1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Kế toán >

Khái quát về Chi nhánh NHĐTPT Hà Tây

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (544.4 KB, 101 trang )


Chương I: Thực trạng công tác thẩm định Dự án đầu tư tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây

1.1. Khái quát về Chi nhánh NHĐTPT Hà Tây


1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây NHĐTPT Hà Tây là một trong
những chi nhánh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam NHĐTPT Việt Nam, hiện có trụ sở tại số 197 – Đường Quang Trung – Thành phố Hà Đông, Hà
Nội. Tiền thân của chi nhánh NHĐTPT Hà Tây là Phòng Đầu tư và Phát triển Hà Sơn Bình, được thành lập ngày 01061990. Với tư cách là một thành viên trực thuộc
thì sự hình thành, phát triển cũng như chức năng nhiệm vụ của Chi nhánh NHĐTPT Hà Tây không tách rời khỏi sự đi lên của NHĐTPT Việt Nam.
Từ sau 1996 Ngân hàng Đầu tư phát triển Việt Nam nói chung và Chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Tây nói riêng đã thực sự chuyển hẳn sang chuyên
doanh; kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và các loại hình ngân hàng; có nhiệm vụ huy động các nguồn vốn ngắn, trung, dài hạn từ các thành phần kinh tế, các
tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp, dân cư, các tổ chức nước ngoài bằng VNĐ và ngoại tệ để tiến hành các hoạt động cho vay ngắn, trung,
dài hạn đối với mọi tổ chức, mọi thành phần kinh tế và dân cư. Từ khi đi vào hoạt động với sự chỉ đạo và giám sát chặt chẽ của Ban Giám đốc cùng với cố gắng của
tồn bộ cán bộ cơng nhân viên mà chi nhánh đã không ngừng phát triển. Hiện nay, Chi nhánh NHĐTPT Hà Tây hoạt động trên mọi lĩnh vực của 1 Ngân hàng thương
mại nhưng lĩnh vực kinh doanh chính, có bề dày kinh nghiệm là lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản và khách hàng truyền thống của Ngân hàng là các đơn vị thuộc khối xây
lắp. Cùng gắn mình với những nhiệm vụ của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam, NHĐTPT Hà Tây đã đóng góp một phần cơng sức to lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hà Tây cũ nói riêng và của nền kinh tế đất nước nói chung.
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
1.1.2. Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Tính đến thời điểm hiện tại, tổng số cán bộ, nhân viên của NHĐTPT Hà Tây
là 120 người có tuổi đời trẻ và phần lớn có trình độ đại học, và có khoảng 3 cán bộ có trình độ trên đại học, 78 cán bộ có trình độ đại học, 10 cán bộ có trình độ
Trung học Chun nghiệp và 9 trình độ khác. Chi Nhánh NHĐTPT Hà Tây khơng ngừng hồn thiện hệ thống tổ chức và
phát triển. Với thời điểm hiện tại, ban giám đốc chi nhánh gồm 1 giám đốc và 2 phó giám đốc. Tháng 10 năm 2008 Chi nhánh đã chuyển đổi cơ cấu tổ chức theo chủ
trương của NHĐTPT Việt Nam, phòng ban của Chi nhánh được chia làm 5 khối: Khối Quan hệ khách hàng, gồm: Các Phòng Quan hệ khách hàng.
Khối Quản lý rủi ro, gồm: Phòng Quản lý rủi ro. Khối Tác nghiệp, gồm: Phòng Quản trị tín dụng, các Phòng Dịch vụ khách
hàng, PhòngTổ Quản lý và dịch vụ kho quỹ, PhòngTổ Thanh tốn quốc tế. Khối Quản lý nội bộ, gồm: Phòng Kế hoạch - Tổng hợp, PhòngTổ Điện tốn,
Phòng Tài chính - Kế tốn, Phòng Tổ chức - Nhân sự, Văn phòng. Khối trực thuộc, gồm: các Phòng Giao dịch, các Quỹ Tiết kiệm.
