1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Kế toán >

Đánh giá công tác thẩm định dự án đầu tư của Chi nhánh NHĐTPT Hà Tây

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (544.4 KB, 101 trang )


kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi điều kiện tự nhiên. Tuy vậy so với các ngành khác thì vốn đầu tư và cho vay của ngành này ln ln chiếm ưu thế. Trong lúc đó vốn
ngành công nghiệp chế biến chỉ chiếm khoảng 16 tổng vốn cho vay, ngành thương mại dịch vụ chiếm tầm khoảng 8 và các ngành khác thì chiếm khoảng 2 tổng vốn cho vay
của Chi nhánh. Ta thấy doanh số cho vay của Chi nhánh cho các ngành có xu hướng giảm trong giai đoạn 2006-2008, nhưng chỉ riêng ngành thương mại dịch vụ số vốn cho vay lại
có xu hướng tăng. Chứng tỏ rằng việc đầu tư vào ngành thương mại dịch vụ đang ngày càng hấp dẫn hơn.

1.5. Đánh giá công tác thẩm định dự án đầu tư của Chi nhánh NHĐTPT Hà Tây


1.5.1. Những kết quả đạt được Trên địa bàn tỉnh Hà Tây, NHĐTPT Hà Tây là ngân hàng có bề dày thành
tích trong cơng tác thẩm định các dự án đầu tư. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước nói chung và những cơ hội phát triển của tỉnh Hà Tây nói riêng, ngày
càng nhiều dự án được hình thành với quy mơ và tính chất ngày một phức tạp hơn. Do đó, việc thẩm định dự án cũng đòi hỏi yêu cầu cao hơn. Tuy nhiên hiện nay, với
việc NHĐTPT Việt Nam áp dụng quy trình quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9001 đối với quy trình thẩm định dự án đầu tư là một sự hỗ trợ rất lớn, nó đã và đang góp phần
giúp cho việc thẩm định dự án đầu tư tại chi nhánh được thống nhất, khoa học; đảm bảo kiểm sóat được hoạt động nghiệp vụ, góp phần hạn chế rủi ro trong đầu tư,
không ngừng nâng cao chất lượng công tác thẩm định. 1.5.1.1. Về công tác tổ chức thẩm định dự án đầu tư
Công tác thẩm định tại chi nhánh ln được thực hiện bởi hai phòng: phòng Quan hệ khách hàng và phòng Quản lý rủi ro, nhưng thực hiện chính vẫn là phòng
Quan hệ khách hàng. Hồ sơ vay vốn của khách hàng sẽ được Phòng Quan hệ khách hàng tiếp nhận, và phòng này trực tiếp làm việc với khách hàng, đi vào thẩm định chi
tiết về dự án. Sau khi thẩm định xong, phòng Quan hệ khách hàng sẽ chuyển hồ sơ vay vốn và hồ sơ đã thẩm định cho phòng Quản lý rủi ro. Kết quả thẩm định của hai
phòng sẽ được trình lên Ban giám đốc xem xét và ra quyết định cho dự án vay vốn hay không.
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
Hiện nay, tại chi nhánh BIDV Hà Tây, mỗi dự án được tiến hành thẩm định bởi 1 cán bộ thẩm định phòng quan hệ khách hàng và 1 cán bộ phòng Quản lý rủi ro.
1.5.1.2. Về thời gian thẩm định dự án đầu tư Thời gian thẩm định trung bình là 15 ngày kể từ ngày khách hàng nộp hồ sơ
hòan chỉnh. Lượng thời gian này luôn được cán bộ thẩm định tại chi nhánh NHĐTPT Hà Tây đảm bảo đúng quy định, tạo điều kiện để dự án đi vào hoạt động
đúng kế hoạch. Đây chính là một yếu tố mà chi nhánh sử dụng làm lợi thế cạnh tranh của mình.
1.5.1.3. Về phương pháp thẩm định dự án đầu tư Công tác thẩm định dự án đầu tư tại chi nhánh thường được thẩm định chủ yếu
bằng phương pháp phân tích so sánh đối chiếu và thẩm định theo trình tự. Phương pháp thẩm định theo trình tự: cán bộ thẩm định khi tiến hành thẩm
định dự án đầu tư thì căn cứ vào quy trình thẩm định do BIDV ban hành. Quy trình thẩm định của BIDV hướng dẫn việc thẩm định phải bao quát, đánh giá sơ bộ nội
dung chính của dự án đầu tư tức là thẩm định tổng quát. Sau đó tiến hành đi sâu vào thẩm định các khía cạnh khác nhau của dự án đầu tư: khía cạnh thị trường, khía cạnh
tổ chức quản lý thực hiện dự án, hay khía cạnh tài chính, khía cạnh kỹ thuật, khía cạnh kinh tế xã hội của dự án... tức là thẩm định chi tiết.
