1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Kế toán >

Tích luỹ nguyên thuỷ t bản

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (182.32 KB, 30 trang )


CHƯƠNG 2:
VAI TRò CủA TíCH Luỹ t bản trong quá trình Hình thành và phát triển kinh tế TBCN

2.1 Tích luỹ nguyên thuỷ t bản


2.1.1Tích luỹ ban đầu, điểm xuất phát của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa 2.1.1.1 Hai điều kiện ra đời của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa
Qúa trình phát triển của con ngêi tõ khi sinh ra cho tíi nay g¾n liỊn với
quá trình phát triển và thay thế lẫn nhau của các phơng thức sản xuất xã hội.Ph- ơng thức sản xuất đầu tiên là cộng sản nguyên thuỷ, phơng thức sản xuất này đ-
ợc thay thế bởi phơng thức sản xuất nô lệ tiếp đó là phuơng thức sản xuất phonng kiến. Và từ giữa thế kỉ XV cho tới giữa thế kỉ XVII là thời kì bắt đầu
tan rã của chế độ phong kiến và thay thế bởi chế độ phong kiến là chế độ t bản chủ nghĩa bắt đầu ra đời. Chủ nghĩa t bản ra đời trong lòng chế độ phong kiến.
Hai điều kiện cần và đủ để hình thành chủ nghĩa t bản +Tập trung trong tay mét sè Ýt ngêi sè tiỊn cđa lín ®Ĩ lËp ra c¸c xÝ
nghiƯp TBCN +Cã mét líp ngêi hoàn toàn tự do về thân thể quyền quyết định thân
thể mình và đã bị mất hết t liệu sản xuất. 2.1.1.1 Tích luý nguyên thuỷ t bản,đòn bẩy đẩy nhanh s ra đời của hai
điều kiện Gỉa định rằng trớc tích luỹ t bản chủ nghĩa đã có một sự tích luỹ ban
đầu -một tích luỹ không phải là kết quả của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa, mà là xuất phát điểm của nó. Trong khoa kinh tế chính trị, sự tích lũy
ban đầu này đóng một vai trò cũng gần giống nh vai trò của tội tổ tông trong thần học. Và từ thời cái tội tổ tông đó đã bắt đầu sự nghèo khổ của số đông ng-
ời, là những ngời dù có lao động hết sức cũng chẳng có gì để bán trừ bản thân họ ;và bắt đầu sự giàu có của một số ít, dù đã thôi lao động từ lâu mà vẫn cứ
Trang16
giàu mãi lên. Nhng khi đã đụng đến vấn đề quyền sở hữu thì ngời ta có nghĩa vụ thiêng liêng là phải theo đúng quan điểm của sách vở vỡ lòng cho tẻ con, là
quan điểm duy nhất đúng với mọi lứa tuổi mọi trình độ phát triển. Nh mọi ngời
đều biết, trong lịch sử hiện thực thì sự xâm chiếm, nô dịch, cớp bóc, tóm lại là bạo lực đã đóng một vai trò lớn.
Tiền và hàng hoá, cũng giống hệt nh t liệu sản xuất và t liệu sinh hoạt, ngay từ đầu không phải là t bản.Chúng cần đợc chuyển hoá thành t bản. Nhng
sự chuyển hoá này chỉ có thể diễn ra trong những hoàn cảnh nhất định thôi, những hoàn cảnh đó quy lại là :
hai loại hàng hoá rất khác nhau phải gặp nhau và tiếp xúc với nhau - một bên là ngời có tiền, có t liệu sản xuất và t liệu
sinh hoạt,cần mua sức lao động của ngời khác để làm tăng thêm giá trị đã chiếm đợc; bên kia là những ngời lao động tự do,những ngời bán sức lao động
của bản thân mình, do đó là những ngời bán lao động . Với việc chia thị tr- ờng hàng hoá thành hai cực nh vậy, thì những điều kiện cơ bản của nền sản xuất
t bản chủ nghĩa cũng đợc tạo ra. Quan hệ t bản chủ nghĩa giả định phải tách
rời ngời lao động với quyền sở hữu những điều kiện thực hiện lao động Qúa
