệt đối của giá trị thặng d quyết định. D o đó những nhân tố
quyết định quy mô của tích luỹ chính là những nhân tố quyết định quy mô của gía trị thặng d. Những nhân tố đó là :
1.1.4.1 Mức ®é bãc lét søc lao ®éng N©ng cao møc ®é bóc lột sức lao động bằng cách cắt xén vào tiền công.
Khi nghiên cứu sự sản xuất ra giá trị thặng d, C.MAC giả định rằng s trao đỏi giữa công nhân và nhà t bản là sự trao đổi ngang giá. Nhng trong thực tế, công
Trang8
nhân bị nhà t sản chiếm đoạt một phần lao động tất yếu, bị cắt xén một phần tiền công. Việc cắt xén tiền công giữ vai trò quan trọng trong quá trình tích luỹ
t bản.
Nâng cao mức độ bóc lột bằng cách tăng cờng độ lao động và kéo dài ngày lao động. Việc tăng cờng độ lao động và kéo dài ngày lao động rõ ràng
làm tăng thêm giá trị thặng d, do đó làm tăng bộ phận giá trị thặng d đợc t bản hoá tức là làm tăng tích luỹ.Anhr hởng này còn thể hiện ở chỗ số lợng lao động
tăng thêm mà nhà t bản chiếm không do tăng cờng độ lao động và kéo dài ngày lao động không đòi hỏi phải tăng thêm t bản một cách tơng ứng không đòi hỏi
phải tăng thêm số lơng công nhân, tăng thêm máy móc thiết bị, mà hầu nh chỉ cần tăng thêm s hao phí nguyên liệu
1.1.4.2 Trình độ năng suất lao động V iệc nâng cao năng suất lao động làm tăng thêm giá trị thặng d, do đó
tăng thêm bộ phận giá trị thặng d đợc t bản hóa. Song vấn đề ở đây là tích luỹ không chỉ đợc quyết định bởi khối lợng giá trị thặng d, mà còn bởi khối lợng t
liệu sản xuất và t liệu tiêu dùng do khối lợng giá trị thặng d có thể chuyển hoá thành. Nh vậy, năng suất lao động tăng sẽ làm tăng thêm những yếu tố vật chất
để biến giá trị thặng d thành t bản mới. Do đó làm tăng quy mô của tích luỹ. Năng suất lao động cao thì lao động sống sử dụng đợc nhiều lao đọng
quá khứ hơn, lao động quá khứ đó lại tái hiện dới hình thái có ích mới, chúng làm chức năng t bản để sản xuất ra t bản càng nhiều, do đó mà quy mô của t bản
tích luỹ càng lớn. Nh vậy, năng suất lao động là nhân tố quan trọng quyết định quy mô của tích luỹ.
1.1.4.3 Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa t bản sử dụng và t bản tiêu dùng
T bản tăng lên thì sự chênh lệch giữa t bản đợc sử dụng và t bản đã tiêu dùng cũng tăng lên. Nói một cách khác: khối lợng giá trị và khối lợng vật thể
Trang9
của những t liệu lao động nh nhà xởng, máy móc, ống tiêu nớc, súc vật cày kéo, các thứ khí tài cúng tăng lên; những thứ đó, trong một thời kì dài hay ngắn,
những quá trình sản xuất thờng xuyên lắp đi lắp lại, đều hoạt động với quy mô
của chúng hay đợc dùng để đạt tới một hiệu quả có ích nhát định, nhng lại chỉ hao mòn dần dần, và do đó chỉ mất giá trị từng phần một, nghĩa là chỉ chuyển
giá trị ấy từng phần một vào sản phẩm mà thôi. Vì các t liệu lao động đợc dùng làm những cái tạo ra sản phẩm nhng lại không nhập thêm giá trị vào sản phẩm,
nghĩa là vì chúng đợc sử dụng toàn bộ nhng chỉ bị tiêu dùng từng phần thôi, cho nên nh đã nhắc trên kia, các t liệu đó phục vụ không công giống nh các lực lợng
thiên nhiên: nớc, hơi nớc, không khí, điện... nhng sự phục vụ không công đó của lao động quá khứ, đợc lao động sống nắm lấy và làm sống lại, đang đợc tích
luỹ lại cùng với quy mô ngày càng tăng của tích luỹ Lực lợng sản xuất xã hội càng phát triển, máy móc càng hiện đại, phần
giá trị của nó chuỷen vào sản phẩm trong từng thời gian càng ít, thì sự chênh lệch giữa t bản sử dụng và t bản bị tiêu dùng càng lớn. Do đó, t bản lợi dụng đợc
những thành tựu của lao động quá khứ càng nhiều. 1.1.4.4 Quy mô của t bản ứng trớc
Với trình độ bóc lột không đổi thì khối lợng giá trị thặng d sẽ do khối l- ợng công nhân bị bóc lột quyết định. Do đó, quy mô của t bản ứng trớc, nhất là
bộ phận t bản khả biến càng lớn, thì giá trị thặng d bóc lột đợc và quy mô tích luỹ cũng càng lớn.