Khi thẩm định khía cạnh tài chính của dự án, cán bộ thẩm định đi sâu vào phân tích các chỉ tiêu và sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu để lựa chọn ra một
phương án tối ưu nhất. Như vậy, việc áp dụng phương pháp thẩm định có hiệu quả sẽ tạo cho ngân
hàng có được những quyết định đúng đắn trong cơng tác tín dụng. 1.5.1.4. Về nội dung thẩm định dự án đầu tư
Hoạt động thẩm định dự án đầu tư bao gồm rất nhiều nội dung như: khía cạnh thị trường, khía cạnh kĩ thuật, khía cạnh tổ chức quản lý thực hiện dự án, khía cạnh
kinh tế xã hội, khía cạnh tài chính của dự án… Công tác thẩm định tại Chi nhánh luôn luôn thực hiện đúng yêu cầu nội dung thẩm định thống nhất mà BIDV ban hành.
1.5.1.5. Về cán bộ thẩm định dự án đầu tư Những cán bộ nắm giữ vị trí quan trọng trong quy trình thẩm định của chi
nhánh NHĐTPT Hà Tây đều được đánh giá là những cán bộ có chun mơn nghiệp
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
vụ vững vàng, có sự hiểu biết sâu sắc về cơng tác thẩm định và có đạo đức nghề nghiệp tốt, đáp ứng yêu cầu công việc.
Ngoài ra hầu hết các cán bộ thẩm định taị chi nhánh là những cán bộ trẻ, họ rất nhiệt tình và sáng tạo trong cơng việc. Họ có kiến thức rất sâu sắc về chuyên môn
nghiệp vụ, lại rất năng động trong khâu tìm kiếm và xử lý thơng tin, rất tích cực học hỏi. Nói chung là một đội ngũ cán bộ giầu tiềm năng.
Cán bộ thẩm định tại chi nhánh đã nhiều lần phát hiện sự thiếu trung thực, sai phạm vơ tình hoặc cố ý của chủ đầu tư để điều chỉnh kịp thời, đồng thời cán bộ thẩm
định cũng tư vấn cho khách hàng những phương hướng khắc phục để nâng cao tính khả thi của dự án, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng vay vốn trong khi khoản tài
trợ của ngân hàng cũng được đảm bảo về mức độ an toàn và tính sinh lời. 1.5.1.6. Về trang thiết bị phục vụ công tác thẩm định dự án đầu tư
Hiện tại chi nhánh đã cung cấp được hệ thống máy tính nối mạng cho các cán bộ thẩm định, trong đó có các phần mềm chuyên dụng phục vụ cho công tác thẩm
định. Đây là sự cố gắng đáng kể của chi nhánh, nó đã góp phần làm giảm thời gian, tăng tính chính xác của kết quả thẩm định, vì thế mà góp phần nâng cao chất lượng
cơng tác thẩm định tại chi nhánh. Hiện nay, Chi nhánh đang tiến hành thẩm định tài chính dự án đầu tư là dựa
chủ yếu vào Microsoft Excel. Microsoft Excel là phần mềm hỗ trợ rất hữu hiệu trong công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư. Do phần mềm này có các hàm tài chính rất
hữu hiệu đặc biệt là ba hàm: NPV, IRR và DSCR mà chi nhánh hay tiến hành phân tích đánh giá... giúp cho các cán bộ thẩm định có thể thực hiện nhanh cơng đoạn thẩm
định tài chính của dự án đầu tư. 1.5.1.7. Về nguồn thông tin phục vụ cho công tác thẩm định dự án đầu tư
Chi nhánh luôn đi sâu vào đánh giá xem xét các thông tin của dự án đầu tư. Từ nguồn số liệu do khách hàng vay vốn cung cấp, cán bộ thẩm định sẽ tiến hành phân
tích, khảo sát, đánh giá mức độ trung thực và chính xác của nguồn thông tin. Chi nhánh luôn coi trọng thông tin chính xác từ khách hàng để tạo điều kiện thuận lợi cho
công việc thẩm định đạt hiệu quả cao. 1.5.1.8. Về quy trình thẩm định
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
Như đã nói ở trên, NHĐTPTVN là hệ thống ngân hàng duy nhất đang áp dụng duy trình quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9001 trên tất cả các mặt nghiệp vụ trong
đó có quy trình thẩm định dự án đầu tư. Có thể khẳng định đây là một quy trình khá chặt chẽ và khoa học, thực sự trở thành cơ sở hướng dẫn cán bộ thẩm định khi thực
hiện cơng tác của mình. Sự sắp xếp , bố trí các khâu trong quy trình thẩm định rất mạch lạc đồng thời có sự phối hợp cao giữa các bộ phận, là cơ sở để kiểm tra giám
sát thực hiện công việc với từng cán bộ thẩm định. Nội dung thẩm định được xây dựng rất chi tiết và đầy đủ, đảm bảo tính logic, hỗ trợ lẫn nhau, không bị trùng lắp.
Bám sát nội dung theo quy trình là cán bộ thẩm định có thể thấy được thực trạng của doanh nghiệp vay vốn và dự án xin vay.
