1. Trang chủ >
  2. Lý luận chính trị >
  3. Triết học Mác - Lênin >

công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (322.58 KB, 27 trang )


Năm 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc ( UNIDO) đã

đa ra một định nghĩa: công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh tế, trong

quá trình này, một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân đợc động

viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nớc với kỹ thuật hiện đại.

Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận luôn thay đổi để sản xuất ra t

liệu sản xuất, hàng tiêu dùng và có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế

phát triển với nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới sự tiến bộ của nền kinh tế và xã hội.

Theo quan điểm này, quá trình công nghiệp hoá nhằm thực hiện nhiều mục tiêu

chứ không phải chỉ nhằm một mục tiêu kinh tế-kỹ thuật.

Còn theo quan niệm mới phù hợp với điều kiện nớc ta thì công nghiệp hoá,

hiện đại hoá là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn liền với đổi mới công

nghệ, xây dựng cơ cấu vật chất-kỹ thuật, là quá trình chuyển nền sản xuất xã hội

từ trình độ công nghệ thấp sang trình độ công nghệ cao hơn, nhờ đó mà tạo ra sự

tăng trởng bền vững và có hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Nói tóm lại đó là sự phát triển của lực lợng sản xuất từ thấp đến cao, từ cha

hoàn thiện đến hoàn thiện. Thực hiện công nghiệp hoá là nhằm phát triển kinh

tế-xã hội, đa nớc ta theo kịp các nớc tiên tiến trên thế giới.

Sự thành công của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi ngoài môi

trờng chính trị ổn định, phải có các nguồn lực cần thiết nh: nguồn lực con ngời,

vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, vị trí địa lý, nguồn lực nớc

ngoài. Các nguồn lực này có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng tham gia vào quá

trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhng mức độ tác động và vai trò của chúng

đối với toàn bộ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá không giống nhau, trong

đó nguồn lực con ngời là yếu tố quyết định.

Vai trò của nguồn lực con ngời quan trọng nh thế nào đã đợc chứng minh

trong lịch sử kinh tế của những nớc t bản phát triển nh Nhật Bản, Mỹ,... nhiều

nhà kinh doanh nớc ngoài khi đến tham quan Nhật Bản thờng chỉ chú ý đến kỹ

thuật, máy móc và coi đó là nguyên nhân tạo nên kỳ tích Nhật Bản. Nhng họ

đã nhầm, chính ngời Nhật Bản cũng không quan niệm nh vậy. Ngời Nhật cho



rằng kỹ thuật và công nghệ có vai trò rất to lớn nhng không phải là yếu tố quyết

định nhất. Yếu tố quyết định nhất dẫn đến thành công của họ là con ngời. Cho

nên họ đã tập trung cao độ và có những chính sách độc đáo phát triển yếu tố con

ngời.

Ngày nay đối với những nớc lạc hậu đi sau, không thể phát triển nhanh chóng

nếu không tiếp thu những tiến bộ khoa học-kỹ thuật và công nghệ hiện đại của

các nớcphát triển. Nhng không phải cứ nhập công nghệ tiên tiến bằng mọi giá mà

không cần tính đến yếu tố con ngời. Cần nhớ rằng, công nghệ tiên tiến của nớc

ngoài khi đợc tiếp thu sẽ phát huy tác dụng tốt hay bị lãng phí, thậm chí bị phá

hoại là hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố con ngời khi sử dụng chúng. Nhiều công

ty chỉ chú ý đổi mới kỹ thuật và công nghệ nhng vì không chú ý đến yếu tố con

ngời nên đều thất bại. Ông Victor S.L.Tan, giám đốc của Ohostate University đã

viết: Điều mỉa mai lớn nhất còn là ở chỗ, trong có nhiều công ty đã cố thực hiện

đổi mới, nhng lại có ít công ty thực hiện đủ mức để đạt tới thành công. Nhiều

công cuộc đổi mới đã tiến hành nhng thất bại vì các công ty đó đã không đa vào

cấu tạo của kế hoạch đổi mới hoặc chơng trình đổi mới của họ một nhân tố khó

nhất để thành công- con ngời.