Cụ thể cơ cấu tổ chức của Chi nhánh được thể hiện qua sơ đồ sau:
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế u t 47B
Ban giám đốc
KHI QUAN H
KHCH HNG
KHI TC
NGHIP KHI
QUN LÝ RỦI
RO KHỐI
QUẢN LÝ NỘI
BỘ KHỐI
TRỰC THUỘC
Phòng quan hệ khách hàng 1
Phòng quan hệ khách hàng 2
Phòng quản lý rủi ro
Phòng quản trị tín dụng
Phòng dịch vụ khách hàng
DN Phòng khách
hàng cá nhân Phòng quản lý
và dịch vụ theo kho quỹ
Phòng tài chính kế tốn
Phòng tổ chức hành chính
Phòng kế hoạch tổng
hợp Các phòng
giao dịch
Các quỹ tiết kiệm
Sơ đồ 1.1. Cơ cấu tổ chức của chi nhánh BIDV Hà Tây
1.1.3. Chức năng và nhiệm vụ của Chi nhánh NHĐTPT Hà Tây - Huy động vốn từ mọi nguồn hợp pháp của khách hàng như tiền gửi tiết kiệm,
chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu,… - Thực hiện cấp tín dụng ngắn, trung và dài hạn bằng VNĐ và ngoại tệ, thực
hiện bảo lãnh và tài trợ thương mại theo các chế độ tín dụng hiện hành nhằm đảm bảo, duy trì và phát triển nguồn vốn.
- Hoạt động tư vấn trong hoạt động tín dụng và uỷ thác đầu tư theo quy định và thực hiện kinh doanh chứng khoán và giấy tờ có giá.
- Cung cấp cho khách hàng các dịch vụ ngân hàng đa dạng như: thanh toán, chuyển tiền, dịch vụ thẻ, đổi tiền…
- Thực hiện Marketing khách hàng nhằm phục vụ các khách hàng truyền thống và khai thác, mở rộng các khách hàng mới và tiềm năng.
- Thu chi và bảo quản tiền cũng như các tài sản có giá khác.
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
- Tham gia xây dựng và lập kế hoạch cho toàn bộ hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
- Tiến hành tổ chức bảo quản và lưu trữ các hồ sơ, tài liệu theo quy định, và chịu sự kiểm tra giám sát của Hội sở chính và ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
1.1.4. Vài nét về hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Cùng với sự tăng trưởng của kinh tế đất nước, Ngân Hàng Đầu Tư Phát
Triển Hà Tây cũng không ngừng ngày một lớn mạnh. Ban đầu hoạt động cơ bản của chi nhánh là huy động vốn để cho vay. Việc huy động vốn chủ yếu là tiền gửi của
dân cư và phát hành giấy tờ có giá. Trong đó VNĐ chiếm tỷ lệ rất lớn với lãi suất đầu vào không nhỏ. Việc cho vay chủ yếu vào các cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ nên
hiệu quả thu được chưa cao. Nhưng nhờ vào sự tâm huyết, nhiệt tình sáng taọ của ban lãnh đạo, các phòng ban, cùng sự đồn kết của tồn chi nhánh đến nay chi nhánh đã
đi vào hoạt động ổn định và ngày một phát triển. Với cơ chế chặt chẽ, chi nhánh đã và đang hoàn thiện các nghiệp vụ như mở LC xuất nhập khẩu, thanh toán nhờ thu,
nghiệp vụ bảo lãnh thương mại, thanh toán chi trả kiều hối, các nghiệp vụ thanh toán quốc tế khác. Tuy nhiên, để có thể đứng vững trong q trình cạnh tranh gay gắt như
hiện nay Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Hà Tây không phải không đối mặt với rất nhiều khó khăn. Hoạt động trên địa bàn Thành Phố Hà Đông – Tỉnh Hà Tây cũ, là
cửa ngõ của thủ Đô, lại tập trung dân cư đông đúc với 2 triệu dân. Các chi nhánh NHTM trong và ngồi nước đặt trụ sở với cơng nghệ tiên tiến, bề dày lịch sử trong
hoạt động kinh doanh. Chi nhánh với tuổi đời còn non trẻ, kinh nghiệm còn hạn chế sẽ là điểm yếu trong quá trình hoạt động. Nhưng ra đời muộn khơng phải là khơng có
thuận lợi bởi chi nhánh có điều kiện học hỏi các kinh nghiệm của các ngân hàng đi trước và nhất là chi nhánh được hình thành trong giai đoạn nền kinh tế có nhiều biến
đổi tích cực ảnh hưởng tốt đến hoạt động của Ngân Hàng. 1.1.4.1. Về nghiệp vụ huy động vốn
Ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, có một đặc trưng cơ bản là: đi vay để cho vay, do đó nguồn vốn hay còn gọi là đầu vào của ngân hàng
có ý nghĩa quyết định đến hiệu qủa kinh doanh của một ngân hàng . Bởi vì ngân hàng cũng như các doanh nghiệp khác muốn có hiệu quả kinh tế cao thì sản phẩm tiêu thụ
phải được thị trường chấp nhận, mà sản phẩm muốn được thị trường chấp nhận phải
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
đạt được hai yếu tố đó là: giá cả phù hợp và chất lượng sản phẩm tốt. Đối với lĩnh vực kinh doanh ngân hàng thì yếu tố giá cả chiếm vai trò then chốt, giá cả của hoạt
động ngân hàng chính là lãi suất đầu ra hay còn gọi là lãi suất cho vay và lãi suất cho vay muốn hạ thì lại được quyết định cơ bản bởi lãi suất đầu vào.