Nhờ tính khoa học của quy trình và sự tuân thủ nghiêm ngặt và sáng tạo linh hoạt theo quy trình thẩm định đã giúp các cán bộ thẩm định tại chi nhánh hòan thành
tốt nhiệm vụ của mình một cách tiết kiệm thời gian và nâng cao hiệu quả, giúp chi nhánh NHĐTPT Hà Tây thực hiện tài trợ thành công cho hàng trăm dự án, tạo ra
nguồn lợi nhuận đáng kể cho chi nhánh 1.5.2. Những tồn tại và nguyên nhân
1.5.2.1. Những tồn tại a. Nguồn thông tin phục vụ cho công tác thẩm định dự án đầu tư
Khai thác các nguồn thông tin cũng là một trong những hạn chế của công tác thẩm định tại chi nhánh. Hiện tại nguồn thông tin chính hầu hết là do chủ đầu tư
cung cấp, các thông tin nhận được từ trung tâm thông tin tín dụng thì lại chưa cụ thể với từng ngành kinh tế, các nguồn thơng tin khác từ báo chí, Internet ... khơng ổn
định và đơi khi còn thiếu tính chính xác do vậy trong q trình phân tích các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp và hiệu quả tài chính của dự án các cán bộ thẩm định cơ
bản chỉ tính tóan và so sánh chỉ tiêu trong nội bộ doanh nghiệp. Nếu chỉ sử dụng những thơng tin này làm cơ sở phân tích thì những phân tích đánh giá của cán bộ
thẩm định cũng chưa phản ánh hết các yếu tố của đối tượng phân tích. Một nguồn thơng tin cần thiết nữa là thông tin về thị trường của dự án. Thị
trường của dự án đóng vai trò rất quan trọng, lượng thơng tin này rất đa dạng, phong phú và có tính quyết định sự tồn tại sản phẩm của dự án, muốn có được thơng tin đầu
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
vào, đầu ra của sản phẩm đòi hỏi cán bộ thẩm định phải tích cực chủ động tìm kiếm và phân tích. Đây là cũng là một khó khăn lớn đối với người thẩm định.
b. Phương pháp thẩm định dự án đầu tư Việc tuân thủ quy trình thẩm định là một lợi thế cho các cán bộ thẩm định tại
chi nhánh, nhưng đôi khi việc tiến hành đánh giá theo nội dung thực hiện của quy trình còn máy móc. Hiện tại ở chi nhánh NHĐTPT Hà Tây thẩm định hiệu quả của
dự án được thơng qua phương pháp tính tóan các chỉ tiêu NPV, IRR, thời gian hòan vốn và dự báo rủi ro qua phân tích độ nhạy của dự án. Trong đó NPV và IRR là hai
chỉ tiêu có độ tin cậy cao và là chỉ tiêu quan trọng khi thẩm định tài chính và là chỉ tiêu hàng đầu, thường xuyên được quan tâm. Tuy nhiên có những dự án, cán bộ thẩm
định đã khơng tiến hành phân tích độ nhạy hoặc chỉ tiến hành đánh giá độ nhạy một chiều theo từng biến đầu vào. Rất ít dự án dự án được đánh giá độ nhạy nhiều chiều
theo sự biến động của nhiều yếu tố đầu vào cùng lúc, và cũng rất ít dự án sử dụng phương pháp phân tích tình huống nhằm đánh giá tòan diện những rủi ro mà dự án có
thể gặp phải. Mặt khác nhiều dự án phức tạp, hiệu quả tài chính chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố có khả năng biến động lớn nhưng chỉ đánh giá độ nhạy với mức độ
bíên động thấp hơn nhiều so với khả năng có thể xảy ra. c. Nội dung thẩm định
Một số nội dung thẩm định bị bỏ sót hoặc chưa đảm bảo yêu cầu thẩm định. Đây là một hạn chế còn tồn tại ở nhiều NHTM nói chung, trong q trình thẩm định
cán bộ thẩm định đã không chú ý đến một số chỉ tiêu nhỏ hoặc chỉ tập trung vào phân tích hiệu quả tài chính và khả năng trả nợ của dự án trong khi các nội dung khác lại
phân tích chưa đảm bảo hoặc chưa đưa ra được những luận cứ xác đáng đối với yêu cầu của công tác thẩm định như: hiệu quả kinh tế xã hội của dự án mang lại, khả năng
điều hành của bộ máy lãnh đạo đối với dự án, đội ngũ kỹ thuật vận hành dự án; khả năng xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp phải xử lý; khả năng lạc hậu về công
nghệ, thiết bị... Các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế xã hội của dự án không được cán bộ thẩm định phân tích, đánh giá mà chỉ sử dụng vào những số liệu sẵn có trong hồ sơ của
dự án mà chủ đầu tư đưa ra. Đặc biệt việc thiếu những đánh giá về môi trường trong thẩm định dự án là
một trong những thíêu sót nghiêm trọng. Hiện nay, đối với bất kỳ một dự án nào
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
ngồi tính đến hiệu quả kinh tế, xã hội còn phải rất chú trọng đến tính bền vững của mơi trường. Nếu không đảm bảo yếu tố môi trường thị dự án cũng khơng đạt được
hiệu quả. Ngun nhân chính là do cán bộ thẩm định đơi khi còn chủ quan , hoặc tn thủ khơng chặt chẽ quy trình thẩm định, mặt khác chi nhánh đã chưa thực hiện tốt cơng
tác kiểm sốt thẩm định, nên đã để hiện tượng trên xảy ra. d. Về quy trình thẩm định
Tuy BIDV đã ban hành một quy trình thẩm định áp dụng thống nhất trong toàn hệ thống, nhưng thực tế khi thẩm định thì vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế:
- Thực tế, hoạt động thẩm định dự án đầu tư tại Chi nhánh được tiến hành bởi 2 phòng Quan hệ khách hàng và phòng Quản lý rủi ro. Trong khi đó, phòng Quan hệ khách
hàng được trực tiếp tiếp xúc với khách hàng xin vay vốn, còn phòng Quản lý rủi ro thì chỉ dựa trên hồ sơ do phòng Quan hệ khách hàng cung cấp nên thường có yếu tố chủ quan
trong thẩm định dự án đầu tư. Tuy nó tạo ra yếu tố khách quan trong q trình thẩm định, nhưng trong thực tế thơng thường ý kiến thẩm định của 2 phòng có nhiều sự trái ngược
nhau. Điều này ảnh hưởng đến mục tiêu thời gian thẩm định dự án đầu tư đặt ra của Chi nhánh, đồng thời ảnh hưởng đến việc đưa dự án vào hoạt động của chủ đầu tư.
