1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Đội tàu THỰC TRẠNG CÁC HÃNG VẬN TẢI HÀNG HOÁ ĐƯỜNG BIỂN CỦA VIỆT NAM:

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (556.87 KB, 35 trang )


Việt Nam cũng có tiềm năng về đường biển, có nguồn hàng hoá dồi dào, chưa kể đến lượng hàng có thể khai thác từ Lào, vùng Vân Nam Trung Quốc... đi bằng đường bộ
để đến cảng biển Việt Nam vì gần nhất, kinh tế nhất. Tiếc thay, Việt Nam lại khơng có cảng nước sâu cho tàu trọng tải lớn tàu mẹ vào
ăn hàng. Các tàu lớn đều neo đậu ở các cảng Cao Hùng Đài Loan, Singapore để chờ các tàu nhỏ chở hàng từ cảng của Việt Nam ra, phí vận chuyển đã cao, quãng đường đi vòng
tốn bao nhiêu chi phí khác như cảng phí, xăng dầu, nhân công, thiết bị..., gây ra thiệt đơn thiệt kép. Vì vậy, muốn làm giàu phải phát triển kinh tế biển, trong đó cảng biển quốc tế
có vai trò đặc biệt quan trọng.

2. Đội tàu


Hiện tại, đội tàu biển quốc gia có 970 tàu, xếp thứ 60152 quốc gia có tàu mang cờ quốc tịch và xếp thứ 411 nước ASEAN. Con số 970 tàu mang cờ quốc tịch Việt Nam này không phải
là nhiều song cũng không hẳn là q ít. Đội tàu vận tải Việt Nam khơng thiếu tàu mà chủ yếu là thiếu chất lượng.
Khuynh hướng phát triển
Đơn vị: 1000 DWT
16
10 20
30 40
50 60
70
2004 2010
2020
Điểm yếu: •
Đội tàu cũ và lạc hậu, tỉ trọng các tàu có tuổi từ 20 đến 25 và trên 25 chiếm phần lớn, vào khoảng 17 và 25 trong tổng số tàu của Tổng công ty. Nếu như so sánh
tuổi tàu trên với tuổi tàu của một công ty Nhật Bản như NIPPONSTEEL SHIPPING CO.,LTD chẳng hạn thì tỷ lệ đó q cao, đội tàu của cơng ty này
khơng có tàu trên 20 tuổi, tàu cũ nhất được đóng năm 1988 đến nay cũng chưa đầy 20 tuổi, còn lại là các tàu được đóng sau năm 1990, tỉ lệ tàu dưới 5 tuổi là 617 tức
là 38.
• Do chất lượng kỹ thuật và quản lý kém nên số lượt tàu bị lưu giữ tại cảng nước
ngoài ngày càng nhiều.
Gần như đã thành thơng lệ, chính quyền cảng PSC các nước cứ thấy tàu Việt Nam là kiểm tra. Trong năm 2005, có 346 lượt tàu biển Việt Nam bị kiểm tra, tăng 102 lượt so với năm
2004. Trong số này có tới 315 tàu có khiếm khuyết tăng 100 lượt tàu và 55 tàu đã bị lưu giữ để khắc phục các khiếm khuyết nghiêm trọng tăng 17 lượt tàu so với năm trước.
Ơng Nguyễn Trọng Tường, Phó Trưởng phòng Tàu biển, Cục Đăng kiểm Việt Nam, cho biết, nguyên nhân tàu biển VN bị lưu giữ nhiều chủ yếu là các khiếm khuyết về quản lý tàu, trình
độ thuyền viên, trang thiết bị cứu sinh, cứu hỏa, thiếu sót hồ sơ tài liệu tàu và bằng cấp thuyền viên.
Qua kiểm tra của Cục Đăng kiểm, trong số 284 tàu biển Việt Nam hiện chạy tuyến quốc tế, có tới 60 chiếc nằm trong “danh sách đen”, tức là khả năng đáp ứng các yêu cầu quốc tế rất
17
kém do các nguyên nhân: tuổi tàu “già” khoảng 25- 30 năm, các công ty tư nhân quản lý ít kinh nghiệm, tàu xuất xưởng từ các đơn vị đóng mới nên chất lượng chưa ổn định... Với số
tàu này, Đăng kiểm VN cũng bắt buộc phải tăng cường kiểm tra kỹ thuật bất thường để đảm bảo an tồn hàng hải.