Nh mọi quốc gia khác trên thế giới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại

hoá ở Việt Nam cũng phải phụ thuộc vào nguồn lực con ngời và do nguồn lực

này quyết định. Bởi vì:

Thứ nhất, các nguồn lực khác nh vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý... tự

nó chỉ tồn tại dới dạng tiềm năng. Chúng chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích

cực xã hội khi đợc kết hợp với nguồn lực con ngời thông qua hoạt động có ý thức

của con ngời. Bởi lẽ, con ngời là nguồn lực duy nhất biết t duy, có trí tuệ và có ý

chí, biết lợi dụng các nguồn lực khác, gắn chúng kết lại với nhau, tạo thành

một sức mạnh tổng hợp, cùng tác động vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại

hoá. Các nguồn lực khác là những khách thể chịu sự cải tạo, khai thác của con

ngời, hết thảy chúng đều phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của con ngời, nếu con ngời

biết cách tác động và chi phối. Vì thế trong các yếu tố cấu thành lực lợng sản



xuất, ngời lao động là yếu tố quan trọng nhất, là lực lợng sản xuất hàng đầu của

toàn nhân loại.

Chẳng hạn nh vốn cũng là một nguồn lực để tiến hành công nghiệp hoá, hiện

đại hoá nhng vốn chỉ trở thành nguồn lực quan trọng và cấp thiết của sự phát triển

khi nó nằm trong tay những ngời biết sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả cao.

Tơng tự nh vậy, sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên và những u thế về vị trí

địa lý cũng sẽ mất ý nghĩa nếu chủ nhân của nó không có năng lực khai thác.

Ngày nay trớc xu hớng quốc tế hoá đời sống kinh tế, sự hợp tác đầu t nớc

ngoài cũng là nguồn lực quan trọng, nó tạo ra cái hích kinh tế, nhất là với các

nớc có điểm xuất phát thấp, nhng sức mạnh của cái hích này đến đâu, tác động

tích cực của nó nh thế nào còn tuỳ thuộc vào yếu tố con ngời khi tiếp nhận nguồn

lực đó.

Xét đến cùng nếu thiếu sự hiện diện của trí tuệ và lao động của con ngời thì

mọi nguồn lực đều trở nên vô nghĩa thậm chí khái niệm nguồn lực cũng không

còn lý do gì để tồn tại

Thứ hai, các nguồn lực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, trong

khi đó nguồn lực con ngời lại là vô tận. Nó không chỉ tái sinh và tự sản sinh về

mặt sinh học mà còn tự đổi mới không ngừng, phát triển về chất trong con ngời

xã hội, nếu biết chăm lo, bồi dỡng và khai thác hợp lý. Đó là cơ sở làm cho năng

lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con ngời phát triển nh một quá trình vô

tận xét trên bình diện cộng đồng nhân loại. Nhờ vậy con ngời đã từng bớc làm

chủ tự nhiên, sáng tạo, khám phá ra nhiều nguồn tài nguyên mới, nhiều công cụ

sản xuất có hiệu quả hơn, đa xã hội chuyển qua các nền văn minh từ thấp đến

cao.

Thứ ba, trí tuệ con ngời có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó đợc vật thể

hoá, trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp. Dự báo vĩ đại này của C.MáC đã và

đang trở thành hiện thực. Sự phát triển nh vũ bão của cuộc cách mạng khoa họckỹ thuật và công nghệ hiện đại đang dẫn nền kinh tế của các nớc công nghiệp



phát triển vận động đến nền kinh tế của trí tuệ. Giờ đây sức mạnh của trí tuệ đã

đạt đến mức mà nhờ nó con ngời có thể sáng tạo ra những ngời máy bắt chớc

hay phỏng theo những đặc tính trí tuệ của chính con ngời. Rõ ràng là bằng

những kỹ thuật công nghệ hiện đại do chính bàn tay khối óc con ngời làm ra mà

ngày nay nhân loại đang chứng kiến những biến đổi thần kỳ trong lịch sử phát

triển của mình.