Như vậy, có thể khẳng định trong hoạt động kinh doanh của một ngân hàng thì nghiệp vụ tạo tiền hay còn gọi là cơng tác nguồn vốn chiếm vị trí then chốt nhất nó
quyết định mọi hoạt động khác của ngân hàng. Công tác huy động vốn là nhiệm vụ trọng tâm để mở rộng kinh doanh, nâng vị thế cạnh tranh trước mắt, cũng như lâu dài.
Chính vì vậy ban lãnh đạo chi nhánh đã quán triệt chỉ đạo tập trung đẩy mạnh công tác huy động vốn với nhiều hình thức. Để đánh giá tình hình thực hiện cơng tác
nguồn vốn tại ngân hàng Đầu Tư Phát Triển Hà Tây trong thời gian qua, ta xem xét bảng sau:
Bảng 1.1: Tình hình huy động vốn của Chi nhánh giai đoạn 2005-2008
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 31122005 31122006 31122007 31122008
Huy động vốn 1140
1496 1677
2476
I. Phân loại theo thời gian 1.1. Ngắn hạn
607 770
1024 2123
1.2. Trung – dài hạn 533
726 653
353 II. Phân loại theo thành
phần kinh tế 2.1. Tổ chức kinh tế
306 576
816 1464
2.2. Dân cư 834
920 861
1012 III. Phân theo loại tiền tệ
3.1. VND 915
1248 1480
2234 3.2. Ngoại tệ
225 248
197 242
Nguån: B¸o cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của BIDV Hà T©y Sau 50 năm hoạt động Chi nhánh BIDV Hà Tây, với sự nỗ lực của mình và sự
quan tâm chỉ đạo chặt chẽ, đưa ra nhiều giải pháp tương đối cụ thể phù hợp với thực tế phát triển kinh doanh trên địa bàn tỉnh Hà Tây cũ và các tỉnh, thành phố lân cận
của BIDV Hà Tây, Chi nhánh đã tạo được uy tín và lòng tin với khách hàng thuộc
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
mọi thành phần kinh tế. Điều đó được thể hiện qua công tác huy động vốn của chi nhánh được thể hiện ở bảng trên.
Năm 2005, tổng vốn huy động được mới là 1140 tỷ đồng, sang năm 2006 là 1496 tỷ đồng. Trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2008 số vốn huy động qua các
năm liên tục tăng: năm 2007 là 1677 tỷ đồng, tăng 12,1 so với năm 2006 còn năm 2008 tổng số vốn huy động là 2476 tỷ đồng tăng 47,6 so với năm 2007. Trong đó
nguồn vốn nội tệ VND năm 2005 là 915 tỷ đồng, năm 2006 là 1248 tỷ đồng, năm 2007 là 1480 tỷ đồng, năm 2008 là 2234 tỷ đồng, qua mức tăng ta thấy năm 2006 đã
tăng so với năm 2005 là 36,4; năm 2007 so với năm 2006 là 18,6 và đến năm 2008 số tiền gửi bằng đồng nội tệ tăng vượt bậc, so với năm 2007 tăng 50,9.
Như vậy ở Chi nhánh BIDV Hà Tây thì ngân hàng huy động cả VND và ngoại tệ, trong đó VND chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng ngày càng tăng. với tiềm lực dồi
dào của BIDV và ngày càng vững mạnh thì ngân hàng có thể đáp ứng với mọi nhu cầu của khách hàng.
