1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Xuất khẩu giá CIF, nhập khẩu giá FOB: góp phần giảm nhập siêu.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (317.76 KB, 33 trang )


thuê tàu và giao hàng tại cảng Việt Nam. Khi quyền thuê tàu là của thương nhân nước ngoài kể cả khi một đại lý vận tải của Việt Nam làm thủ tục thuê
tàu theo hợp đồng ủy quyền thì quyền lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm hàng hóa tất yếu cũng thuộc quyền của thương nhân nước ngồi. Việc
thương nhân nước ngồi tìm đến và mua bảo hiểm của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm Việt Nam cho hàng hóa của họ có lẽ chỉ đếm được trên đầu
ngón tay.
Đất nước ta đang trong q trình đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng năm là rất lớn và có xu hướng tăng
nhanh. Chẳng hạn, năm 2008, xuất khẩu của nước ta đạt khoảng 62 tỷ USD, nhập khẩu xấp xỉ 90 tỷ USD. Phí bảo hiểm cho lượng hàng hóa này là một
số khổng lồ. Vì vậy, để tuột khỏi tay quyền thu phí bảo hiểm với lượng hàng hóa đó là một thiệt hại vơ cùng lớn không chỉ đối với các doanh nghiệp
kinh doanh bảo hiểm mà còn với tồn bộ nền kinh tế quốc dân.