Thứ t, kinh nghiệm của nhiều nớc và thực tiễn của chĩnh nớc ta cho thấy sự

thành công của công nghiệp hoá, hiện đại hoá phụ thuộc chủ yếu vào việc hoạch

định đờng lối, chính sách cũng nh tổ chức thực hiện, nghĩa là phụ thuộc vào năng

lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con ngời. Đối với những nền kinh tế

nông nghiệp cha công nghiệp hoá thì mặt số lợng của nguồn nhân lực có tầm

quan trọng đặc biệt vì nó qui định quy mô của thị trờng. Nhng khi tiến hành công

nghiệp hoá thì mặt chất lợng, cơ cấu và cơ chế sử dụng nguồn nhân lực lại quan

trọng hơn. Cơ cấu lao động cần cho quá trình công nghiệp hoá phải bao gồm: các

chính khách, các nhà hoạch định chính sách, các học giả, các nhà kinh doanh,

các nhà kỹ thuật và công nghệ, các công nhân lành nghề... không có các chính

khách, các học giả tài ba thì khó có thể có đợc những chiến lợc, chính sách phát

triển đúng đắn; không có các nhà kinh doanh lỗi lạc thì cũng sẽ không có ngời sử

dụng một cách có hiệu quả các nguồn vốn, nhân lực, công nghệ. Sự thiếu vắng

hay kém cỏi của một trong các bộ phận cấu thành nhân lực trên đây sẽ có hại cho

quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.

Qua toàn bộ phân tích trên có thể kế luận rằng nguồn lực con ngời là nguồn

lực có vai trò quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại

hoá đất nớc. Do vậy, muốn công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công thì phải đổi

mới cơ bản các chính sách đầu t cho các ngành khoa học, văn hoá, giáo dục, y tế

ở Việt Nam nhằm phát triển nguồn lực con ngời cho công nghiệp hoá, hiện đại

hoá. Đây là nhiệm vụ lớn nhất và khó khăn nhất trong công cuộc đổi mới hiện

nay.

Có rất nhiều nớc trên thế giới đã thực hiện thành công công cuộc công nghiệp

hoá, hiện đại hoá đất nớc với nguồn lực chủ đạo là con ngời. Vậy trong công



cuộc đổi mới ở Việt Nam hôm nay, Với những thế mạnh và những hạn chế của

mình con ngời Việt Nam có thực hiện đợc vai trò của mình hay không?

Trớc hết ta tìm hiểu xem nguồn nhân lực của Việt Nam có những đặc điểm gì

để phát huy và những hạn chế gì cần phải khắc phục.

Những thế mạnh phải nói đến đó là:

Thứ nhất, theo kết quả điều tra của Bộ LĐ TBXH công bố ngày 25 tháng 10

cả nớc hiện có 39.489 nghìn ngời từ 15 tuổi trở lên đang có việc làm ổn định, khu

vực thành thị 9.182 nghìn ngời, khu vực nông thôn có 30.307 nghìn ngời. Nh vậy

tỉ lệ lao động có việc làm: 97,24% tỉ lệ thất nghiệp 2,76%

Thứ hai, Việt Nam có tỷ trọng tơng đối cao về lao động trẻ, phần lớn có học

vấn phổ thông, ngay cả ở nông thôn. Đây là một tiền đề quan trọng tạo điều kiện

tiếp thu các kiến thức kỹ năng nghề nghiệp, kể cả những ngành nghề mới. Lực lợng lao động có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đợc đào tạo tơng đối lớn (so với

các nớc có thu nhập nh nớc ta). Tính đến năm 2001 lực lợng lao động có chuyên

môn kỹ thuật lên tới 22,2% có khoảng gần 1 triệu ngời tốt nghiệp Đại học, Cao

đẳng đó còn cha kể tới 120.000 ngời có bằng thạc sỹ và tiến sỹ.

Thứ ba, chúng ta có một lợng tơng đối lớn ngời Việt sống ở nớc ngoài, tập

trung chủ yếu ở châu Âu, châu Mỹ và Ôxtraylia; trong đó tỉ lệ ngời có trình độ

cao về chuyên môn và nghiệp vụ là đáng kể ( trên 300000 ngời). Đây là một

nguồn lực quan trọng góp phần phát triển đất nớc, là cầu nối giữa Việt Nam và

thế giới về mặt chuyển giao tri thức, công nghệ và các quan hệ quốc tế.

Thứ t, đó là bản tính hiếu học, thông minh cần cù lao động của con ngời Việt

Nam. Truyền thống đó cần đợc nuôi dỡng và phát huy làm cơ sở cho việc nắm

bắt, tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng, sáng tạo những phát minh, sáng

kiến khoa học của nhân loại phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của

đất nớc. Tính cộng đồng, ý thức trách nhiệm với cộng đồng đợc phát huy mạnh

mẽ sẽ có thể hỗ trợ đắc lực không chỉ cho việc truyền bá tay nghề, kinh nghiệm

nghề nghiệp mà còn có thể giúp nhau cả về vốn liếng, tạo dựng và phát triển cơ



nghiệp, hỗ trợ nhau tìm kiếm công ăn việc làm, góp phần làm giảm sức ép về lao

động hiện nay. Dân tộc Việt Nam còn có truyền thống biết chịu đựng gian khổ để

tiết kiệm, tích luỹ cho đầu t mở rộng, tạo dựng cơ đồ cho mình và cho nền kinh tế

nớc nhà nói chung.