Về cơ cấu theo thành phần kinh tế: nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọng lớn và ngày càng tăng, còn tiền gửi từ dân cư thì có xu hướng ngày
càng giảm về tỷ trọng, điều đó được thể hiện năm 2005 tiền gửi các tổ chức kinh tế đạt 306 tỷ đồngchiếm 26.842 tổng nguồn vốn, sang năm 2006 đạt 576 tỷ đồng
chiếm 38.502 tổng nguồn vốn, năm 2007 đạt 816 tỷ đồng chiếm 48.658 so với tổng nguồn vốn, năm 2008 đạt 1464 tỷ đồng chiếm 59.127 tổng nguồn vốn.Mức
tăng giữa năm 2008 so với năm 2005 là 378.43, so với năm 2007 là 79.41. TiỊn
gưi cđa tỉ chøc kinh tÕ chiÕm tỷ trọng lớn chứng tỏ đầu t trực tiếp vào nền kinh tế kém hiệu quả, không mang lại lợi nhuận lớn cho nhà đầu t, môi trờng kinh tế không
ổn định cho nên các tổ chức kinh tế gửi tiền vào ngân hàng để hởng lãi. Nu phõn theo thời hạn huy động thì số tiền gửi ngắn hạn luôn chiếm ưu thế,
đặc biệt tăng mạnh ở năm 2008 là 2123 tỷ đồng chiếm 85.74 tổng nguồn vốn và tăng 107.32 so với năm 2007. Nhưng đối với tiền gửi trung- dài hạn thì lại có xu
hướng giảm từ năm 2006-2008, năm 2007 đạt 653 tỷ đồng giảm 11.18 so với năm 2006, năm 2008 đạt 353 tỷ đồng chỉ chiếm 14.26 trong tổng nguồn vốn, giảm
45.94 so với nm 2007
.
Sự chuyển biến này làm tăng tính ổn định cña nguån vèn
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế u t 47B
ngân hàng, phù hợp với hoạt động cho vay trung dài hạn vốn chiếm tỷ trọng lớn tại chi nh¸nh.
Với số liệu phân tích ở trên, thì hoạt động huy động vốn của ngân hàng khá dồi dào, điều đó tạo thuận lợi cho việc kinh doanh của chi nhánh, nâng cao uy tín và
lòng tin của khách hàng. 1.1.4.2. Về nghiệp vụ sử dụng vốn
Tín dụng là hoạt động giữ vai trò đặc biệt trong mục tiêu kinh doanh của các NHTM, Chi nhánh NHĐT PT Hà Tây cũng vậy. Với phương châm: “An toàn- Hiệu
quả - Phát triển bền vững” trong những năm vừa qua chi nhánh đã chỉ đạo tăng trưởng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động tín dụng, chấp hành
tốt quy chế điều hành trong cơng tác tín dụng, kiểm sốt chặt chẽ phân tích rủi ro tín dụng từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể để tháo gỡ khó khăn trong quan hệ tín
dụng, bảo lãnh; đồng thời lựa chọn khách hàng tốt, dự án tốt. Kết quả được cụ thể hóa bằng những con số sau:
Dư nợ cho vay theo đối tượng. - Doanh nghiệp quốc doanh: năm 2006 là 932 tỷ đồng, năm 2007 là 946 tỷ
đồng tăng 14 tỷ đồng tăng 1.5 so với năm 2006 và năm 2008 là 1087 tỷ đồng tăng 141 tỷ đồng tăng 14.9 so với năm 2007. Như vậy doanh số cho vay từ khu vực
quốc doanh liên tục tăng qua các năm. Điều này hoàn toàn phù hợp với phương châm hoạt động của chi nhánh là phục vụ cho các doanh nghiệp quốc doanh.
-
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh: do đặc trưng của chi nhánh là phục vụ chủ yếu cho các doanh nghiệp quốc doanh, nên tỷ trọng cho vay đối với doanh nghiệp
ngoài quốc doanh trong tổng doanh số cho vay của chi nhánh ln chiếm một tỷ trọng nhỏ tuy nhiên có xu hướng tăng qua các năm: năm 2006 là 172 tỷ đồng chiếm
15.57 trong tổng doanh số, năm 2007 là 392 tỷ đồng chiếm 29.3 trong tổng doanh số tăng 220 tỷ đồng tăng 127.9 so với năm 2005 và năm 2008 là 560 tỷ đồng
chiếm 34 tăng 168 tỷ đồng tăng 42.9 so với năm 2007. Như vậy doanh số cho vay từ khu vực ngoài quốc doanh tăng qua các năm nhưng với tốc độ tăng chậm lại.
