1. Trang chủ >
  2. Khoa Học Tự Nhiên >
  3. Sinh học >

Tỉ lệ phân ly giới tính:

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.12 MB, 26 trang )


Các nghiên cứu về sau cho thấy sự xác định giới tính của sinh giới cũng phức tạp và đa dạng.
a Cá thể đực dị giao tử : kiểu XX – XY và XX – XO
Nhiều loài gồm người và các động vật có vú khác có cơ chế xác định giới tính XX-XY. Ở các sinh vật này có các NST thường giống nhau ở cá thể đực và cái, nhhưng con đực có
cặp NST giới tính XY, còn ở con cái là XX. Các con đực khi tạo thành gia tử thì một nửa giao tử mang NST X, còn nửa còn lại mang NST Y nên được gọi là giới tính dị giao tử. Ví
dụ : người nam tạo 2 loại giao tử: 22A + X và 22A + Y. Giới tính cái khi tạo thành giao tử chỉ có một loại duy nhất mang X nên được gọi là giới tính đồng giao tử.
Cào cào, châu chấu, gián và một số cơn trùng có kiểu xác định giới tính XX- XO. Con cái chứa 2 NST XX, còn con đực chỉ chứa 1 NST X nên viết là XO. Kiểu này cũng tương
XX-XY, chỉ khác ở chỗ con đực dị giao tử thành 2 loại giao tử : 1 loại mang X, còn loại kia khơng mang X.
b Cá thể cái dị giao tử : kiểu ZZ – ZW
Ở chim, một số loài cá và một số cơn trùng gồm cả bướm, con mái có giới tính dị giao tử. Để tránh sự nhầm lẫn khi kí hiệu, các NST giới tính lồi này được dùng chữ Z và W.
Các chim trống gà trống là ZZ, còn các chim mái gà mái là ZW.
c Đơn bội – Lưỡng bội
Con ong đực được phát triển trinh sinh khơng có sự thụ tinh giữa các giao tử từ trứng khơng thụ tinh và có bộ NST đơn bội. Trong kiểu xác định giới tính này khơng có NST
giới tính, nó đặc trưng ở các cơn trùng bộ Hymenoptera gồm các loài ong và kiến. Số lượng cá thể của đàn và thức ăn cho ấu trùng sẽ xác định con cái sẽ trở thành ong thợ bất
thụ hay ong chúa hữu thụ chuyên sinh sản. Tỉ lệ giới tính của đan ong được xác định do ong chúa. Phần lớn trứng được thụ tinh trở thành ong thợ, một số trứng khơng thụ tinh thì
trở thành ong đực.Thường ong chúa chỉ thụ tinh một lần trong đời.
Sự xác định giới tính của các lồi này liên quan đến bộ NST đơn bội hay lưỡng bội. Các cá thể cái phát triển từ trứng thụ tinh nên có bộ NST lưỡng bội. Còn các con đực phát
triển tử trứng khơng được thụ tinh nên có bộ NST đơn bội.
d Giới tính do sự cân bằng di truyền
Ở ruồi giấm, sựu hiện diện của NST Y rất quan trọng cho sự hữu thụ của ruồi đực nhưng nó khơng có vai trò trong xác định giới tính. Trên thực tế các nhân tố xác định tính đực của
ruồi giấm nằm trên tất cả các NST thường trong trạng thái “đối trọng” với các nhân tố xác định tính cái trên nhiễm sắc thể X.
Nếu bộ đơn bội của NST thường xác định tính đực có giá trị bằng 1 thì mỗi NST X mang các nhân tố xác định tính cái có giá trị là 1 ½. Quy định A đại diện cho bộ NST đơn bội
thường, thì ở con đực thường AAXY phải có tỉ lệ nhân tố xác định đực là 2 : ½ {tức là A=1 + A=1 : X=1 ½ + Y=0}. Còn là ruồi cái AAXX bình thường thì theo tỉ lệ 2 : 3 {A=1
+ A=1 : X=1 ½ + X=1 ½ }. Một số trường hợp bất thường xác định giả thuyết cân bằng di truyền nêu trên : ruồi XXY
là cái, còn XO là đực.
Lồi Nhiễm sắc thể giới tính
XX XY
XXY XO
Người Nữ
Nam Nam
Nữ Drosophila
Cái Đực
Cái Đực

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (26 trang)

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×