- Quy trình thẩm định được ban hành áp dụng cho tất cả các dự án xin vay vốn tại Ngân hàng. Tuy nhiên trên thực tế, không phải dự án nào cũng tương tự như nhau.
Chính vì vậy cần có những hướng dẫn cụ thể cho từng loại dự án đầu tư. Như vậy mới đảm bảo chất lượng của công tác thẩm định dự án đầu tư.
e. Cán bộ thẩm định dự án đầu tư NHĐTPT Hà tây có một đội ngũ cán bộ tín dụng trẻ, tuy được đào tạo
chuyên sâu về nghiệp vụ trong trường lớp và có sự nhiệt tình trong cơng tác nhưng mới chỉ làm quen với mơi trường tài chính ngân hàng, khơng có chun mơn về kỹ
thuật nên còn gặp nhiều khó khăn trong thẩm định các lĩnh vực khác nhau, chưa linh hoạt trong cơng tác thẩm định, còn cứng nhắc trong việc xử lý các nội dung
thẩm định cũng như áp dụng các phương pháp thẩm định. Mặt khác với việc làm kết hợp cả nghiệp vụ tín dụng lẫn nghiệp vụ thẩm định
đã tạo ra cường độ làm việc căng thẳng tình trạng làm thêm giờ là phổ biến nên chất lượng công tác cũng chưa cao.
1.5.2.2. Những nguyên nhân
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
a. Nguyên nhân khách quan
- Cơ chế chính sách và hệ thống pháp luật của Nhà nước
Đây là một yếu tố khách quan tác động đến hiệu quả hoạt động của cơng tác thẩm định dự án đầu tư nói riêng cũng như hiệu quả hoạt động của Chi nhánh nói chung.
Hiện nay, hệ thống chính sách và pháp luật về hoạt động cho vay của các Ngân hàng thương mại tuy đã được sửa đổi và bổ sung nhưng chưa thực sự đảm bảo
được sự bình đẳng và thuận lợi cho hoạt động của Ngân hàng. Đặc biệt là những chế tài xử lý những hành vi cung cấp thông tin sai lệch của các chủ đầu tư, hay của các
bên có liên quan. Mà trách nhiệm vẫn chủ yếu là thuộc về ngân hàng. - Môi trường kinh tế
Các nghiệp vụ ngân hàng chịu ảnh hưởng trực tiếp và sau sắc bởi những đặc trưng của nền kinh tế nói chung và mục đích hoạt động của ngân hàng nói riêng trong
từng thời kì nhất định. Nhiệp vụ thẩm định dự án đầu tư cũng khơng đứng ngồi nguyên tắc này.
- Trình độ năng lực của chủ đầu tư Khách hàng xin vay theo dự án đầu tư tại chi nhánh NHĐTPT Hà Tây rất đa
dạng, không kể đến một số TCT lớn như TCT Sông Đà, Vinaconex, thì hầu hết là các cơng ty vừa và nhỏ có trụ sở hoặc dự án xin vay đóng tại địa bàn Tỉnh và khu vực Hà
Nội. Về ngành nghề kinh doanh của họ cũng rất đa dạng, khó có thể đánh giá được chính xác về mức độ tin cậy và khả năng kinh doanh của họ nếu mới tiếp xúc lần đầu,
do vậy có một số trường hợp khách hàng khơng kê khai trung thực về tình hình hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính khiến ngân hàng khó nắm bắt được chính xác
khả năng thực sự của khách hàng làm giai đoạn thẩm định khách hàng gặp khó khăn. Một số khách hàng do trình độ lập dự án còn yếu kém nên phải nhiều lần sửa chữa,
bổ xung làm cho công tác thẩm định vừa mất thời gian vừa thiếu chính xác. - Sự hợp tác giữa các Ngân hàng thương mại còn nhiều hạn chế, nếu khơng
muốn nói là rất ít do đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nguồn thơng tin về khách hàng vay vốn. Khách hàng không chỉ có quan hệ tín dụng với duy nhất một Ngân
hàng, do đó cần có sự liên hệ hợp tác giữa các Ngân hàng để thu thập thông tin về các khoản nợ và quan hệ tín dụng của khách hàng đối với các Ngân hàng khác.
