1. Trang chủ >
  2. Khoa Học Tự Nhiên >
  3. Hóa học - Dầu khí >

CÁC PHƢƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN CỦA PHỨC TRONG DUNG DỊCH [15].

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (927.42 KB, 111 trang )


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.lrc-tnu.edu.vn
20 VD: Để đạt được độ chiết R = 99 theo 1.11 ta có
2
100 lg
lg10 2
[ ]
1 [
]
A A
p n p n
C C
A A
 
 
do đó
2 lg
1
hc n
p V
D V
 
 
 
 
với
. 1
hc n
V D
D r V
 

1
hc n
V r
V 

Khi đó
2 2
7 lg 2
0,301 p
 

Như vậy với điều kiện chiết như trên thì để đạt được chiết R = 99 ta phải tiến hành 7 lần chiết.
1.8. CÁC PHƢƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN CỦA PHỨC TRONG DUNG DỊCH [15].
Hiện nay có rất nhiều phương pháp để xác định thành phần của phức như: phương pháp hệ đồng phân tử, phương pháp tỉ số mol, phương pháp
đường thẳng Asmus, phương pháp chuyển dịch cân bằng, phương pháp Staric-Bacbanel,... Tuỳ theo độ bền của phức mà áp dụng các phương pháp
thích hợp khác nhau. Ở đây chúng tôi sử dụng các phương pháp tỉ số mol,
phương pháp hệ đồng phân tử, phương pháp Staric-Bacbanel [3, 8, 21]. 1.8.1. Phƣơng pháp tỉ số mol phƣơng pháp đƣờng cong bão hoà .
Mục đích của phương pháp này là xác định tỉ lệ giữa ion kim loại và thuốc thử hữu cơ trong phức
Phương pháp này dựa trên cơ sở xây dựng sự phụ thuộc của A hay 
A vào sự biến thiên nồng độ một trong hai cấu tử trong khi nồng độ của cấu tử
kia được giữ hằng định. Nếu phức bền thì đồ thị thu được là hai đường thẳng cắt nhau đường 1.
Tỉ số nồng độ C
M
C
R
hoặc C
R
C
M
tại điểm cắt chính là tỉ số của các cấu tử trong phức. Trong đó C
M
: Nồng độ kim loại, C
R
: Nồng độ thuốc thử.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.lrc-tnu.edu.vn
21 Trong trường hợp phức kém bền thu được đường cong. Để xác định
điểm cắt phải ngoại suy từ 2 đoạn tuyến tính. Trong thực tế để thực hiện phương pháp tỉ số mol người ta thực hiện hai dãy
dung dịch. Dãy 1: giữ cố định thể tích kim loại V
M
= const sau đó thay đổi thể tích của thuốc thử.
Dãy 2: giữ cố định thể tích thuốc thử V
R
= const sau đó thay đổi thể tích của kim loại. Để tìm hồnh độ giao điểm cắt ta cho hai đường thẳng của hai
nhánh đồ thị cắt nhau. Phạm vi áp dụng: Phương pháp tỉ số mol không dùng cho phức rất kém bền.
1.8.2. Phƣơng pháp hệ đồng phần tử phƣơng pháp biến đổi liên tục - Oxtromuxlenko-Job
Mục đích của phương pháp này là xác định tỉ lệ giữa ion kim loại và thuốc thử hữu cơ trong phức. Hệ đồng phân tử là dãy dung dịch có tổng nồng
độ C
R
+ C
M
= Const nhưng tỉ số C
R
C
M
thay đổi. Để có một dãy hệ đồng phân tử gam chúng tôi pha các dung dịch như sau: pha các dung dịch kim loại và
1 2
 A
i
C
R
C
M
hoặc C
M
C
R
Hình 1.4: Phức có tỉ lệ 1:1
X