1.2Các quy luật cuả tích luỹ t bản
1.2.1 Lợng cầu về sức lao động tăng cùng với tích luỹ t bản trong điều kiện kết cấu của t bản không đổi.
1.2.1.1Sự tăng lên của lợng cầu về sức lao động T bản tăng lên thì cũng tăng thêm bộ phận khả biến của nó hay bộ phận
đợc biến thành sức lao động. Gỉa dụ rằng, cùng với những điều kiện khác không
Trang10
thay đổi- nghĩa là để vận một khối lợng t liệu sản xuất hay t bản bất biến nhất định,bao giờ cũng cần một khối lợng sức lao động nh trớc ,thì rõ ràng là lợng
cầu về lao động và quỹ sinh hoạt của công nhân sẽ tăng lên một cách tỉ lệ với t
bản, và t bản tăng lên càng nhanh bao nhiêu thì lợng cầu đó cũng càng tăng lên nhanh bấy nhiêu. K hi quy mô tích luỹ có thể mở rộng đột ngột bằng cách chỉ
cần thay đổi sự phân chia giá trị thặng d hay sản phẩm thặng d thành t bản và thu nhập, vì những lẽ đó nên nhu cầu tích luỹ của t bản có thể vợt quá sự tăng
thêm cảu sức lao động hay số công nhân, lợng cầu về công nhân có thể vợt quá lợng cung về công nhân và vì thế tiền công có thể tăng lên. Vì mỗi năm ngời ta
sử dụng nhiều công nhân hơn năm trớc, nên sớm hay muộn ắt phải đến lúc mà nhu cầu của tích lũy bắt đầu vợt quá lợng cung bình thờng về lao động, và do đó
tiền công cũng sẽ tăng lên. Tích lũy t bản là làm tăng thêm giai cấp vô sản. 1.2.1.2 Sự tăng lên về tiền công không ngăn cản việc tăng tích lũy t
bản . Nh ta đã thấy, do bản chất của nó, tiền công đòi ngời lao động bao giờ
cũng phải cung cấp một số lợng lao động không công nhất định. Hoàn toàn không nói đến trờng hợp tăng tiền công trong trờng hợp giá cả lao động hạ
xuống...thì trong trờng hợp tốt nhất tăng tiền công cũng có nghĩa là giảm bớt về số lợng phần lao động không công mà ngời lao động phải cung cấp. Sự giảm bớt
này không bao giờ có thể đi đến mức đe doạ sự tồn tại của bản thân chế độ này. Theo cách nói của toán học, có thể nói rằng: đại lợng tích lũy là một biến số
độc lập, đại lợng tiền công là một biến số phụ thuộc, chứ không phải ngợc lại . Nếu khối lợng lao động không công do giai cấp công nhân cung cấp và
do giai cấp các nhà t bản tích lũy, lại tăng lên khá nhanh đến mức nó chỉ có thể biến thành t bản khi nào có một sự tăng thêm khác thờng của số lao động đợc
trả công, thì tiền công sẽ tăng lên, và nếu những điều kiện khác không thay đổi, thì lao động không công sẽ giảm xuống một cách tơng xứng. Nhng một khi sự
Trang11
giảm xuống này chạm tới cái điểm mà ở đấy lao động thặng d nuôi dỡng t bản không còn cung cấp với một khối lợng bình thờng nữa, thì có ngay một sự phản
ứng :một phần ít hơn của thu nhập sẽ đợc t bản hoá, tích luỹ chững lại, và sự
vận động đi lên của tiền công sẽ bị đánh bật trở lại. Nh vậy, sự tăng lên của giá cả lao động không vợt quá những giới hạn bảo đảm không những giữ nguyên đ-
ợc những cơ sở của chế độ t bản chủ nghĩa mà còn đảm bảo cho tái sản xuất của chế độ đó đợc thực hiện với quy mô mở rộng.