b. Nguyên nhân chủ quan
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
- Yếu tố con người chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác thẩm định dự án
đầu tư: Cán bộ thẩm định thường gặp khó khăn trong bước thẩm định khía cạnh thị
trường, khía cạnh kỹ thuật của dự án…bởi đa phần chỉ là thẩm định trên giấy tờ. Do đó ảnh hưởng đến độ chính xác của các thơng số đầu vào của dự án, từ đó ảnh hưởng
đến chất lượng thẩm định dự án. Hơn nữa, hiện nay Chi nhánh có những cán bộ thẩm định còn trẻ. Tuy đây là
một lợi thế chuyên môn khá, năng động, khả năng nhạy bén với những thay đổi của thị trường nhưng họ chưa tích luỹ được nhiều kinh nghiệm thực tế, mà việc thẩm
định dự án yêu cầu đòi hỏi cán bộ thẩm định đơi khi phải có kinh nghiệm, nên khả năng phân tích, dự đốn về tính khả thi của dự án còn nhiều hạn chế. Điều này có thể
dẫn đến sai sót trong các kết luận thẩm định. - Yếu tố thông tin phục vụ cho công tác thẩm định dự án: Thông tin phục vụ
cho công tác thẩm định chủ yếu được lấy từ hồ sơ vay vốn của khách hàng mà nguồn thông tin này lại khơng mang tính khách quan, cán bộ thẩm định sẽ phải đánh giá lại
tính chính xác của các thơng tin này, còn thơng tin lấy thêm từ các nguồn khác, như: báo chí, internet, các bạn hàng, các tổ chức tín dụng khác… nhưng lại mang tính chắp
vá, số lượng khơng nhiều và thiếu tính cập nhật. - Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động thẩm định dự án đầu tư: Hiện nay hoạt
động thẩm định tại Chi nhánh vẫn thiếu nhiều trang thiết bị hiện đại phục vụ cho việc phân tích, đánh giá, dự báo. Bên cạnh đó, hầu hết các chỉ tiêu hiệu quả tài chính trong
thẩm định tài chính dự án đầu tư chủ yếu được thực hiện trong phần mềm Microsoft Excel.
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
Chương II: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Hà Tây
2.1. Định hướng tín dụng của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây trong thời gian tới
2.1.1. Môi trường và cơ hội kinh doanh của Hà Tây Hà Tây có lợi thế lớn nhất là nằm ở tâm điểm khu vực Đồng bằng sông Hồng,
nay đã sát nhập với thủ đơ Hà Nội- Trung tâm chính trị, kinh tế và thương mại lớn nhất của đất nước, thị trường rộng lớn thu hút và tiêu thụ nguồn hàng hóa dịch vụ của
cả vùng. Hệ thống giao thơng đường bộ, đường sắt, đường thủy của Hà tây tương đối phát triển, thuận lợi cho việc giao lưu nhất là nối vùng Tây bắc với Hà Nội và vùng
Đồng bằng Bắc bộ. Mặt khác Hà Tây được đánh giá là khu vực có số lượng làng nghề cao nhất cả nước với 1160 làng nghề trong đó có 201 làng được UBND Tỉnh
cũ công nhận là làng nghề truyền thống. Đồng thời đây cũng là địa bàn có nhiều di tích lịch sử văn hóa và cảnh quan phong phú là tiềm năng lớn để phát triển du lịch.
Cùng với đó là hệ thống các khu, cụm, điểm cơng nghiệp phát triển tạo nên một địa bàn hấp dẫn, thu hút đầu tư. Quan trọng nhất là trong thời gian tới đây với việc Chính
phủ cho triển khai các dự án xây dựng Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, Khu Công nghệ cao Láng – Hòa Lạc dọc theo đường 21 - phần
lớn đi qua địa bàn tỉnh Hà tây cũ là những dự án lớn mang tầm cỡ quốc gia, là điều kiện rất thuận lợi cho phát triển kinh tế và cũng là cơ hội vàng cho các ngân hàng trên
địa bàn tỉnh góp vốn chung sức thực hiện thành cơng chương trình này. Hiện trên địa bàn Hà Tây có 4 NHTM, 1 ngân hàng chính sách xã hội và hàng chục tổ chức tín
dụng có mạng lưới kinh doanh trên khắp các huyện thị, trong đó NHĐTPT Hà Tây được đánh giá là ngân hàng đi đầu trong sự nghiệp đầu tư phát triển của tỉnh cũ, do
đó hiện chi nhánh cũng đang nắm bắt những cơ hội này để kinh doanh ngày một hiệu quả hơn.
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
2.1.2. Định hướng và mục tiêu hoạt động tín dụng của Chi nhánh NHĐTPT Hà Tây năm 2009
2.1.2.1. Mục tiêu - Bám sát chỉ đạo của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam để nỗ lực
phấn đấu phát triển cả về quy mô và chất lượng. - Tuân thủ quy chế quản trị điều hành vủa BIDV
- Chỉ đạo quyết liệt thực hiện các chỉ tiêu kinh doanh gắn với kiểm soát chặt chẽ rủi ro đảm bảo hoạt động an toàn, chất lượng và hiệu quả.
- Tập trung cho công tác đào tạo và đào tạo cán bộ. Đặc biệt là cán bộ mới và giao dịch viên bán hàng.