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
Bảng 1.2: Tình hình cho vay vốn của Chi nhánh trong giai đoạn 2006- 2008 phân theo đối tượng vay.
Chỉ tiêu 31122006 31122007 31122008
So sánh 20072006
So sánh 20082007
tỷ đồng tỷ đồng
tỷ đồng +-
+- Doanh số cho vay
1104 1338
1647 234 21,2
309 23,1
DN quốc doanh 932
946 1087
14 1,5
141 14,9
DN ngoài QD 172
392 560
220 127,9 168
42,9
Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của BIDV Hà Tây D n cho vay theo thi đoạn vay.
Bảng 1.3: Dư nợ cho vay theo thời đoạn của Chi nhánh thời kỳ 2006-2008
Chỉ tiêu 31122006
31122007 31122008
Số tiền tỷ đồng
Tỷ trọng Số tiền
tỷ đồng Tỷ trọng
Số tiền tỷ đồng
Tỷ trọng Cho vay ngắn hạn
588 53,26
765 57,17
1000 60,72
Cho vay trung dài hạn 516
46,74 573
42,83 647
39,28 Tổng dư nợ cho vay
1104 100
1338 100
1647 100
Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của BIDV Hà Tây Nhỡn vo bng s liệu cho vay theo thời hạn có thể thấy qua các năm dư nợ
cho vay của Chi nhánh có sự thay đổi: - Đối với cho vay ngắn hạn: trong giai đoạn 2006 – 2008, dư nợ cho vay ngắn
hạn có xu hướng tăng: năm 2006 là 588 tỷ đồng, năm 2007 là 765 tỷ đồng tăng 177 tỷ đồng tương ứng tăng 30.1 so với năm 2006. Năm 2008 là 1000 tỷ đồng, tăng
235 tỷ đồng tương ứng tăng 30.7 so với năm 2007 tuy lượng năm tuyệt đối vẫn cao nhưng tốc độ tăng tương đối chỉ tăng nhẹ. Như vậy ta thấy khách hàng các món
vay của chi nhánh phần lớn vẫn là các khoản vay ngắn hạn. - Đối với cho vay trung dài hạn: trong giai đoạn 2006 – 2008, dư nợ cho vay
trung dài hạn chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ hơn trong tổng dư nợ cho vay, và tỷ trọng có xu hướng giảm dần qua các năm. Năm 2007 đạt 573 tỷ đồng, tăng 57 tỷ đồng
tương ứng tăng 11.06 so với năm 2006 đạt 516 tỷ đồng, năm 2008 đạt 647 tỷ đồng, tăng 74 tỷ đồng tương ứng tăng khoảng 12.9 so với năm 2007. Như vậy,
trong dư nợ cho vay trung dài hạn của Chi nhánh có sự gia tăng cả về số tuyệt đối,
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
lẫn tốc độ tăng tuyệt đối. Điều này phản ánh đúng thực tế tỷ trọng dư nợ cho vay theo thời hạn của Chi nhánh.
1.1.4.3. Về tình hình các hoạt động dịch vụ của ngân hàng Nhằm đáp ứng yêu cầu của một ngân hàng hoạt động trong nền kinh tế thị
trường các sản phẩm ngân hàng ngày càng được mở rộng và nâng cao cả về số lượng và chất lượng.
Về mặt số lượng, các dịch vụ ngân hàng cung cấp về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu của khách hàng như: dịch vụ thanh tốn trong và ngồi nước, các loại hình
bảo lãnh, nghiệp vụ thanh tốn quốc tế, dịch vụ tiết kiệm, tiền gửi lưu động theo định kỳ ở một số tổ chức kinh tế lớn nhằm tăng vốn phục vụ cho đầu tư phát triển…
Về mặt chất lượng, chi nhánh xác định bước tiến tới mơ hình của ngân hàng hiện đại đảm bảo mọi hoạt động dịch vụ ngân hàng có hiệu quả nhất.
Bảng 1.4: Tình hình dịch vụ của Chi nhánh thời kỳ 2006- 2008
Chỉ tiêu Năm 2006
Năm 2007 Năm 2008
Số tiền tỷ đồng
Tỷ trọng
Số tiền tỷ đồng
Tỷ trọng
Số tiền tỷ đồng
Tỷ trọng
Tổng thu dịch vụ

7.8 100


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (101 trang)

×