3.2. Xuất khẩu giá CIF, nhập khẩu giá FOB: góp phần giảm nhập siêu.


Theo điều kiện cơ sở giao hàng cif thì người bán là người có nghĩa vụ th tàu và mua bảo hiểm, còn theo fob là người mua là người thuê tàu và
mua bảo hiểm cho hàng hóa. Vì vậy, khi các doanh nghiệp VN nhập cif và xuất fob đã chuyển quyền được thuê tàu và mua bảo hiểm về hàng hóa cho
các đối tác. Như vậy, khi nhập khẩu cif thì doanh nghiệp nhập khẩu Việt Nam ngồi việc phải nhập khẩu hàng hóa, lại còn nhập khẩu thêm dịch vụ
bảo hiểm cho hàng hóa và vận chuyển hàng hóa. Điều này làm tăng việc xuất khẩu ngoại tệ trong nước, và làm tăng kim ngạch nhập khẩu trong
nước. Cũng tương tự như vậy, đối với các doanh nghiệp VN xuất khẩu theo điều kiện Fob thì đã khơng tiết kiệm được phần ngoại tệ nếu giành được
quyền về thuê tàu và mua bảo hiểm cho hàng hóa. Chính vì ngun nhân như vậy đã làm tăng việc nhập siêu của nước ta lên cao hơn. Khi các DN
XK đều giao hàng theo điều kiện CIF, thì chắc chắn thị trường dịch vụ cho thuê tàu biển và các sản phẩm bảo hiểm của các DN cung cấp dịch vụ này
trong nước sẽ có thêm cơ hội phát triển, tăng doanh thu. Các DN XK cũng được lợi vì sẽ thu được trị giá ngoại tệ cao hơn, so với XK theo điều kiện
FOB. Ngoài ra, nếu DN thiếu vốn, có thể dùng tín dụng thư LC thế chấp tại ngân hàng, sẽ vay được số tiền cao hơn. DN lại được quyền chủ động
trong việc giao hàng, không phải lệ thuộc vào việc điều tàu do người NK chỉ định.
Theo tính tốn, nếu sử dụng dịch vụ vận tải và bảo hiểm trong nước để XK
24
theo điều kiện CIF thì trong năm 2007 Việt Nam đã có thể thu thêm hơn 3 tỉ USD tiền XK các dịch vụ vận chuyển quốc tế và bảo hiểm hàng hố. Tức là
thay vì chỉ XK được 48,56 tỉ USD, giá trị XK của Việt Nam sẽ đạt 51,95 tỉ USD. Chiều ngược lại, nếu tất cả các DN trong nước NK theo điều kiện
FOB, thuê tàu và mua bảo hiểm VN, trả phí bằng đồng Việt Nam, thì chỉ phải thanh tốn 58,32 tỉ USD hàng NK, thay vì 62,7 tỉ USD như hiện nay.
Số ngoại tệ do tiết kiệm được tiền bảo hiểm và cước tàu phải trả cho nước ngoài giảm tới 4,38 tỉ USD. Như vậy, nếu việc XK theo điều kiện CIF và
NK theo điều kiện FOB được thực hiện một cách tuyệt đối trong năm 2007, thì cán cân nhập siêu của Việt Nam có thể giảm còn 6,37 tỉ USD, thay vì
14,14 tỉ USD. Tức là nhập siêu có thể giảm tới 60năm.Cũng vẫn giả sử như trên, năm 2008 chúng ta sẽ xuất khẩu được 67,309 tỷ USD thay vì chỉ
có 62,906 tỷ USD và như vậỵ thì nhập siêu chỉ là 7,478 tỷ USD thay vì 17,51 tỷ USD nếu tiến hành xuất giá FOB và nhập giá CIF. Đến năm 2009
các chỉ tiêu này lần lượt là, xuất khẩu đạt 76,059 tỷ USD thay vì chỉ có 71,084 tỷ USD và như vậy thì nhập siêu chỉ là 10,694 tỷ USD thay vì 22,199
tỷ USD. Như vậy cán cân xuất nhập khẩu quốc gia đã được cải thiện đáng kể. Tương tự nếu tất cả các doanh nghiệp trong nước nhập khẩu theo điều
kiện FOB, kim ngạch nhập khẩu trong năm 2007 của cả nước chỉ là 58,32 tỷ USD, thay và 62,7 tỷ USD nhập khẩu theo điều kiện CIF. Số ngoại tệ nhập
khẩu giảm 4,38 tỷ USD, do chúng ta tiết kiệm được tiền bảo hiểm và cước tàu phải trả cho nước ngoài. Cũng vẫn giả sử trên thì năm 2008 và năm 2009
kim ngạch nhập khẩu của nước ta lần lượt là 74,787 tỷ USD và 86,753 tỷ USD thay vì 80,416 tỷ USD và 90,283 tỷ USD nếu nhập khẩu theo giá CIF.
Như vậy tiết kiệm được 1 lượng lớn ngoại tệ cho đất nước.
25
BẢNG PHÂN TÍCH SỐ LIỆU XK THEO ĐIỀU KIỆN CIF – NK THEO ĐIỀU KIỆN FOB
Điều kiện F.O.B
Tỷ USD Bảo hiểm I
+ Cước vận tải F
Tỷ USD Điều kiện CIF
Tỷ USD Cán cân xuất
siêu
dự kiến Tỷ USD
Năm 2007 - Xuất khẩu
- Nhập khẩu
48,56 58,32
+3,39 -4,38
51,95 62,7
-6,37
Năm 2008 - Xuất
khẩu - Nhập
khẩu
62,906 74,787
+4,403 - 5,629
67,309 80,416
-7,478
Năm 2009 - Xuất
khẩu - Nhập
khẩu
71,084 86,753
+4,975 -6,5299
76,059 93,283
-10,694
Ghi chú: - Tỷ lệ phí bảo hiểm hàng hố từ: 0,2 - 0,9 trên trị giá CIF, tuỳ theo
loại hàng hoá. - Tỷ lệ cước tàu từ 5 – 10 trên trị giá CIF, tuỳ theo tỷ trọng của hàng
hoá, địa điểm giao hàng, phương tiện vận chuyển tàu hoặc container. - Tỷ lệ bảo hiểm I và cước tàu F: Theo bảng tính trên lấy trung bình
là 7.
Ngồi ra, điều này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty vận tải ở Việt Nam phát triển: trong thời gian qua, các công ty vận tải của Việt Nam
phát triển chưa mạnh so với các nước trong khu vực như Thái Lan,
26
Singapore… nguyên nhân chủ yếu là do “cầu” chưa tăng. Do đó, nếu các nhà xuất khẩu chọn điều kiện nhóm C thay thế nhóm F thì sẽ “cầu” tất yếu