Về cỡ tàu và loại tàu, đội tàu của Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam tương đối đa dạng, nhiều kích cỡ khác nhau. Đội tàu có cả các tàu hàng khơ tổng hợp, tàu chở
dầu, tàu chở hàng rời và tàu hàng lỏng, tuy nhiên các tàu hầu hết là cỡ nhỏ vài nghìn DWT là chủ yếu. Riêng đội tàu Container về số lượng khá lớn nhưng chỉ là
các tàu feeder, cỡ nhỏ. Tổng sức chứa toàn bộ đội tàu khoảng 8000 TEU, trong khi đó tàu Container khai thác trên các tuyến liner của thế giới đã có tàu sức chứa
10.000 TEU, một con tàu mà sức chứa lớn hơn sức chứa của cả đội tàu VN. So sánh cỡ tàu của Việt Nam với cỡ tàu của công ty NIPPON STEEL SHIPPING
CO.,LTD, ta thấy các tàu của ta quá nhỏ bé, rất yếu thế trên thị trường vận tải khi có các cơng ty như vậy tham gia. Cơng ty Nhật Bản trên chỉ có 17 tàu nhưng khơng
có tàu dưới 45000 DWT, nhiều tàu lớn đến cỡ trọng tải hơn 200.000 DWT.
• Về kết quả hoạt động, năm 2003 Tổng công ty Hàng Hải VN đã đạt kết quả hoạt
động tăng cao so với các năm trước nhưng sản lượng vận chuyển của gần 100 con tàu do Tổng công ty khai thác cũng chỉ đạt khoảng 18 triệu tấn, doanh thu khoảng
2900 tỉ đồng, lợi nhuận đạt khoảng 20 tỉ đồng. Trong khi đó, 17 con tàu của một công ty vận tải Nhật Bản đã đạt trên 28 triệu tấn, doanh thu khoảng 27 triệu yên,
tương đương khoảng 2700 tỉ đồng VN, lợi nhuận đạt 928.691.000 yên, tương đương khoảng 93 tỉ đồng VN.
Hiệu quả khai thác tàu của ta rất thấp, tỉ suất lợi nhuận tính theo doanh thu chỉ đạt
khoảng 1, trong khi đó tỉ suất của cơng ty NB là 3, gấp 3 lần tỉ suất của ta. Tổng giá trị tài sản cố định ròng của Tổng cơng ty Hàng Hải VN năm 2003 khoảng 2500 tỉ đồng VN, suất lợi
nhuận trên giá trị này đạt 1năm. Trong khi đó các con số tương ứng mà công ty vận tải thép Nhật Bản là giá trị tài sản ròng 500 tỉ, tỉ suất lợi nhuận tính theo giá trị đó là 19năm,
gấp tới 19 lần hiệu quả mà Tổng công ty Hàng Hải VN đạt được trong cùng một kỳ kinh doanh.
• Đội tàu biển VN cạnh tranh kém vì thiếu tàu:
“Thị phần vận tải biển của đội tàu nước ta quá thấp”, “đội tàu biển VN thua ngay trên sân nhà”...thực tế trên đã làm đau đầu các nhà vận tải biển. Thị phần vận tải hàng hoá biển của
các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chỉ đáp ứng được 15 tổng giá trị XNK,”85 miếng bánh thị phần” vẫn nằm trong tay thương thuyền nước ngoài. Câu hỏi đặt ra là liệu có phải
đội tàu VN cạnh tranh kém vì thiếu tàu?
Theo ơng Nguyễn Hồng Tiệm, Trưởng Ban Vận tải và dịch vụ Cục Hàng Hải VN:” Có khơng ít những doanh nghiệp vận tải biển VN đang quản lý một đội tàu già cỗi, không đáp
ứng kịp thời yêu cầu của thị trường hàng hoá hoặc khai thác kém hiệu quả nên không đủ sức cạnh tranh với các hãng tàu nước ngoài.
Các chủ hàng nước ngoài rất hiếm khi thuê tàu VN chuyên chở. Thực tế hiện nay, chính ta đang “thừa tàu”. Song cũng cần lưu ý rằng “thừa” ở đây là “thừa” tàu củ, tàu già, còn tàu
mới, tàu tốt thì có bao nhiêu cũng không thể gọi là thừa. Cũng theo ông Nguyễn Hoàng Tiệm, thị phần vận tải đội tàu của chúng ta thấp vẫn là do
những nguyên nhân “biết rồi, khổ lắm”. Các chủ hàng nội của ta đã quen với tập quán bán
18
FOB tại VN dẫn tới người mua hàng ở nước ngồi được “mua tận gốc” và có quyền chỉ định tàu chuyên chở. Mặt khác, các chủ hàng ngoại lại chỉ thích bán CIF tức là “bán tận ngọn” và
dành luôn quyền lựa chọn tàu chuyên chở. Nguyên nhân trên đã dẫn tới tình trạng dư thừa về mặt số lượng của đội tàu biển của chúng ta.
Theo tính tốn, đội tàu container Việt Nam sẽ phải bổ sung khoảng 40.000 TEU trọng tải tàu mới có thể đảm nhận 25 nhu cầu vận chuyển hàng hóa xuất, nhập khẩu. Vào thời điểm đó,
tổng nhu cầu sử dụng vỏ container ở thị trường Việt Nam sẽ vào khoảng 100.000-135.000 TEU.
Tại Việt Nam hiện có trên 70 hãng tàu container nước ngoài hoạt động. Các hãng tàu này chia nhau gần như toàn bộ thị trường xuất, nhập khẩu bằng container với doanh số vận chuyển
hàng tỷ USD mỗi năm.

3. Cảng biển


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (35 trang)

×