Nhng bên cạnh đó, nguồn nhân lực ở Việt Nam có những hạn chế,những

điểm yếu kém sau đây:

Thứ nhất, số ngời lao động đợc đào tạo quá ít chỉ chiếm 20% tổng số lao

động. 77,71% lao động sản xuất nông nghiệp đồng nghĩa với con số trên là tỷ lệ

qua đào tạo hết sức hạn chế . Ước tính hiện nay nớc ta số lao động cha qua đào

tạo chiếm 51,74% (học vấn từ tiểu học trở xuống). Vì vậy trong nông nghiệp

một lao động của ta chỉ nuôi đợc 3 đến 5 ngời, trong khi chỉ số này ở các nớc

phát triển là 20 đến 30 ngời. Đây là trở ngại lớn nhất khi tiến hành công nghiệp

hoá trong nông nghiệp trong kinh tế nông thôn nói riêng và trong cả nền kinh tế

Việt Nam nói chung.

Thứ hai, đội ngũ cán bộ khoa học trẻ quá ít. Qua điều tra ở 17 trờng đại học

thì số cán bộ giảng dạy dới 35 tuổi chỉ có 8%. Phần lớn những tri thức có trình độ trên

đại học đang là những chuyên gia đầu ngành đã ở độ tuổi 55 đến 60. Hơn 60% phó tiến

sĩ và tiến sĩ, hơn 70% giáo s và hơn 90% giáo s đều ở độ tuổi này.Trong khi đó sinh

viên giỏi sau khi tốt nghiệp đều không muốn ở lại trờng. Vì vậy việc chuẩn bị cho đội

ngũ trí thức kế cận sẽ gặp không ít khó khăn.



Thứ ba, việc bố trí sử dụng cán bộ còn nhiều việc bất hợp lý giữa các vùng, các

ngành: 80% cán bộ khoa học công nghệ làm việc tại Hà Nội, ở thành phố Hồ Chí

Minh chỉ có 12%. Đa số các cán bộ khoa học của ta làm việc trong các viện

nghiên cứu, các trờng học, còn trong các ngành sản xuất vật chất thì rất ít Chẳng

hạn, trong các ngành nông lâm ng nghiệp chỉ có 8,1% cán bộ có trình độ đại học

và 6,49% cán bộ có trình độ sau đại học. Trong khi có tới 34% cán bộ có trình độ

đại học và 55,47% trình độ sau đại học làm việc trong các ngành khoa học tự

nhiên và khoa học xã hội. Nhìn vào một số nớc trong khu vực, cán bộ khoa học

làm việc trong các ngành sản xuất chiếm tỉ lệ rất cao nh Thái Lan: 58%,



HànQuốc: 48%, Nhật Bản: 64%. Chính việc phân bố lực lợng lao động không

hợp lý này gây nên hiện tợng thừa thiếu giả tạo, gây ra nạn thất nghiệp đặc biệt

trong lao động tri thức. Qua điều tra, trên cả nớc số sinh viên ra trờng có việc làm

chiếm 70%. Trong khi đó nhiều vùng, nhiều miền nhất là miền núi vùng sâu

vùng xa lại thiếu cán bộ khoa học kỹ thuật. Nguyên nhân chủ yếu là một mặt do

sinh viên ra trờng muốn ở lại công tác tại các thành phố, khu công nghiệp, nơi

kinh tế phát triển để có thu nhập cao hơn và điều kiện việc làm tốt hơn, mặt khác

chúng ta cha có chính sách thu hút để điều chỉnh sự phân bố này.

Thứ t, thể chất, sức khoẻ của thanh niên Việt Nam còn rất nhiều hạn chế. Sự

phát triển về phơng diện sinh lý và thể lực dờng nh chững lại.