trình một mặt thì biến t liệu sản xuất và t liệu sinh hoạt của xã hội thành t bản, và mặt khác, biến những ngời sản xuất trực tiếp thành những ngời lao động làm
thuê. Do đó, cái gọi là tích luỹ ban đầu chẳng qua chỉ là một quá trình lịch sử
tách rời ngời sản xuất ra khỏi t liệu sản xuấtNó là ban đầu vì nó là tiền sử của t bản và của phơng thức sản xuất phù hợp với t bản . Cái đã đánh dấu thời đại
trong lịch sử của tích luỹ ban đầu là những sự đảo lộn làm đòn bẩy cho giai cấp các nhà t bản đang hình thành. Cơ sở của toàn bộ quá trình này là sự tớc đoạt
ruộng đất của những ngời sản xuất nông nghiệp, của nông dân . ở Anh nó mang hình thức cổ điện, vì vậy nên chúng ta lấy nớc Anh làm
ví dụ 2.1.2 Nội dung, đặc điểm của thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷĐiển hình ở Anh
Trang17
2.1.2.1 Sự tớc đoạt ruộng đất của dân c ở nông thôn Màn mở đầu của sự đảo lộn đặt nền tảng cho phơng thức t bản chủ nghĩa
đã diễn ra trong ba mơi năm cuối thế kỉ XV và mấy mơi năm đầu thế kỉ XVI. Biến đồng ruộng thành bãi chăn thả đã trở thành khẩu hiệu của các chúa
phong kiến. Nhà ở của nông dân và những chiếc nhà nhỏ của công nhân bị phá huỷ đi bằng bạo lực noặc cho đổ nát để biến thành bãi chăn thả, ở đấy chỉ còn
nhà của chúa đất mà thôi. Trong thời kì này, cơ quan lập pháp cũng tìm cách
duy trìmột mức tối thiểu 4 a-cơ đất đai cho mỗi căn nhà nhỏ của ngời công nhân công nghiệp làm thuê và cấm không nhận cho ngoừi khác đến ở thuê trong nhà
mình. Trong thế kỉ XVI cuộc cải cách tôn giáo và sự cớp bóc hàng loạt những
tài sản của giáo hội tiếp theo sau nó đã đem lại một sự thúc đẩy ghê gớm cho quá trình tớc đoạt quần chúng nhân dân bằng bạo lực. Việc xoá bỏ các nhà tu
kín đã đẩy các ngời trong các nhà tu đó vào hàng ngũ vô sản. Vấn đề rào ruộng đất của công xã , việc rào đất của công xã rất phổ
biến và phần lớn những lãnh địa mới do việc rào đất mà có, dã bién thành đồng cỏ. Không phải chỉ những đất bỏ hoang, mà lắm khi cả những đất đai đã trồng
trọt cũng đều bị địa chủ lân cận sáp nhậpdới cớ rào đất. Tóm lại, cớp đoạt tài sản của nhà thờ, nhợng đất đai nhà nớc một cách
gian lận, ăn cắp đất đai của công xã, biến sở hữu phong kiến và sở hữu thị tộc thành sở hữu t nhân hiện đại bằng cách chiếm đoạt và khủng bố tàn nhẫn-đó là
bấy nhiêu phơng pháp thơ mộng của tích luỹ banđầu-Chúng đã chinh phục đất đai cho nền nông nghiệp t bản chủ nghĩa, đem ruộng đất gắn vào t bản và tạo ra
một luồng cần thiết những ngời vô sản bị đặt ra ngoài vòng pháp luật để cung cấp cho công nghiệp thành thị.
2.1.2.2 Phơng pháp đẫm máu từ cuối thế kỉ XV nhằm chống những ngời bị tớc đoạt. Những đạo luật nhằm hạ thấp tiền công.
Trang18
Pháp chế về lao động làm thuê- nhay từ đầu đã nhằm vào sự bóc lột công nhân và trong quá trình phát triển của nó luôn luôn thù ddịch với công nhân.
Pháp luật đã quy định một biểu tiền công cho thành thị và nông thôn, cho công
khoán và công ngày. Công nhân nông thôn phải làm thuê năm, công nhân thành thị làm thuê trên thị trờng công khai. Cấm không đợc trả công cao hơn mức