1: Phức bền
2: Phức kém bền
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.lrc-tnu.edu.vn
22 thuốc thử có nồng độ bằng nhau rồi trộn chúng theo tỉ lệ khác nhau. Sau đó đo
mật độ quang ở lực ion và pH bằng định, bước sóng tối ưu đã chọn. Tiếp theo là xây dựng sự phụ thuộc của A hay
 A
i
vào tỉ lệ V
R
V
M
hay C
R
C
M
hoặc C
R
C
M
+ C
R
. 
A
i
= fC
R
C
M
= f C
R
C
M
+ C
R
. Khi biểu diễn sự phụ thuộc này trên đồ thị thì: Đối với phức bền ta thu
được hai đường thẳng cắt nhau, giao điểm đó gọi là điểm cực đại. Đối với phức kém bền ta thu được hai đường cong để tìm điểm cực đại phải ngoại suy
hai phần tuyến tính của hai nhánh, điểm mà hai nhánh ngoại suy cắt nhau chính là điểm cực đại. Điểm cực đại sẽ ứng với tỉ lệ các hệ số tỉ lượng ở trong
phức.
Phương pháp đồng phân tử gam có ưu điểm là: đơn giản, dễ thực hiện nhưng chỉ thực hiện được trong các điều kiện sau:
- Hệ chỉ tạo 1 phức bền. - Các cấu tử M, R không phân ly, không thuỷ phân, và không tạo hợp
chất polyme. - Lực ion được giữ bằng định.
Hình 1.5:
 A
i
C
R
C
M
+ C
R
Phức có tỉ lệ 1:1
2 1
1: phøc bỊn 2: phøc kÐm bỊn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.lrc-tnu.edu.vn
23 - Kết quả chỉ chính xác với phức có tỉ lệ: 1:1; 1:2; 1:3. Với phức có tỉ lệ
cao hơn cho kết quả kém tin tưởng. Hai phương pháp trên chỉ xác định được tỉ lệ thành phần của phức chứ chưa xác định được là phức đơn nhân hay đa
nhân. 1.8.3. Phƣơng pháp Staric-Bacbanel phƣơng pháp hiệu xuất tƣơng đối
Mục đích của phương pháp là xác định hệ số của ion kim loại và hệ số của thuốc thử hữu cơ đi vào phức hay xác định xem phức nghiên cứu là đơn
nhân hay đa nhân. Cơ sở của phương pháp này dựa trên việc dùng phương trình tổng đại số
các hệ số tỉ lượng của các cấu tử tham gia phản ứng, phương trình này đặc trưng cho thành phần của hỗn hợp cân bằng trong điểm có tỉ lệ cực đại của nồng độ
phức so nồng độ biến thiên ban đầu của một trong các cấu tử tạo phức. Xét phản ứng tạo phức: mM + nR
M
m
R
n

MmRn
1.1
Ở nồng độ hằng định của cấu tử M và nồng độ biến thiên của cấu tử R thì nồng độ phức tạo thành C
K
được xác định bằng phương trình Staric- Bacbanel.
1 1
M K
C n
C m m
n 
  
1.2 m là hệ số của ion kim loại đi vào phức; n là hệ số của thuốc thử hữu cơ đi vào
phức. Để xác định thành phần phức theo phương pháp này cần chuẩn bị hai dãy dung dịch:
- Dãy 1: Cố định nồng độ kim loại M, thay đổi nồng độ thuốc thử R - Dãy 2: Cố định nồng độ thuốc thử R, thay đổi nồng độ kim loại M
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.lrc-tnu.edu.vn
24 Sau đó đo mật độ quang của hai dãy dung dịch, ta xác định được giá trị
cực đại của mật độ quang A
gh
ứng với nồng độ cực đại của phức C
Kgh
C
Kgh
= C
M
m = C
R
n Với dãy 1: C
K
C
R
= fC
K
C
Kgh
hay 
A
i
C
R
= f 
A
i
 A
gh
Với dãy 2: C
K
C
M
= fC
K
C
Kgh
hay 
A
i
C
M
= f 
A
i
 A
gh
Từ đồ thị ta có với dãy 1:
1 1
i K
Kgh gh
A C
n C
m n
A 
 
  

1.3
khi 
A
i
C
R
max. Với dãy 2:
1 1
i K
Kgh gh
A C
m C
m n
A 
 
  

1.4 khi 
A
i
C
M
max.
Ta có:
1 1
i gh
A A
n
 
 
khi C
M
= const và 
AiC
R
max
1 1
i gh
A A
m
 
 
khi C
R
= const và 
A
i
C
M
max
Nếu đồ thị không có cực đại thì m = n = 1
MR M
2
R M
3
R
2
MR
2
∆A
i
∆A
gh
∆A
i
C
R
hoặc ∆A
i
C
M
Hình 1.6: Xác định thành phần phức theo Staric-Bacbanel
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.lrc-tnu.edu.vn
25
1.9. CÁC PHƢƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CADIMI VÀ CHÌ [6], [7], [8], [10]

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (111 trang)

×