Thứ năm, ngời lao động nớc ta nói chung cha có nếp lao động công nghiệp,

quen theo kiểu sản xuất nhỏ, lao động giản đơn còn gò bó trong nếp sống phơng

đông, cha truyền con nối. Chính vì thế mà cho tới tận thế kỷ 20 công cụ làm việc

ở các bễ lò rèn Bắc Ninh vẫn không khác bao nhiêu với công cụ đã rèn cày cuốc

và vũ khí đánh giặc Ân thời Thánh Gióng, các cô gái Hà Đông vẫn dệt lụa trên

các khung cửi mà cách đây 900 năm các cô gái triều Lý đã sử dụng.

Trên đây là những điểm trong nguồn lực con ngời ở Việt Nam với những thế

mạnh cũng nh các mặt hạn chế. Phải có những nố lực phi thờng bằng hành động

thực tiễn trong việc huy động và sử dụng nguồn lực này thì công nghiệp hoá hiện

đại hoá mới có thể thành công. Đó cũng là lý do vì sao nhiều nhà khoa học kêu

gọi phải tiến hành một cuộc cách mạng con ngời mà thực chất là cách mạng về

chất lợng nguồn lao động. Cách mạng con ngời với công nghiệp hoá hiện đại

hoá là hai mặt của một quá trình thống nhất, giữa chúng có mối quan hệ biện

chứng với nhau. Bởi vậy, mỗi bớc tiến lên của cuộc cách mạng con ngời sẽ

đem lại những thành tựu to lớn cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá và ngợc lại.

Thực chất căn bản của chủ nghĩa Mác về con ngời là sự phát triển tự do

của mỗi con ngời là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi ngời. Xã hội loài

ngời chỉ đợc phát triển khi phát triển tối đa từng cá nhân. Vấn đề phát triển cá



nhân không còn là vấn đề lý thuyết mà là nhu cầu thiết yếu trong thực tiễn xã hội

ta ngay từ hôm nay. Cụ thể để công nghiệp hoá hiện đại hoá cần phải tiến hành

một cuộc cách mạng con ngời nhằm tạo ra một số lợng lớn các nhà khoa học

một đội ngũ đông đảo các nhân viên kỹ thuật có trình độ tri thức tơng đối cao và

những ngời lao động lành nghề. Điều đó đòi hỏi sự nghiệp giáo dục bồi dỡng

nhân tài phải phát triển tơng ứng.

Thử nhìn vào lịch sử kinh tế của một số nớc t bản phát triển, ta thấy nói

chung những nớc này đều rất coi trọng công tác giáo dục. Chẳng hạn thời kỳ đầu

sau chiến tranh, kinh tế Nhật bản bị phá hoại nặng nề, tài chính quốc gia vô cùng

nguy ngập nhng chính phủ Nhật bản không hề giảm chi phí giáo dục, tỷ trọng

kinh phí giáo dục luôn chiếm 20% trở lên trong kinh phí hành chính của Nhật

còn ở Mỹ năm 1985 chi tiêu nhà nớc cho giáo dục chiếm 4,2% GDP và chiếm

12,8% chi0 tiêu của nhà nớc. Thực tế đã chứng minh, ở Mỹ nếu đầu t cho giáo

dục 1$ thì sẽ lãi 4$, còn ở Nhật thì 1$ sẽ lãi 10$.

Thực ra không chỉ có các nớc t bản phát triển nhìn thấy vai trò của giáo dục

trong phát triển kinh tế mà một số nớc Đông nam á cũng đã nhận thức đợc vấn đề

này. Và kết quả là sự ra đời của những nớc công nghiệp mới ở châu á. Suốt 40

năm qua, các nớc này đã đầu t cho giáo dục ngày một tăng. Tỷ lệ chi tiêu cho

giáo dục trong ngân sách nhà nớc ở cộng hòa Triều Tiên năm 1972 là 13,9%,

năm 1981 tăng 17,9%, năm 1983 tăng lên 21,6%. Trong 30 năm từ 1952 đến

1981 ở Đài Loan tổng giá trị sản phẩm quốc dân tăng 26,43 lần nhng kinh phí

giáo dục tăng hơn 90 lần. Hoặc nh ở Singapore, hiện nay kinh phí giáo dục chiếm

4% giá trị GDP, mấy năm nữa sẽ lên đến khoảng 6% ngang với mức của các nớc

phát triển phơng Tây. Những con số, ở một mức độ nào đó tự nó đã giải thích

rằng không phải ngẫu nhiên mà trong một tời gian dài một loạt các nớc quanh ta

đã vơn lên trở thành những con rồng châu á.