quy định, trái lệnh thì bị phạt tù, những ngời lĩnh tiền công cao hơn lại bị phạt nặng hơn ngời trả công.Ví dụ, theo ®iỊu 18 vµ 19 cđa quy chÕ £-li-da-bet vỊ ng-
êi học việc thì ngời trả tiền công cao hơn bị phạt tù 10 ngày, còn ngời nhận tiền công đó bị phạt 21 ngày.Quy chế năm 1360 lại tăng mức trừng phạt hơn nữa và
thậm chí còn cho phép chủ đợc dùng quyền cỡng bức thân thể để bắt làm việc theo biểu tiền công do pháp luật quy định.Các tổ chức liên kết công nhân bị coi
là tội nặng kể từ thế kỉ XIV cho đến tận năm 1825 .Những đạo luật nhằm làm giảm tiền công vẫn tiếp tục có hiệu lực đồng thời với việc xẻo tai và dùng sắt
nung đóng dấu vào những ngời mà không ai muốn thuê cả. Trong suốt hơn bốn trăm năm, ngời ta sản xuất ranhững đạo luật chỉ quy
định mức cao nhất của tiền công tronh bất cứ trờng hợp nào cũng không đợc vợt quá. Những diều khoản trong các quy chế công nhân nói về giao kèo giữa thợ
và chủ, về thời gian xoá bỏ giao kèo... quy ®Þnh r»ng ngêi chđ béi íc chØ bÞ truy tè về dân sự, còn ngời thợ bội ớc lại bị truy tố về hình sự.
2.1.2.3 Sự ra đời của ngời PhÐcmie t b¶n chđ nghÜa. Ta h·y tù hái: vËy thì lúc ban đầu do đâu mà có các nhà t bản.
Sự hình thành những ngời phecmie, thì có thể nãi r»ng chóng ta cã thĨ lÊy tay sê thÊy đợc, vì nó là một quá trình kéo dài trong nhiều thế kỉ.Ngời
Phecmie đợc hình thành từ rất xa xa. Cuộc cách mạng công nghiệp trong khoảng 30 năm cuối thế kỉ XV và kéo dài trong gần suốt cả thế kỉ XVI đã làm
cho ngời Phecmie giàu lên một cách nhanh chóng. Việc chiếm đoạt những bãi chăn nuôi của công xã cho phép ngời Phecmie tăng đàn súc vật của mình lên rất
Trang19
nhiều mà hầu nh không phải tốn kém gì cả.Sự giảm giá không ngừng của các loại kim loại quý, và do đó của tiền nữa, đã đem lại những quả bằng vàng cho
ngời Phecmie. Sự lên giá không ngừng của lúa mì, len, thịt, tóm lại là tất cả sản
phẩm nông nghiệp, làm tăng thêm t bản bằng tiền của ngời Phecmie mà anh ta chẳng phải mất công sức gì, còn địa tô anh ta phải trả lại đợc kí kết theo giá trị
đồng tiền cũ. Nh vậy là cùng một lúc ngời Phecmie đã làm cả giàu trên lng của những ngời công nhân làm thuê cho họ, lẫn trên lng ngời địa chủ quý tộc. Vì
vậy không có gì đáng lấy làm lạ là cuối thế kỉ XVI ở Anh dã hình thành nên một giai cấpnhững ngời Phecmie t bản chủ nghĩa giàu có đốivới thời đó.
2.1.2.4 ảnh hởng ngợc trở lại của cuộc cách mạng nông nghiệp đối với công nghiệp, sự hình thành thị trờng trong nớc cho t bản công nghiệp.
Việc tớc đoạt và xua đuổi dân c nông thôn ra khỏi ruộng đất không ngừng hết đợt này đến đợt khác, đã cung cấp cho công nghiệp ở thành thị ngày
càng nhiều đám ngời vô sản hoàn toàn đứng ngoài quan hệ phờng hội.Tình hình dân d nông thôn đọc lập tự mình cày cấy trở lên tha thớt, thì không phải chỉ t-
ơng ứng với sự đông đặc thêm của giai cấp vô sản công nghiệp. Mặc dù số ngời cày cấy ruộng đất có giảm đi, ruộng đất bây giờ vẫn mang một số sản phẩm nh
trớc hay nhiều hơn trớc, vì cuộc cách mạng về quan hệ sở hữu ruộng đất đã dẫn theo sự cải tiến các phơng pháp canh tác, sự hiệp tác rộng lớn hơn, sự tập trung
các t liệu sản xuất... Việc tớc đoạt và đuổi một bộ phận dân c nông thôn không những giải
