1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Công nghệ - Môi trường >

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP: ĐIỀU KIỆN ĐỂ HOC SINH GIẢI BÀI TẬP ĐƯỢC TỐT: CÁC BƯỚC GIẢI BÀI TẬP TRÊN LỚP:

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (283.59 KB, 19 trang )


• Bài tập tính theo cơng thức và phương trình.
• Bài tập biện luận
• Bài tập dùng các giá trị trung bình…
8. Dựa vào mục đích sử dụng: •
Bài tập dùng kiểm tra đầu giờ •
Bài tập dùng củng cố kiến thức •
Bài tập dùng ơn tập, ơn luyện, tổng kết •
Bài tập dùng bồi dưỡng học sinh giỏi •
Bài tập dùng phụ đạo học sinh yếu,… Mỗi cách phân loại có những ưu và nhược điểm riêng của nó, tùy mỗi trường hợp cụ
thể mà giáo viên sử dụng hệ thống phân loại này hay hệ thống phân loại khác hay kết hợp các cách phân loại nhằm phát huy hết ưu điểm của nó.
Thường giáo viên sử dụng bài tập theo hướng phân loại sau: Bài tập giáo khoa:
Thường dưới dạng câu hỏi và khơng tính tốn nhằm làm chính xác khái niệm; củng
cố, hệ thống hóa kiến thức; vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Các dạng hay gặp: viết phương trình phản ứng, hồn thành chuỗi phản ứng, nhận biết,
điều chế, tách chất, giải thích hiện tượng, bài tập về tính chất hóa học các chất, … Có thể phân thành 2 loại :
+ Bài tập lý thuyết củng cố lý thuyết đã học + Bài tập thực nghiệm : vừa củng cố lý thuyết vừa rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo thực
hành, có ý nghĩa lớn trong việc gắn liền lý thuyết với thực hành. Bài tập toán:
Là những bài tập gắn liền với tính tốn, thao tác trên các số liệu để tìm được số liệu khác, bao hàm 2 tính chất tốn học và hóa học trong bài.
Tính chất hóa học: dùng ngơn ngữ hóa học kiến thức hóa học mới giải được như vừa đủ, hoàn toàn, khan, hidrocacbon no, khơng no, … và các phương trình phản ứng xảy ra.
Tính chất tốn học: dùng phép tính đại số , qui tắc tam suất, giải hệ phương trình, … Hóa học là một môn khoa học tự nhiên, tất yếu khơng tránh khỏi việc liên mơi với
tốn, lý, đặc điểm này cũng góp phần phát triển tư duy logic cho học sinh. Hiện nay, hầu hết các bài tập tóa hóa đánh nhấn việc rèn luyện tư duy hóa học cho học sinh, giảm dần thuật
toán.

I.1.5 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP:


1- Tính theo cơng thức và phương trình phản ứng 2- Phương pháp bảo tồn khối lượng
3- Phương pháp tăng giảm khối lượng 4- Phương pháp bảo tồn electron
5- Phương pháp dùng các giá trị trung bình
• Khối lượng mol trung bình
SVTH : Phan Thị Thùy 9
• Hóa trị trung bình
• Số ngun tử C, H, … trung bình

Số liên kết π
trung bình •
Gố hydrocacbon trung bình •
Số nhóm chức trung bình, … 6- Phương pháp ghép ẩn số
7- Phương pháp tự chọn lượng chất 8- Phương pháp biện luận …

I.1.6 ĐIỀU KIỆN ĐỂ HOC SINH GIẢI BÀI TẬP ĐƯỢC TỐT:


1. Nắm chắc lý thuyết: các định luật, qui tắc, các q trình hóa học, tính chất lý hóa học của các chất.
2. Nắm được các dạng bài tập cơ bản, nhanh chóng xác định bài tập cần giải thuộc dạng bài tập nào.
3. Nắm được một số phương pháp giải thích hợp với từng dạng bài tập 4. Nắm được các bước giải một bài tốn hỗn hợp nói chung và với từng dạng bài nói
riêng 5. Biết được một số thủ thuật và phép biến đổi tốn học, cách giải phương trình và hệ
phương trình bậc 1,2, …

I.1.7 CÁC BƯỚC GIẢI BÀI TẬP TRÊN LỚP:


1. Tóm tắt đầu bài một cách ngắn gọn trên bảng. Bài tập về các q trình hóa học có thể dùng sơ đồ.
2. Xử lý các số liệu dạng thơ thành dạng căn bản có thể bước này trước khi tóm tắt đầu bài
3. Viết các phương trình phản ứng xảy ra nếu có 4. Gợi ý và hướng dẫn học sinh suy nghĩ tìm lời giải:
- Phân tích dữ kiện của đề bài xem từ đó cho ta biết được những gì
- Liên hệ với các dạng bài tập cơ bản đã giải
- Suy luận ngược từ u cầu của bài tốn
5. Trình bày lời giải 6. Tóm tắt, hệ thống những vấn đề cần thiết, quan trọng rút ra từ bài tập về kiến thức, kĩ
năng, phương pháp
I.1.8 CƠ SỞ THỰC TIỄN: Thực tế nhiều trường phổ thơng, số tiết hóa trong tuần ít, phần lớn dùng vào việc giảng
bài mới và củng cố các bài tập cơ bản trong sách giáo khoa. Bài tập giáo khoa mở rộng và các bài tập toán chỉ được đề cập ở mức thấp. Khi đọc đề bài tập hóa nhiều học sinh bị lúng túng
khơng định hướng được cách giải, nghĩa là chưa hiểu rõ bài hay chưa xác định được mối liên hệ giữa giả thiết và cái cần tìm.
Các nguyên nhân làm học sinh lúng túng và sai lầm khi giải bài tập hóa học:
SVTH : Phan Thị Thùy 10
• Chưa hiểu một cách chính xác các khái niệm, ngơn ngữ hóa học ví dụ như : nồng độ
mol, dd loãng, đặc, vừa đủ, … •
Chưa thuộc hay hiểu để có thể viết đúng các phương trình phản ứng, chưa nắm được các định luật cơ bản của hóa học
• Chưa thành thạo những kĩ năng cơ bản về hóa học, tốn học cân bằng phản ứng, đổi
số mol, V, nồng độ, lập tỉ lệ, … •
Khơng nhìn ra được mối tương quan giữa các giả thiết, giả thiết với kết luận để có thể lựa chọn và sử dụng phương pháp thích hợp đối với từng bài cụ thể.
SVTH : Phan Thị Thùy 11

I.2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUYÊN NGÀNH


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

×