sẽ gia tăng, vì đối với nhóm C, nhà xuất khẩu chịu chi phí vận tải chính nên chủ yếu sẽ thuê các công ty vận tải ở Việt Nam vận chuyển. Khi đó các cơng
ty vận tải có cơ hội để phát triển mạng lưới vận tải quốc tế, góp phần khẳng định vị thế của công ty vận tải ở Việt Nam trên thị trường thế giới. Doanh
nghiệp cung cấp dịch vụ bảo hiểm và tàu hoặc container của Việt Nam đang rất thiếu việc làm, nếu các nhà xuất khẩu liên hệ mua bảo hiểm hàng
hoá và thuê tàu container trong nước, chắc chắn sẽ làm tăng doanh số cho các doanh nghiệp này, giải quyết thêm việc làm cho cộng đồng của chúng ta,
hơn là để các cơng ty nước ngồi thu được phí bảo hiểm và cước tàu
Các cơng ty bảo hiểm ở Việt Nam cũng có điều kiện để phát triển: mặc dù kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa ở nước ta tăng liên tục nhưng hoạt động
bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu phát triển còn thấp. Do đó, nếu các nhà xuất khẩu chọn điều kiện nhóm C điều kiện CIP và CIF thay nhóm F thay
thì các cơng ty bảo hiểm ở Việt Nam có cơ hội để nâng cao chất lượng và phát triển dịch vụ bảo hiểm hàng hóa xuất khẩu.
Góp phần tạo thêm việc làm cho người lao động: như đã trình bày ở trên, đối với điều kiện nhóm C sẽ góp phần làm tăng nguồn ngoại tệ, tạo điều kiện để
các công ty vận tải, bảo hiểm... ở Việt Nam phát triển. Khi đó các cơng ty vận tải hoặc bảo hiểm sẽ thuê thêm lao động. Hơn nữa, để thực hiện điều
kiện nhóm C, nhà xuất khẩu cần có thêm cán bộ giỏi về nghiệp vụ vận tải và bảo hiểm. Do đó, việc lựa chọn điều kiện nhóm C, các nhà xuất khẩu Việt
Nam góp phần tạo thêm việc làm cho người lao động, thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển.
Việc các DN nhập khẩu yêu cầu đối tác nước ngoài chào hàng theo điều kiện FOB, cũng rất có lợi đối với DN trực tiếp NK. Họ sẽ phải trả ít tiền ký quỹ
hơn để mở LC, khơng phải lo ngay tiền vận chuyển vì khi hàng cập cảng họ mới có nghĩa vụ phải chi tiền, DN cũng không bị tồn vốn hoặc không phải
trả lãi vay ngân hàng cho khoản tiền cước tàu, giảm được giá thành hàng NK. Theo thông lệ, các cá nhân giao dịch trực tiếp cũng được hưởng “hoa
hồng” của các công ty bảo hiểm và hãng tàu. Họ xứng đáng được hưởng khi xúc tiến xuất nhập khẩu theo giải pháp này, thay vì mất tiền trả cho bảo
hiểm và cước tàu nước ngoài.
27
Nhà xuất khẩu chủ động trong việc giao hàng: đối với điều kiện nhóm C,
nhà xuất khẩu chịu trách nhiệm thuê phương tiện vận tải nên biết rõ thời gian nào các phương tiện vận tải sẵn sàng nhận hàng nên nhà xuất khẩu chủ
động trong việc thu gom và tập kết hàng hóa. Trong khi đó nếu xuất khẩu theo điều kiện nhóm F, nhà xuất khẩu bị lệ thuộc vào việc điều phương tiện
vận tải do người nhập khẩu chỉ định và đôi khi chậm trễ có thể làm hư hỏng hàng hóa đã tập kết tại cảng hoặc kho. . Đối với doanh nghiệp xuất khẩu trực
tiếp: Nếu xuất khẩu theo điều kiện CIF, sẽ thu được trị giá ngoại tệ cao hơn, so với việc xuất khẩu theo điều kiện FOB. Ngoài ra, nếu doanh nghiệp thiếu
vốn, có thể dùng thư tín dụng LC thế chấp tại ngân hàng, sẽ vay được số tiền cao hơn. Doanh nghiệp rất chủ động trong việc giao hàng, không phải lệ
thuộc vào việc điều tàu hoặc container do người nhập khẩu chỉ định.
Đối với các cán bộ nghiệp vụ trong các doanh nghiệp xuất nhập khẩu: Theo thông lệ, các công ty bảo hiểm và hãng tàu, ln ln trích lại một tỷ
lệ gọi là “tiền hoa hồng-commission” cho những người giao dịch trực tiếp với họ. Số tiền này không hề ảnh hưởng đến tiền hàng cost của doanh
nghiệp.
Ngồi ra, nhà xuất khẩu còn có những lợi ích khác như: lượng ngoại tệ thu được nhiều hơn, nếu thiếu vốn, nhà xuất khẩu sẽ được tài trợ vốn
nhiều hơn, được tiền giảm giá hay hoa hồng từ các công ty vận tải hoặc công ty bảo hiểm… góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và khẳng định vị thế
của doanh nghiệp trên thương trường quốc tế.
Như vậy việc XK theo điều kiện CIF, NK theo điều kiện FOB sẽ tiết kiệm được ngoại tệ từ cước phí vận chuyển, tạo ra lợi ích cho quốc gia, cho doanh
nghiệp và cho cá nhân, góp phần giảm nhập siêu đồng thời góp phần xây dựng đội ngũ tàu biển và vận tải phát triển công nghiệp quốc tế của VN.

Phần 3: Nguyên nhân xuất khẩu FOB, nhập khẩu CIF ở Việt Nam.


-Thứ nhất là do thói quen buôn bán. - Hai là : trong hoạt động kinh doanh, khi và chỉ khi người kinh doanh coi
việc bảo đảm hiệu quả kinh doanh cao nhất trong điều kiện pháp luật cho phép là mục tiêu thì họ mới kiên quyết và tìm mọi cách để thay đổi tập quán
28

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (33 trang)

×