1. Trang chủ >
  2. Giáo Dục - Đào Tạo >
  3. Cao đẳng - Đại học >

Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.75 MB, 205 trang )


Chương 11: Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
150
Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước thể hiện trình độ tư duy, và vận dụng của Đảng ta về quy luật về sự phù
hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đây là mơ hình kinh tế tổng qt của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
11.1.4. Những giải pháp để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Muốn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Dưới đây là những giải pháp chủ yếu nhất:

11.1.4.1. Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần


Tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ là một trong những điều kiện cơ sở để thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển, nhờ đó mà sử dụng có hiệu quả sức mạnh tổng hợp của
mọi thành phần kinh tế. Trong đó kinh tế nhà nước phải được củng cố và tăng cường, thừa nhận và khuyến khích các thành phần kinh tế cá thể, tư nhân phát triển là nhận thức quan trọng về xây
dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ. Theo hướng đó mà khu vực kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và các hình thức kinh tế hỗn hợp khác đều được khuyến khích phát triển
theo định hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội..
Quan điểm chỉ đạo trong chính sách kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước là:Tất cả các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, tuy vị trí, quy mơ, tỷ trọng, trình độ có
khác nhau nhưng tất cả đều là nội lực của nền kinh tế thị trường định hướng theo xã hội chủ nghĩa. 11.1.4.2. Mở rộng phân công lao động, phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ, tạo lập đồng bộ yếu tố
thị trường
Thực hiện phân công lao động: Phân công lao động là cơ sở của sản xuất và trao đổi sản phẩm. Để đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hóa, cần phải thực hiện phân công lao động trong
nước gắn với phân công lao động quốc tế. Phát triển đồng bộ các dạng thị trường, từ đó mà khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng về
vốn, sức lao động, trí tuệ, tài nguyên. 11.1.4.3. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và cơng nghệ, đẩy mạnh cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa
Vai trò của yếu tố khoa hoc, cơng nghệ: Trong kinh tế thị trường, các doanh nghiệp chỉ có thể đứng vững trong cạnh tranh nếu thường xuyên đổi mới cơng nghệ để hạ chi phí, nâng cao chất
lượng sản phẩm. Muốn vậy, phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu mới của cuộc cách mạng khoa học và cơng nghệ vào q trình sản xuất và lưu thơng hàng hóa. Đặc
biệt Việt Nam trình độ cơng nghệ còn lạc hậu, khơng đồng bộ, do đó, hàng hóa Việt Nam mất khả năng cạnh tranh cả trên thị trường trong và ngoài nước. Bởi vậy, để phát triển kinh tế hàng hóa,
chúng ta phải đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Hệ thống kết cấu hạ tầng cơ sở và dịch vụ hiện đại, đồng bộ cũng đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội. Hệ thống đó ở nước ta đã quá lạc hậu, không đồng bộ, mất cân
đối nghiêm trọng nên đã cản trở nhiều đến quyết tâm của các nhà đầu tư cả ở trong nước lẫn nước
Chương 11: Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
151
ngoài, cản trở phát triển kinh tế hàng hóa. Vì thế, cần gấp rút xây dựng và củng cố các yếu tố của hệ thống kết cấu đó. Trước mắt, cần tập trung ưu tiên xây dựng, nâng cấp một số yếu tố thiết yếu
nhất như đường xá, cầu cống, bến cảng, sân bay, điện, nước, hệ thống thông tin liên lạc, ngân hàng, dịch vụ bảo hiểm…
11.1.4.4. Giữ vững ổn định chính trị, hồn thiện hệ thống luật pháp, đổi mới chính sách tài chính, tiền tệ, giá cả
Sự ổn định chính trị bao giờ cũng là nhân tố quan trọng để phát triển. Nó là điều kiện để các nhà sản xuất kinh doanh trong nước và nước ngoài yên tâm đầu tư. Giữ vững ổn định chính trị
ở nước ta hiện nay là giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân.
Hệ thống pháp luật đồng bộ là công cụ rất quan trọng để quản lý nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Nó tạo nên hành lang pháp lý cho tất cả mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của
các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước. Với hệ thống pháp luật đồng bộ và pháp chế nghiêm ngặt, các doanh nghiệp chỉ có thể làm giàu trên cơ sở tuân thủ luật pháp.