Đó là do kinh nghiệm của các nớc đi trớc, còn ở Việt Nam thì sao?



Trong nhiều năm qua, nhà nớc ta đã chú ý phát triển nguồn lực con ngời bằng

những chính sách, biện pháp kịp thời, khá hợp lý tuy không tránh khỏi một số

hạn chế do điều kiện kinh tế hạn hẹp.

Thử đi sâu vào một trong những chính sách đó- chính sách phát triển giáo

dục -đào tạo; từ đó rút ra nhận xét, tìm ra bớc đi tiếp theo để hoàn thành cuộc

cách mạng con ngời ở Việt Nam. Có thể khái quát tình hình giáo dục ở Việt

Nam nh sau:

Trải qua 15 năm đổi mới, sự nghiệp giáo dục - đào tạo nớc ta có bớc phát triển

về quy mô, chất lợng, hình thức đào tạo cơ sở vật chất. Trình độ dân trí và chất lợng nguồn nhân lực đợc nâng lên đáng kể.

Quy mô giáo dục - đào tạo đợc nâng tiếp tục mở rộng ở tất cả các bậc học,

ngành học, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng lớn của nhân dân. Hiện nay gần

94% dân c từ 15 tuổi trở lên biết chữ; tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nớc đều

đạt chuẩn quốc gia về xoá mù chữ và phổ cập tiểu học. Một số tỉnh và thành phố

đã và đang tiến tới đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở. Số năm đi học trung bình

của dân c đạt 7,3. Năm học 2000 - 2001 cả nớc có 17.866.673 hóc sinh phổ

thông, số sinh viên trên vạn dân đạt 118 ngời. Đã đào tạo đợc một lực lợng lao

động có chuyên môn kỹ thuật khoảng 8 triệu ngời, chiếm 18,3% trong tổng số

43,8 triệu lao động cả nớc. Số ngời học về tin học, ngoại ngữ, nghiệp vụ quản lý

phát triển nhanh.

Chất lợng giáo dục - đào tạo có chuyển biến bớc đầu. Trình độ hiểu biết,

năng lực tiếp cận tri thức mới của một bộ phận học sinh, sinh viên ngày càng đợc

nâng cao. Số học sinh phổ thông đạt các giải quốc gia và quốc tế theo một số

môn học ngày càng tăng, khẳng định tiềm năng trí tuệ to lớn của học sinh nớc ta.

Nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng có hoài bão lập thân, lập nghiệp và

có tinh thần tự lập, năng động. Một số ngành khoa học cơ bản và khoa học công

nghệ đã nâng cao một bớc chất lợng đào tạo.

Cơ sở vật chất kỹ thuật các trờng đợc nâng cáp, cải thiện. Số trờng lớp đợc

xây dựng khang trang ngày càng nhiều. Mạng lới trờng phổ thông phủ đợc hầu



hết các địa bàn dân c, tạo thuận lợi cho ngời học. Mạng lới các trờng đại học, cao

đẳng, trung học chuyên nghiệp từng bớc sắp sếp lại. Hệ thống các cơ sở đào tạo

nghề phát triển rộng khắp. Giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số có những chuyển

biến tích cực, đã thành lập trên 100 trờng dân tộc nội trú.

Công tác xã hội giáo dục trong những năm gần đây đã đem lại kết quả bớc

đầu. Các lực lợng xã hội tham gia ngày càng tích cực vào việc huy động trẻ đến

trờng, xây dựng cơ sở vật chất của trờng học, đóng góp kinh phí cho giáo dục đào

tạo dới nhiều hình thức khác nhau. Tỷ lệ học sinh, sinh viên ngoài công lập trong

tổng số học sinh, sinh viên ngày càng tăng ( năm học 2000 -2001 chiếm 66% trẻ

em nhà trẻ,50,5% học sinh mẫu giáo, 0,3% học sinh tiểu học, 3,1 % học sinh

trung học cơ sở, 34,3% học sinh trung học phổ thông, 14,4% sinh viên đại học).