- Mở rộng mạng lưới hoạt động và cơ cấu lại một số Phòng, Điểm giao dịch, quỹ tiết kiệm theo Quyết định 13 của Thống đốc và chỉ đạo của BIDV
Các chỉ tiêu cơ bản : + Tăng trưởng Tổng tài sản: 18năm
+ Huy động vốn cuối kỳ tăng: 25 + Huy động vốn bình quân tăng: 25
+ Dư nợ tín dụng cuối kỳ tăng: 23 + Dư nợ tín dụng bình qn tăng: 25
+ Thu dịch vụ ròng tăng: 35 + Trích đủ dự phòng rủi ro theo Quyết định 493
+ Tỷ lệ nợ xấu : ≤ 1,6 + Cơ cấu tín dụng :
- Tỷ trọng trung dài hạn trong tổng dư nợ : 38 - Tỷ trọng dư nợ bán lẻ trong tổng dư nợ : 12
- Tỷ trọng dư nợ ngoài quốc doanh trong tổng dư nợ : 50 - Tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo trong tổng dư nợ : 63
2.1.2.2. Phương hướng hoạt động a. Hoạt động huy động vốn
- Chủ động theo sát các động thái của thị trường, điều chỉnh lãi suất linh hoạt, kịp thời lãi suất huy động, cho vay phù hợp với lãi suất FTP. Cơ cấu lại nguồn vốn
theo hướng tăng trưởng nguồn vốn huy động dài hạn.
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
- Tiếp tục bám sát hoạt động của các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tận dụng tối đa mối quan hệ để tăng cường công tác tiếp thị và mở rộng thu hút các khách hàng
có tiềm lực nguồn vốn nhàn rỗi quan hệ với Chi nhánh. - Thường xuyên phân tích, đánh giá hiệu quả đối với từng sản phẩm huy động
vốn, từng đối tượng khách hàng, từ đó có giải pháp ứng xử phù hợp đối với từng sản phẩm huy động vốn, từng nhóm khách hàng nhằm nâng cao khả năng sinh lời, hiệu
quả kinh doanh. b. Hoạt động tín dụng
- Tuân thủ đúng giới hạn tín dụng TW giao từng thời kỳ, gắn tăng trưởng tín dụng phù hợp với khả năng huy động vốn. Tăng cường kiểm soát rủi ro và nâng cao
chất lượng tín dụng. - Giữ vững và phát triển nền khách hàng đã có, khai thác tối đa nhu cầu của khách
hàng để cung cấp các sản phẩm ngân hàng. Đẩy mạnh công tác tiếp thị đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cung ứng các sản phẩm tín dụng bán lẻ, tiêu dùng.
- Có chính sách linh hoạt về lãi suất, phí, thời gian giải quyết công việc, không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng.
- Xây dựng các biện pháp hữu hiệu tập trung chỉ đạo thu hồi nợ xấu, thu lãi treo.
c. Phát triển sản phẩm dịch vụ - Giao kế hoạch triển khai cụ thể từng sản phẩm tới từng Phòng, từng điểm giao
dịch, từng cán bộ; Đánh giá kết quả gắn với thi đua, khen thưởng. - Phân nhóm khách hàng theo tiêu thức cụ thể, để có thể có chính sách phục vụ linh
hoạt, chú trọng nhóm VIP. - Tăng cường tìm kiếm mở rộng khách hàng mới, tổ chức khuyến mại bằng nhiều
hình thức đối với từng loại sản phẩm dịch vụ khi cần thiết. - Tăng cường công tác quảng cáo, tuyên truyền đối với các tầng lớp dân cư về các
sản phẩm dịch vụ ngân hàng và tiện ích của nó. - Tiếp tục củng cố đẩy mạnh phát triển các sản phẩm dịch vụ truyền thống mang lại
hiệu quả như bảo lãnh, thanh tốn trong nước, thanh tốn quốc tế; Tích cực triển khai các sản phẩm mới của hệ thống.
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
- Xây dựng các kế hoạch triển khai từng sản phẩm dịch vụ cụ thể một cách có hiệu quả phù hợp với địa bàn, tới từng nhóm đối tượng khách hàng.
2.2. Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Chi nhánh NHĐTPT Hà Tây
2.2.1. Về nội dung thẩm định Mỗi dự án có quy mơ và tính chất rất khác nhau vì vậy nội dung thẩm định
không thể giống nhau. Trong một số trường hợp khi thẩm định cán bộ gặp một vài khó khăn ở một số nội dung nào đó, lúc đó khơng được phép bỏ qua mà phải tìm mọi
cách để khắc phục và cuối cùng có thể đưa ra được những phân tích đảm bảo yêu cầu của thẩm định.