Đổi mới chính sách tài chính tiền tệ, giá cả nhằm mục tiêu thúc đẩy sản xuất phát triển; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, bảo đảm quản lý thống nhất nền tài chính quốc
gia, giảm bội chi ngân sách, góp phần khống chế và kiểm sốt lạm phát; xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng.
11.1.4.5. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mô, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và các nhà kinh doanh giỏi
Hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mơ phải được kiện tồn phù hợp với nhu cầu kinh tế thị trường. Điều tiết bằng các công cụ: Chiến lược, kế hoạch kinh tế, pháp luật, chính sách và các đòn
bẩy kinh tế, thơng qua giáo dục, khuyến khích, hỗ trợ và cả bằng răn đe, trừng phạt, ngăn ngừa, điều tiết thông qua bộ máy nhà nước, các đoàn thể…
Xây dựng đội ngũ cán bộ: Thích nghi với cơ chế thị trường cần có đội ngũ cán bộ quản lý, kinh doanh tương ứng. Đó phải là những người có năng lực chun mơn giỏi, thích ứng với cơ
chế thị trường, dám chịu trách nhiệm, chịu rủi ro và trung thành với con đường xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đã chọn. Để có được đội ngũ cán bộ bên cạnh việc đào tạo và đào tạo lại, cần phải
có phương hướng sử dụng, bồi dưỡng, đãi ngộ đúng đắn với đội ngũ đó, nhằm kích thích việc khơng ngừng nâng cao trình độ, bản lĩnh quản lý, tài năng kinh doanh của họ. Cơ cấu của đội ngũ
cán bộ cần phải được chú ý đảm bảo ở cả phạm vi vĩ mô lẫn vi mô, cả cán bộ quản lý lẫn cán bộ kinh doanh.
11.1.4.6. Thực hiện chính sách đối ngoại có lợi cho phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác dụng của quan hệ đối ngoại: Trong điều kiện hiện nay, chỉ có mở cửa, hội nhập vào kinh tế thế giới và khu vực mới thu hút được vốn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại để khai thác
tiềm năng và thế mạnh của đất nước nhằm phát triển kinh tế nói chung, kinh tế hàng hóa , kinh tế thị trường nói riêng.
Chương 11: Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
152
Yêu cầu trong quan hệ đối ngoại: Thực hiện có hiệu quả kinh tế đối ngoại, chúng ta phải đa dạng hóa hình thức, đa phương hóa đối tác. Phải qn triệt ngun tắc đơi bên cùng có lợi,
khơng can thiệp vào nội bộ của nhau và không phân biệt chế độ chính trị - xã hội. Cải cách cơ chế quản lý xuất nhập khẩu, thu hút rộng rãi vốn và đầu tư nước ngoài, thu hút kỹ thuật, nhân tài và
kinh nghiệm quản lý.
Những giải pháp nói trên tác động qua lại với nhau, sẽ tạo nên sức mạnh thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa nước ta phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
11.2. VAI TRỊ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ CÁC CƠNG CỤ QUẢN LÝ VĨ MÔ ĐỐI VỚI KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
11.2.1. Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Nền kinh tế thị trường và cơ chế thị trường không làm giảm nhẹ sự quản lý của nhà nước Vấn đề là phương thức quản lý của nhà nước như thế nào để vừa đảm bảo đầy đủ các quy luật
khách quan của bản thân nền kinh tế thị trường vừa đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa. 11.2.1.1. Vai trò kinh tế của nhà nước
Một là: Nhà nước phải đảm bảo sự ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội và thiết lập khuôn khổ pháp luật để tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động kinh tế, từ đó mà phát triển kinh tế
Hai là: Nhà nước định hướng cho sự phát triển kinh tế và thực hiện điều tiết các hoạt động kinh tế để đảm bảo cho nền kinh tế thị trường tăng trưởng ổn định.
+ Xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển, đầu tư vào một số lĩnh vực trọng điểm để dẫn dắt nền kinh tế - xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế.
+ Nhà nước sử dụng chính sách tài chính, tiền tệ để ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế.
Ba là: Nhà nước đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả + Ngăn chặn những tác động xấu ảnh hưởng tới việc nâng cao hiệu quả kinh tế -xã hội
như lạm dụng tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường của các doanh nghiệp. + Nhà nước có nhiệm vụ bảo vệ cạnh tranh, chống độc quyền để nâng cao tính hiệu quả
của hoạt động thị trường. Bốn là: Nhà nước cần hạn chế, khắc phục các mặt hạn chế của cơ chế thị trường, thực
hiện công bằng xã hội Cơ chế thị trường có nhiều tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế, nhưng bản thân nó
khơng tự động mang lại những giá trị mà xã hội cố gắng vươn tới, vậy nên nhà nước phải thực hiện phân phối công bằng, thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát
