1. Trang chủ >
  2. Công Nghệ Thông Tin >
  3. Tin học văn phòng >

Văn bản và chế độ làm việc trong cơ chế quản lý Văn bản và vấn đề ủy quyền trong quản lý

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (537.05 KB, 181 trang )


- Các sở, cơ quan trực thuộc UBND ra các Quyết định có tính chất quản lý ngành tại địa phương tuân theo pháp luật và cá quy định quản lý của cấp trên.
Lập pháp, lập quy là hoạt động dựa vào khoa học lập pháp, lập quy, là ngành khoa học ứng dụng. Khoa học lập pháp, lập quy nghiên cứu các vấn đề:
sáng kiến, lập pháp, lập chương trình làm luật; thẩm tra dự án văn bản; thơng qua dự án; công bố văn bản pháp luật…
Lập pháp, lập quy liên quan đên thẩm quyền của cac cơ quan Nhà nước. Thẩm quyền là một vấn đề của khoa học tổ chức Nhà nước, khoa học
pháp lý. Lập pháp, lập quy liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng. Vấn đề Đảng
cầm quyền, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước thuộc về khoa học chính trị, khoa học pháp lý.
Lập pháp, lập quy liên quan đến quyền, tự do, lợi ích và nghĩa vụ của nhân dân, là biểu hiện cụ thẻ quan hệ giữa Nhà nước và công dân, phản ánh
địa vị công dân trong xã hội.

2.2. Văn bản và chế độ làm việc trong cơ chế quản lý


Đặc điểm cơ cấu tổ chức bộ máy của Nhà nước ta được xác định: - Quốc hội làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số.
- Chính phủ là cơ quan làm việc theo chế độ tập thể, những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Chính phủ được thảo luận tập thể và quyết định
theo đa số. Chính phủ vừa là một thiết chế làm việc theo chế độ tập thể, vừa đề cao vai trò của cá nhân Thủ tướng Chính phủ- người đứng đầu Chính phủ,
quyết định những vấn đề điều hành, thường xuyên của Chính phủ, lãnh đạo cộng tác của Chính phủ. Nó vừa đảm bảo sự lãnh đạo tập thể của Chính phủ,
vừa bảo đảm sự quản lý của người đứng đầu Chính phủ- Thủ tướng Chính phủ. Sẽ xuất hiện hai loại văn bản: Văn bản của tập thể Chính phủ do Thủ
tướng thay mặt Chính phủ ký và loại thứ hai xuất hiện trong điều hành, quản lý do Thủ tướng nhân danh mình ký.
18
- Bộ trưởng làm việc theo chế độ thủ trưởng. Bộ trưởng là thành viên của Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Chính phủ và Quốc hội và đồng thời là
thủ trưởng cơ quan quản lý theo ngành hay lĩnh vực. - UBND làm việc theo chế độ tập thể. UBND là cơq uan chấp hành của
HĐND và là cơ quan hành chính của Nhà nước ở địa phương. Khi quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương, UBND phải thảo luận tập thể và ra
quyết định theo đa số. UBND hoạt động dưới sự điều hành thống nhất của Chủ tịch, vừa có tính tập thể của UBND, vừa có vị trí cá nhân cảu Chủ tịch
lãnh đạo.