phóng công nhân, giải phóng t liệu sinh hoạt và t liệu lao động của họ cho t bản công nghiệp, mà còn tạo ra thị trờng trong nớc n÷a. ThËt vËy, chÝnh nh÷ng sù
kiƯn biÕn nh÷ng ngêi tiĨu nông thành công nhân làm thuê, và biến t liệu sinh hoạt và t liệu lao động của họ thành yếu tố vật thể của t bản , thì cũng đồng thời
tạo ra tạo ra thị trờng bên trong cho t bản. Vậy là, đi đôi với sự tớc đoạt những ngời nông dân độc lập trớc đây và với việc tách họ ra khỏi cá t liệu sản xuất, thì
Trang20
cũng diễn ra sự tiêu diệt nghề phụ nông thôn và quá trình tách rời công trờng thủ công với nghề nông. Và chỉ có sự tiêu diệt nghề phụ ở nông thôn mới có thể
làm cho thị trờng bên trong của một nớc có đợc cái quy mô và sự ổn định cần
thiết cho phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa. 2.1.2.5 Sự ra đời của nhà t bản công nghiệp hệ thống thuộc địa, chế độ
công trái, hệ thống thuế khoá.. Sự ra đời của nhà t bản công nghiệp không có tính chất dần dần từng bíc
nh sù ra ®êi cđa ngêi Phecmie. Mét sè Ýt thợ cả nhỏ phờng hội thủ công, một số đông hơn những thợ thủ công nhỏ độc lập, hay thậm chí cả những công nhân
làm thuê nữa, cũng đã trở thành nhà t bản nhỏ, rồi dần dần nhờ mở rộng sự bóc lột lao động làm thuê và đẩy mạnh tích luỹ t bản một cách tơng xứng mà trở
thành những nhà t bản thực thụ.Thời thơ ấu của nỊn s¶n xt t b¶n chđ nghÜa th- êng hay có tình hình giống nh thời thơ ấu của thành thị thời trung cổ, tức là cái
thời mà vấn đề ai trong số những nông nô chạy trốn sẽ là ông chủ, ai sẽ là đầy tớ, phần lớn những quyết định tuỳ theo ai là kẻ đã bỏ trốn sớm hơn. Nhng bớc di
chậm nh rùa của phơng pháp này đã không làm sao đáp ứng đợc nhu cầu buôn bán của thị trờng thế giới mới, do những phát kiến lớn cuối thế kỷ XV tạo ra.
Chế độ phong kiến ở nông thôn, chế độ phờng hội ở thành thị đã cản trở việc t-tiền tệ-đợc hình thành. Những trở ngại này bị xoá bỏ cùng với việc giải
tán những đoàn tuỳ tùng phong kiến, cùng với việc tớc đoạt dân c nông thôn và đuổi họ đi từng phần một.
Việc tìm thấy những vùng mỏ vàng và mỏ bạc ở châu Mỹ, việc tuyệt diệt ngời bản xứ, bắt họ làm nô lệ và chôn vùi họ trong các hầm mỏ, việc bắt đầu đi
chinh phục và cớp bóc mièn Đông Ân , việc biến châu Phi thành khu cấm để săn bắt buôn bán ngời da đen, -đó là buổi bình minh của thời đại sản xuất t bản
chủ nghĩa. Những quá trình thơ mộng ấy là những yếu tố chủ yếu của tích luỹ
Trang21
ban đầu. Tiếp ngay sau đó là cuộc chiến tranh thơng mại của các nớc châu Âu mà chiến trờng là trái đất.
Chế độ thuộc địa, quốc trái, gánh nặng thuế khoá, thuế quan bảo hộ, chiến tranh thơng mại..., tất cả những mầm non ấy của thời kì công trờng thủ
công chính cống đã phát triển lên một cách ghê gớm trong thời kì thơ ấu của
nền đại công nghiệp. Sự ra đời của đại công nghiệp đã đợc đánh dấu bằng sự ăn cớp hàng loạt trẻ em một cách tàn bạo. Các công xởng mộ công nhân cho mình
cũng dùng bạo lực nh hải quân của vua mộ lính thủ vËy.

2.2 TÝch lòy t b¶n trong thêi kú CNTB hiện đại.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (30 trang)

×