Khi tiến hành thẩm định bất kỳ dự án đầu tư nào cũng có hai nội dung chính cần hết sức quan tâm. Dưới đây là một số giải pháp mang tính gợi ý cho cán bộ thẩm
định trong quá trình cơng tác: Một là thẩm định khách hàng vay vốn:
- Thẩm định về tư cách pháp lý và năng lực hoạt động của khách hàng. Bên cạnh tính hợp lệ và đầy đủ của các giấy tờ pháp lý, cán bộ cần chú ý tới năng lực hoạt
động của khách hàng so với quy mơ của dự án. Ví dụ một cơng ty cơ khí nhỏ của địa phương sẽ không đủ năng lực hoạt động để xin vay vốn đầu tư xây dựng một cơng
trình Thuỷ điện.... Trước khi tiến hành thẩm định, ngân hàng cần xác minh tính trung thực của
các số liệu do khách hàng cung cấp, đồng thời lưu ý đến những yếu tố sau: chẳng hạn, khoản phải thu trong báo cáo tài chính của khách hàng thì có bao nhiêu phần
trăm là khó đòi; Trong hàng tồn kho có bao nhiêu phần trăm là hàng kém phẩm chất ứ đọng; Vốn cố định biểu hiện dưới dạng máy móc thiết bị nhà xưởng lạc hậu, hay
hiện đại.... Trong khi tính tốn các chỉ tiêu tài chính ngân hàng nên kết hợp với đặc thù
sản xuất kinh doanh của lĩnh vực, ngành liên quan. Đồng thời cũng cần phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ để đánh giá chính xác năng lực quản lý ngân quỹ cũng
như khả năng thanh toán hiện tại và trong tương lai của khách hàng.
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
Bên cạnh những biện pháp mang tính kỹ thuật thẩm định, nên áp dụng cả những biện pháp, hay nghệ thuật thẩm định. Nghĩa là qua tiếp xúc trực tiếp với doanh
nghiệp, qua dư luận xã hội hoặc qua các phương tiện thông tin đại chúng, quan hệ với khách hàng... của danh nghiệp, cán bộ thẩm định có thể thu thập được nhiều thơng tin
so với những gì thể hiện trên giấy mà lại khơng gây khó dễ cho khách hàng. Hai là: Thẩm định dự án đầu tư xin vay
Một dự án đầu tư đòi hỏi phải được xem xét đầy đủ các nội dung cần thiết để đảm bảo được đánh giá một cách toàn diện, giúp cho việc ra quyết định được đầu tư
được chính xác. Cần phải nhận thức rằng mọi nội dung của dự án đều có mối quan hệ mật thiết với nhau: Kết quả thẩm định phương diện thị trường là cơ sở đánh giá việc
lựa chọn kỹ thuật, quy mô công suất máy móc thiết bị của dự án; Kết quả thẩm định phương diện kỹ thuật là cơ sở để tính tốn các dòng thu nhập, chi phí, xác định nên
hiệu quả tài chính của dự án. Trong khi hiệu quả tài chính lại là cơ sở để thẩm định hiệu quả kinh tế xã hội và quyết định phương án cho vay, thu nợ của ngân hàng.
- Khi thẩm định phương diện thị trường cần thu thập thông tin về: Số lượng doanh nghiệp sản xuất cùng loại sản phẩm trong một khu vực thị trường; Mức cầu sản
phẩm cùng loại trong những năm qua ít nhất là 5 năm để thấy được tốc độ tăng trưởng trong thời gian trước, làm cơ sở cho việc dự báo trong thời gian tới; ngồi ra
còn phải xem xét tới mức cung thực tế của các doanh nghiệp trên thi trường; Thông tin giá cả, dự báo thị trường trong nước và quốc tế. Đặc biệt còn phải nắm được quy
hoạch, kế hoạch đầu tư, định hướng phát triển do Bộ, ngành cơng bố để đảm bảo dự án là cơng trình được tiến hành theo đúng quy hoạch của Nhà nước.
- Khi tiến hành thẩm định phương diện kỹ thuật, với những dự án phức tạp vượt ra ngoài khả năng của cán bộ thẩm định thì việc thuê chuyên gia là hết sức cần thiết,
tránh tình trạng chấp nhận ngay những kết quả kỹ thuật do doanh nghiệp đưa đến. Đồng thời, bản thân ngân hàng cũng phải nghiên cứu, tìm hiểu về những ngành nghề,
sản phẩm của dự án do mình phụ trách. - Cần hết sức chú ý đến đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và tác động tới môi
trường của dự án. Không được coi nhẹ ảnh hưởng của mơi trường vì mơi trường là nhân tố tác động thường xuyên đến sự tồn tại và tính bền vững của dự án.