2.3. Văn bản và vấn đề ủy quyền trong quản lý


Nghiên cứu văn bản, không thể không đề cập đến vấn đề ủy quyền. Trong quản lý việc điều hành gắn liền với quyền lực. Quyền lực là
quyền ra quyết định và điều khiển hoạt động của người khác.Trong quản lý, một người được bổ nhiệm ở vị trí nào đó, được giao một nhiệm vụ, giữ một
trọng trách tức là đã có quyền lực. Sự phân bổ quyền lực ở một số tổ chức khác nhau có thể sẽ khác nhau. Trong một tổ chức với một quy mô nào đó,
xuất phát từ thực tế khách quan mà đòi hỏi phải có sự ủy quyền. Ủy quyền là quá trình cấp trên trao quyền hành động và ra quyết định trong những phạm vi
nào đó cho cấp dưới. Song về nguyên tắc phải chịu trách nhiệm về công việc đã ủy quyền.
Một đặc điểm nổi bật trong hệ thống luật pháp của ta là: Quốc hội được tổ chức theo hình thức một Viện. Đại biểu Quốc hội phần lớn là kiêm nhiệm.
Quyền lập pháp về nguyên tắc thuộc Quốc hội. Song do điều kiện không hoạt động liên tục mà Quốc hội ủy quyền cho Ủy ban thường vụ quốc hội
UBTVQH ban hành Pháp lệnh. Quyền lập quy, về cơ bản là của Chính phủ. Song vì đặc điểm quản lý
theo địa phương, lãnh thổ và quyền tự chủ của Chính quyền địa phương mà Chính phủ cũng ủy quyền cho Chính quyền địa phương tham gia cơng tác lập
quy. 19
Một hệ thống, tổ chức đơn vị cụ thể, vấn đề ủy quyền cũng được biểu hiện rõ nét. Sự ủy quyền ở đây được phân định:
- Thủ trưởng và phó thủ trưởng đơn vị ký những văn bản có nội dung quan trọng.
- Cán bộ phụ trách dưới thủ trưởng cơ quan một cấp có thể được ủy quyền ký một số văn bản thông thường, giao dịch.
Việc ủy quyền phải được thể hiện bằng văn bản hoặc ghi trong quy chế làm việc của cơ quan. Người được ủy quyền không được ủy quyền lại cho
người káhc. Một yêu cầu ở đây là: để tránh sự chồng chéo, sự lạm quyền, người ủy quyền phải thường xuyên kiểm sốt những cơng việc của người
được ủy quyền. Các văn bản quản lý hiện hành của ta hiện này đang sử dụng hệ thống
ký hiệu biểu đạt tính pháp lý của các cá nhân ký văn bản: - Nhân danh cơ quan
Thủ trưởng ký: Ví dụ
Giám đốc Ký – dấu
- Ký thay Thủ trưởng cơ quan ký:
Ví dụ KT Giám đốc
Phó Giám đốc Ký – dấu
Một hệ thống các ký hiệu và mỗi ký hiệu có một đặc điểm riêng biệt mà đòi hỏi người nghiên cứu văn bản phải hiểu thấu đáo:
TL… TM…
TUQ… Trong thực tế khơng ít những văn bản quản lý do xét duyệt không kỹ,
cẩu thả hoặc sử dụng các ký hiệu tùy tiện, mà phần ký hiệu sai so với quy định.
Chẳng hạn: . TM cơ quan cơ quan làm việc theo chế độ thủ trưởng 20
Thủ trưởng Ký – dấu
. TM CBCNV
Thủ trưởng Ký – dấu . TL Giám đốc
Phó phòng TCCB Ký – dấu . Chủ tịch công đoan….Ký – dấu
Nghị định của Chính phủ số 1421963NĐ – HĐCP ban hành điều lệ về cơng tác Cơng văn:
Điều 15: “ Thủ trưởng, phó thủ trưởng các cơ quan pahỉ ký các Công văn nói
đến các vấn đề quan trọng như phương châm, chính sách, chương trình, chủ trương, kế hoạch cơng tác, những báo cáo, những Công văn xin Chỉ thị cấp
trên, những Nghị quyết, Thông tư, Chỉ thị về công tác gửi cấp dưới… Trong trường hợp đặc biệt, thủ trưởng cơ quan có thể ủy quyền cho cán
bộ phụ trách dưới thủ trưởng cơ quan một cấp ký những Công văn mà theo luật lệ do Thủ trưởng cơ quan ký.
Việc ủy quyền này phải được hạn chế trong một thời gian nhất định. Người được ủy quyền không ký Công văn được ủy quyền lại”..
===============
21

CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP SOẠN THẢO VĂN BẢN VÀ NGÔN NGỮ


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (181 trang)

×