1.2.2 Sự giảm bớt tơng đối bộ phận t bản khả biến trong tiến trình tích luỹ và tích tụ đi kèm theo tiến trình đó
Một khi đã có những có những cơ sở chung của chế độ t bản chủ nghĩa, thì trong tiến trình tích luỹnhất định sẽ đến lúc sự phát triển của năng suất lao
động xã hội trở thành đòn bẩy mạnh nhất của tích luỹ. Năng suất lao động tăng thể hiện ở việc giảm bớt khối lợng lao động so với khối lợng t liệu sản xuất mà
lao động đó làm cho hoạt động hay là thể hiện ở sự giảm bớt đại lợng của nhân tố chủ quan của quá trình lao động so với các nhân tố khách quan của quá trình
đó. Sù thay ®ỉi ®ã cđa kÕt cÊu kÜ tht cđa t bản, s tăng lên của khối lợng t
liệu sản xuất so với khối lợng sức lao động đang làm cho các t liệu sản xuất đó sống lại, lại phản ánh trở lại vào trong kết cấu giá trị của t bản, vào trong việc
tăng thêm bộ phận bất biến của giá trị t bản, bằng cách lấy vào bộ phận khả
biến của nó. Ví dụ: lúc đầu 50 của một t bản nào đó đợc chi cho t liệu sản xuất, còn 50 đợc chi cho sức lao động; sau đó cùng với sự phát triển của năng
suất lao động 80 đợc chi cho t liệu sản xuất và 20 đợc chi cho sức lao động...Các quy luật về s tăng lên của bộ phận bất biến của t bản so với bộ phận
khả biến, ở mỗi bớc đều đợc xác minh. Tuy vậy sự giảm bớt phần khả biến của t bản so với phần bất biến hay là
sự thay đổi kết cấu của t bản, chỉ nói lên một cách gần đúng sự biến đổi trong kÕt cÊu cđa c¸c bé phËn vËt chÊt cđa t bản mà thôi. Cùng với năng suất đã tăng
Trang12
lên của lao động thì không những khối lợng t liệu sản xuấtdo nó tiêu dùng tăng lên, mà giá trị của t liệu sản xuất so với khối lợng của nó lại còn giảm xuống
nữa. Nh vậy giá trị của t liệu sản xuất tăng lên một cách tuỵet đối, nhng không
tăng theo cùng tỉ lệ với khối lợng của nó. Vì vậy, sự chênh lệch giữa t bản bất biến và t bản khả biến tăng lên chậm hơn nhiều so với sự chênh lệch giữa khối
liệu t liệu sản xuất do t bản bất biến chuyển hoá thành, và khối lợng sức lao động do t bản chuyển hoá thành. Sự chênh lệch trên cũng tăng lên với sự chênh
lệch dới, nhng với một mức độ ít hơn. Vả lại nếu sự tiến bộ của tích luỹ làm giảm bớt đại lợng tơng đối của bộ phận t bản khả biến thì nh vậy tuyệt nhiên
không phải nó loại trừ sự tăng lên của đại lợng tuyệt đối của nó. Gỉa định rằng một giá trị t bản lúc đầu tự chia ra thành 50 là t bản bất biến và 50là t bản
khả biến, về sau lại chia thành 80 là t bản bất biến và 20là t bản khả biến. Nếu trong thời gian đó số t bản lúc đầu gồm 6000 chẳng hạn, đã tăng lên thành
18000 thì phần khả biến của nó đã tăng thêm. Trớc kia nó là 3000, bây giờ là 3600. Nhng, nếu trớc kia chỉ cần tăng t bản thêm 20là đủ để tăng lợng cầu về
lao động lên 20 thì bây giờ điều đó lại đòi hỏi phải tăng t bản lúc đầu lên gấp 3 lần.
Mọi t bản ®Ịu lµ sù tÝch tơ nhiỊu hay Ýt t liƯu sản xuất với một sự chỉ huy tơng ứng đối với một đội quân lao động. Với mọi tích luỹ đều trở thành phơng
tiện cho một tích luỹ mới.Tích tụ và tập trung t bản có quan hệ với nhau. Sự khác biệt này không chỉ về chất mà còn khác nhau về mặt lợng. Tập trung t bản
tuy không làm tăng quy mô t bản xã hội nhng có vai trò rất lớn trong quá trình chuyển sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn TBCN và quá trình chuyển CNTB từ giai
đoạn thấp lên giai đoạn cao. 1.2.3 Việc sản xuất ngày càng nhiều nhân khẩu thừa tơng đối
1.2.3.1.Nhân khẩu thừa sản phẩm tất yếu của tích lũy
Trang13
Lợng cầu về lao động không phải do quy mô của tổng t bản quyết định mà do quy mô của bộ phận khả biến của t bản quyết định; cho nên cùng với sự
tăng lên của tổng t bản thì lợng cầu về lao động cũng dần dần giảm bớt đi chứ
không phải tăng lên theo tỉ lệ với sự tăng thêm của tổng t bản, nh chúng ta đã giả định trớc đây. Lợng cầu về lao động giảm xuống một cách tơng đối so với
đại lợng của tổng t bản và giảm xuống theo một cấp số ngày càng nhanh cùng với sự tăng lên của đại lợng ấy. Thật ra cùng với sự tăng lên của tổng t bản thì
phần khả biến của nó, hay sức lao động kết hợp vào nó, cũng tăng lên, nhng lại tăng lên theo một tỷ lệ không ngừng giảm sút.