- Khi thẩm định phương diện tài chính của dự án cần chú ý một số điểm sau:
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
Thứ nhất là: Về dự toán và nguồn vốn đầu tư của dự án. Phải kiểm tra tính hợp lí về chi phí đầu tư dựa trên cơ sở những dự án tương tự điển hình khơng nên
chỉ dựa vào kế hoạch dự trù chi phí do chủ đầu tư đưa ra Thứ hai là:Vấn đề xác định dòng tiền của dự án. Dòng tiền của dự án cần
được tính tốn nhất quán theo quan điểm tổng mức đầu tư bao gồm cả vốn chủ sở hữu và vốn vay. Theo quan điểm này dòng tiền của dự án được tính tốn như sau:
Dòng tiền ròng của dự án = Dòng tiền đầu tư + Dòng tiền hoạt động OFC Trong đó : OFC = Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao + Lãi vay dài hạn
Đối với dòng tiền hoạt động, nếu vòng đời của dự án được tính tốn vượt quá thời gian khả dụng của máy móc thiết bị thì sẽ phải tính thêm chi phí nâng cấp máy
móc thiết bị và khi đó thời gian khấu hao cũng phải tăng lên tương ứng. Thứ ba: Đánh giá dự án trong điều kiện có lạm phát. Thời gian của một dự án
bao giờ cũng dài, mà trong dài hạn ln có sự thay đổi giá cả tức là ảnh hưởng của lạm phát đến dự án. Lạm phát dự tính có ảnh hưởng nhất định tới giá trị hiện tại ròng
NPV vì nó làm biến đổi cả dòng tiền kỳ vọng và tỷ lệ chíêt khấu. Cho nên khi đánh giá dự án phải luôn tuân thủ nguyên tắc: Tỷ lệ lãi suất danh nghĩa chỉ áp dụng đối với
những khoản thu nhập danh nghĩa và tỷ lệ lãi suất thực tế chỉ áp dụng với những khoản thu nhập thực tế. Nếu điều chỉnh lãi suất danh nghĩa theo lạm phát thì các
khoản thu nhập và chi phí của dự án thay đổi với cùng một tỷ lệ thấp hoặc cao hơn tỷ lệ lạm phát, trừ nhữngg khoản dựa trên những chi phí q khứ là khơng đổi vì giá
trị tiết kiệm do khấu hao mang lại thể hiện sự ổn định về tiền tệ. 2.2.2. Về phương pháp thẩm định
Để nâng cao chất lượng của công tác thẩm định dự án thì trước hết các NHTM Việt Nam nói chung cũng như chi nhánh NHĐTPT Hà Tây nói riêng cần hướng tới
việc hòan chỉnh hơn nữa các phương pháp thẩm định dự án, nhất là việc áp dụng các phương pháp thẩm định hiện đại vì đi cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì tính
chất của dự án cũng ngày một phức tạp hơn. + Chi nhánh cần có những quy định cụ thể thống nhất về các nội dung và phương
pháp thẩm định dự án, tuy nhiên quy định này cũng nên linh hoạt, nghĩa là tùy theo tính chất, quy mơ, mức độ phức tạp của dự án để lựa chọn các phương pháp thích
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
hợp. Đối với những dự án có quy mơ lớn, phức tạp cần tiến hành phân tích độ nhạy nhiều chiều. Ví dụ, đối với dự án ‘‘Mở rộng hoạt động SXKD đưa 10 xe ô tô Spark
LT Daewoo, 05 xe ô tô Kia Morning và 05 xe ô tô Huyndai vào hoạt động Taxi trên địa bàn Hà Đông và các tỉnh lân cận’’ của Công ty CP TM và DV Thành Công – Taxi
Sông Nhuệ 25 với tổng vốn đầu tư: 5.805.550.000,đồng. Trong đó: Vốn tự có: 2.905.550.000,đồng; Vốn vay: 2.900.000.000 đồng. Với lãi suất chiết khấu của dự án
là 21năm. Ta có thể phân tích độ nhạy hai chiều với các yếu tố là số ngày hoạt động của xe taxi và đơn giá 1km tác động đến các chỉ tiêu tài chính của dự án:
Khảo sát sự thay đổi của NPV
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
Bảng 2.1: Khảo sát sự thay đổi của NPV
Giá xe 1km đồng
Số ngày
hoạt động
trong năm
ngày
416,696,568 6.800
7.000 7.200
7.500 7.800
8.000 8.200
265 -631.022.806
-507.073.862 -383.124.919
-197.201.503 -11.278.087
112.670.857 236.619.801
270 -551.508.390
-425.220.786 -298.933.183
-109.501.778 79.929.626
206.217.230 332.504.833
278 -424.285.323
-294.255.865 -164.226.406
30.817.781 225.861.968
355.891.426 485.920.884
284 -328.868.022
-196.032.173 -63.196.324
136.057.450 335.311.224
468.147.073 600.982.922
290 -233.450.722
-97.808.482 37.833.759
241.297.119 444.760.480
580.402.720 716.044.961
300 -74.421.889
65.897.670 206.217.230
416.696.568 627.175.907
767.495.466 907.815.025
310 84.606.945
229.603.823 374.600.700
592.096.017 809.591.334
954.588.211 1.099.585.089
315 164.121.362
311.456.899 458.792.436
679.795.742 900.799.047
1.048.134.584 1.195.470.121
320 243.635.779
393.309.975 542.984.171
767.495.466 992.006.760
1.141.680.957 1.291.355.153
Nguồn: Báo cáo thẩm định dự án đầu tư
SV: Nguyễn Như Quỳnh Trang Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
Ta thấy, cho dù giá xe 1km là 7.800 đồng nhưng số ngày hoạt động là 265 ngày thì dự án đã khơng hiệu quả NPV0. Với kết quả tính tốn theo thơng số kĩ
thuật của dự án là giá xe 7.500 đồng 1km và hoạt động 300 ngày trong năm thì cho NPV dự án là 416.696.568 đồng. Trường hợp tốt nhất là giá xe 8.200 đồng1km và số
ngày hoạt động là 320 ngày1 năm thì cho NPV đạt kết quả tối ưu là 1.291.355.153 đồng. Như vậy cho kết quả tính tốn có độ an toàn chưa cao.
Khảo sát sự thay đổi của IRR
Bảng 2.2 : Khảo sát sự thay đổi của IRR
Số ngày
hoạt động
trong năm
ngày Giá xe 1km đồng

24.16 6800


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (101 trang)

×