triển kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội. Điều này thực hiên rõ rệt nhất tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở nước ta.
Chương 11: Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
153
11.2.1.2. Nội dung quản lý nền kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam.
Quyết định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Toàn bộ sự phát triển của nền kinh tế phụ thuộc trước hết vào đường lối và chiến lược phát
triển kinh tế. Để xây dựng chiến lược đúng, có căn cứ khoa học, cần phân tích đúng thực trạng kinh tế -xã hội, xác định rõ mục tiêu phát triển, lựa chọn phương án tối ưu. Muốn vậy cần thực
hiện dân chủ hóa, thể chế hóa quyết sách.
Kế hoạch, đây là kế hoạch thực hiện mục tiêu chiến lược, nó là sự triển khai, cụ thể hóa chiến lược. Kế hoạch xác định mục tiêu dài và ngắn hạn, nêu ra các biện pháp và phương thức
thực hiện các mục tiêu đó. Tổ chức, là một nội dung của quản lý nhằm đảm bảo thực hiện kế hoạch đã định. Nó gồm
việc bố trí hợp lý cơ cấu, xác định rõ chức năng, quyền hạn, trách nhiệm của các tố chức và dựa vào yêu cầu cụ thể của các cơ cấu để lựa chọn và bố trí cán bộ thích hợp.
Chỉ huy và phối hợp nền kinh tế là một hệ thống phức tạp, bao gồm nhiều chủ thể khác nhau, vì thế để cho nền kinh tế hoạt động bình thường, có hiệu quả, cần có sự chỉ huy thống nhất.
Muốn vậy phải có cơ quan quản lý thống nhất, đó là cơ quan có quyền lực, có đầy đủ thơng tin về mọi mặt để điều hòa, phối hợp các mặt hoạt động của nền sản xuất xã hội, giải quyết kịp thời các
vấn đề nảy sinh để đảm bảo sự cân bằng tổng thể của nền kinh tế.
Khuyến khích hoặc trừng phạt. Thơng qua các đòn bẩy kinh tế và cùng với khuyến khích mọi tổ chức kinh tế hoạt động và thực hiện nhiệm vụ của kế hoạch. Muốn vậy phải có chế độ
thưởng phạt rõ ràng, nếu theo đúng định hướng của kế hoạch, làm lợi cho nền kinh tế thì được khuyến khích, ngược lại thì phải ngăn chặn và trừng phạt.
11.2.2. Các công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 11.2.2.1. Hệ thống pháp luật
Vai trò của hệ thống pháp luật: Hệ thống pháp luật là một công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước, nó tạo ra khn khổ pháp luật cho các chủ thể kinh tế hoạt động, nó phát huy mặt tích cực,
hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hệ thống pháp luật gồm: Những điều luật cơ bản về hoạt động của các doanh nghiệp, về hợp đồng kinh tế, về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, bảo vệ môi trường … Các luật đó điều chỉnh
hành vi của các chủ kinh tế buộc các doanh nghiệp phải chấp nhận sự điều tiết của Nhà nước. 11.2.2.2. Kế hoạch hóa.
Cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là kết hợp với thị trường. Kế hoạch và thị trường là hai công cụ quả lý của nhà nước, chúng được kết hợp chặt chẽ
với nhau.
Chương 11: Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
154
Điều tiết của thị trường là cơ sở phân phân phối các nguồn lực, còn kế hoạch sẽ khắc phục tính tự phát của thị trường, làm cho nền kinh tế phát triển theo định hướng của kế hoạch. Kế
hoạch được định hướng trên cơ sở thị trường. 11.2.2.3. Lực lượng kinh tế của Nhà nước
Cùng với các cơng cụ trên, Nhà nước còn quản lý nền kinh tế bằng lực lượng kinh tế của nhà nước, thông qua hai thành phần kinh tế là nhà nước và tập thể, để chúng dần trở thành nền
tảng của nền kinh tế, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Nhờ đó Nhà nước có sức mạnh vật
chất để điều tiết, hướng dẫn nền kinh tế theo mục tiêu kinh tế - xã hội do kế hoạch đặt ra. 11.2.2.4. Chính sách tài chính và tiền tệ
Chính sách tài chính: Thơng qua việc hình thành và sử dụng ngân sách nhà nước, Nhà nước điều chỉnh phân bố các nguồn lực kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng, đảm bảo công bằng
trong phân phối và thực hiện các chức năng của mình. Ngân sách nhà nước gồm các khoản thu và chi. Bộ phận chủ yếu của các khoản thu là thuế. Chính sách thuế đúng đắn khơng chỉ tạo nguồn
thu cho ngân sách mà còn khuyến khích sản xuất, điều tiết tiêu dùng.
Chính sách tiền tệ: Chính sách tiền tệ phải khống chế được lượng tiền phát hành và tổng quy mơ cho tín dụng. Trong chính sách tiền tệ, lãi suất là công cụ quan trong, là phương tiện điều
tiết cung, cầu tiền tệ. Việc thắt chặt hay nới lỏng cung ứng tiền tệ, kìm chế lạm phát thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng sẽ tác động trực tiếp đến nền kinh tế.

11.2.2.5. Công cụ điều tiết kinh tế đối ngoại.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (205 trang)

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×