Cùng với sự tích luỹ t bản do bản thân nó đẻ ra, nhân khẩu công nhân cũng sản xuất ra với một quy mô ngày càng lớn những phơng tiện làm cho họ
trở thành nhân khẩu thừa tơng đối là quy luật nhân khẩu thừa riêng của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa, cũng giống nh trên thực tế, mọi phơng thức sản
xuất đặc thù trong lịch sử đều có quy luật nhân khẩu đặc thù, có hiệu lực trong lịch sử của nó. Một quy luật nhân khẩu trìu tợng chỉ tồn tại đối với thực vật và
động vật, chừng nào mà con ngời trong lịch sử cha xâm nhập vào lĩnh vực này. 1.2.3.2 Nhân khẩu thừa, đòn bẩy của tích luỹ t bản điều kiện tồn tại của
phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa. Đội quân công nghiệp trừ bị . Nhng, nếu nhân khẩu công nhân thừa là sản phẩm tất yếu của tích luỹ,
hay của sự phát triển của cải trên cơ sở t bản chủ nghĩa, thì ngợc lại nhân khẩu thừa này lại trở thành một đòn bẩy của tích lũy t bản chủ nghĩa và thậm chí còn
là điều kiện tồn tại của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa nứa. Số nhân khẩu đó tạo thành một đội quân công nghiệp trừ bị có sẵn, hoàn toàn thuộc về t bản
một cách tuyệt đối tựa hồ nh thể t bản đã bỏ công của ra nuôi dỡng lên số nhân khẩu thừa đó. Khối lợng của cải xã hội, ngày càng phình ra cùng với sự tiến bộ
của tích lũy và có thể biến thành t bản phụ thêm, điên cuồng đổ xô vào những ngành sản xuất cũ mà thị trờng mở rộng đột ngột, hoặc vào những ngành sản
Trang14
xuất mới...mà sự phát triển của những ngành sản xuất cũ đòi hỏi phải có. Trong tất cả những trờng hợp nh thế thì cần làm thế nào để có thể tung một cách đột
ngột những khối lợng ngời rất lớn vào những điểm quyết định mà không phải
giảm bớt quy mô sản xuất trong những lĩnh vực khác. Nhân khẩu thừa cung cấp những khối lợng ngời đó.
Việc mở rộng quy mô một cách đột ngột và nhảy vọt là tiền đề của việc thu hẹp nó một cách đột ngột; bản thân sự thu hẹp này lại gây ra sự mở rộng
kia, nhng sự mở rộng kia không thể nào thực hiện đợc nếu không có một nguồn sức ngời bóc lột đợc, nếu không có sự tăng thêm khối lợng công nhân một cách
độc lập với số tăng tuyệt đối của nhân khẩu. Số tăng đó đợc tạo bởi một quá trình đơn giản thờng xuyên giải phóng một bộ phận công nhân, nhờ những
phơng pháp làm giảm bớt số công nhân đang làm việc so với sản xuất đã tăng lên. Nh vậy toàn bộ hình thức vận động đặc biệt của nền công nghiệp hiện đại
đều phát sinh trên sự thờng xuyên biến một bộ phận nào đó của nhân khẩu công nhân thành những công nhân không có việc làm hay chỉ có việc làm một nửa.
Việc sản xuất nhân khẩu thừa tơng đối, nghĩa là thừa so với nhu cầu trung bình của t bản trong việc làm tăng giá trị của nó, là điều kiện sống còn của nền công
nghiệp hiện đại.
Trang15
CHƯƠNG 2:
VAI TRò CủA TíCH Luỹ t bản trong quá trình Hình thành và phát triển kinh tế TBCN

2.1 Tích luỹ nguyên thuỷ t bản


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (30 trang)

×