Nhờ những thành tựu giáo dục đào tạo và của các lĩnh vực xã hội khác mà chỉ

số phát triển con ngời ( HDI) của nớc ta theo bảng xếp loại của chơng trình phát

triển Liên hiệp quốc (UNDP) 10 năm gần đây có những tiến bộ đáng kể: từ 0,456

- xếp thứ 121 năm 1990 tăng lên 0,671 - xếp thứ 108/174 bớc vào năm 2000. So

với chỉ số phát triển kinh tế (GDP/ ngời), HDI vợt lên 24 bậc.

Mặc dù vậy sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam còn bộc lộ một số mặt yếu kém

nh:

Chất lợng giáo dục đào tạo đại trà ở các cấp bậc học còn thấp. Đa số học sinh,

sinh viên quen cách học thụ động thiếu năng lực t duy độc lập, sáng tạo và vận

dụng kiến thức, kỹ năng vào sản xuất và đời sống. Một số học sinh,sinh viên ít

quan tâm đến việc rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Thể lực đa số

học sinh, sinh viên còn yếu. Các điều kiện cơ bản để đảm bảo chất lợng còn bất

cập nh đội ngũ giáo viên thiếu về số lợng, cơ cấu không đồng bộ và chất lợng

thấp, phơng pháp giáo dục lạc hậu, phơng tiện giảng dậythiếu thốn.

Hiệu quả hoạt động giáo dục thấp. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp cuối cấp so với

nhập học còn thấp, nhất là vùng núi, vùng sâu, vùng xa (năm học 1999 -2000 tỷ

lệ này ở tiểu học là 70,9%, trung học có sở 69,4%, trung học phổ thông 78,2%).

Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp làm cho khả năng tiếp thu kỹ thuật công



nghệ mới gặp nhiều khó khăn. Cha có giải pháp hữu hiệu trong việc đào tạo nhân

lực để tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế để phát triển nông thôn, phục vụ

sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động. Đào tạo đại học và giáo dục nghề

nghiệp cha phù hợp với nhu cầu về lao động của xã hội, một số đáng kể những

ngời tốt nghiệp không làm đúng ngành nghề, thiếu tự giác, trung thực trong lao

động, thiếu trách nhiệm không tôn trọng quy trình kỹ thuật tham ô lãng phí

nguyên vật liệu.

Cơ cấu đào tạo nhân lực về trình độ, ngành nghề và vùng miền cha hợp lý.

Phần lớn học sinh phổ thông chỉ chọn một con đờng là học lên đại học, việc học

nghề ở các trình độ khác còn hạn chế. Việc tăng vi mô đào tạo đại học cha đợc

định hớng vào nhu cầu của xã hội. Phân bố học sinh, sinh viên theo ngành nghề,

theo vùng miền cha phù hợp với nhu cầu kinh tế xã hội của cả nớc và của địa phơng, gây nên tình trạng nơi thừa nơi thiếu. Khoảng cách về trình độ phát triển

giáo dục đào tạo giữa các vùng trong nớc cha đợc thu hẹp.

Một số hiện tợng tiêu cực, thiếu kỷ cơng trong giáo dục đào tạo cha đợc ngăn

chặn kịp thời nh : dậy thêm, học thêm tràn lan không vì mục đích giáo dục, tăng

quy mộ vệ sinh vợt quá các điều kiện đảm bảo chất lơng, không thực hiện

nghiêm túc quy chế đào tạo. Các hiện tợng mua bằng, bán điểm thu chi vô

nguyên tắc làm ảnh hởng đến uy tín của nhà trờng. Ma tuý và các tệ nạn xã hội

thâm nhập vào nhà trờng. Hiện tợng gian lận trong thi cử còn phổ biến, ảnh hởng

xấu đến nhân cách ngời học và cán bộ của họ sau này.

Về mặt kinh tế - xã hội nớc ta còn nghèo, thu nhập quốc doanh trên đầu ngời

thấp nguồn tài chính cơ sở vật chất thiết bị đều thiếu thốn trong lúc nhu cầu của

xã hội đối với giáo dục đào tạo tăng nhanh. Những khó khăn trong việc cải cách

hành chính Nhà nớc, quản lý kinh tê, hạn chế tài chính, sử dụng lao động, chính

sách tiền lơng... cản trở việc giải quyết triệt để những vấn đề cụ thể của giáo dục

đào tạo.

Có thể nói giáo dục và đào tạo ở Việt Nam đang đứng trớc những thách thức

lớn lao, trớc yêu cầu đổi mới kinh tế-xã hội, trớc yêu cầu công nghiệp hoá, hiện



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (27 trang)

×