1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Kết quả và phân tích

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.67 MB, 116 trang )


Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam



Hóa chất tẩy trắng



2.622.492



14.56



Nghiệp vụ cung



1.638.260



9.09



6.720.848



37.31



3.640.557



20.21



730.947



4.06



ứng

Hóa chất máy



1.240.389



6.89



giấy

Hóa chất xử lý



cung cấp

1.105.044



6.13



điện năng cố

định



chất thải

Bột hóa chất



Duy trì nguồn



401.502



2.23



Chi phí hơi nước,

gas cố định



Hơi hóa chất



264.192



1.47



Quần áo



1.016.089



5.64



Kết thúc cung



2.756.338



15.30



Tấm lọc



778.093



4.32



Thuế



371.018



15.92



Chi phí khác



2.556.939



2.06



Khấu hao



13.691.179



76.00



Tổng chi phí cố



55.004.195



305.33



ứng



Tổng chi phí biến 46.329.999



257.18



đổi



định



Tổng chi phí biến



46.329.999



đổi

Tổng chi phí cố



tấn

55.004.195



định

Tổng chi phí



257.18$/



305.33$/

tấn



101.334.194



562.51$/

tấn



(Nguồn: Báo cáo tài chính kết thúc năm 2000 của nhà máy giấy Mackenzie)

Bốn loại chi phí và một doanh thu trong các phần đều được kiểm tra.

2.1. Hạng mục 1: xử lý rác thải và khí thải

Đối với chi phí xử lý rác thải và khí thải, bẩy danh mục chi phí được chấp

nhận trong trong cấu trúc EMA như trong chương I. Mỗi loại chi phí lần lượt được

xem xét và những chi phí của công ty nếu có (hoặc ước tính) được nhập vào bảng tính

(Xem phụ lục 6).



Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45 58



Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam



2.1.1. Khấu hao thiết bị có liên quan

Báo cáo tài chính trong năm có một bút toán khấu hao trị giá 13.691.179$.

Không có hoạt đông phân tích chi phí nào. Đối với chi phí vốn mới, chi phí vốn đối

với bãi rác tro mới (dự án vốn) được cấp 136.927$ trong chi phí vốn trong báo cáo tài

chính năm của nhà máy giấy Mackenzie. Phân tích tài sản vốn môi trường và khấu

hao của nhân viên cung cấp cụ thể thông tin khấu hao. Giá trị ghi sổ của tài sản vốn

môi trường là 15.931.835$. Toàn bộ chi phí khấu hao được tính theo tỷ lệ 5% mỗi

năm trong 20 năm ngoại trừ khấu hao phương tiện và bãi rác tro mới. Hai loại chi phí

này được tính trong thời gian năm năm với tỷ lệ 20% mỗi năm tuỳ theo tuổi thọ bị rút

ngắn của tài sản đó. Tổng thanh toán hàng năm đối với chi phí khấu hao môi trường

là 866.620$. Chi phí khấu hao thiết bị liên quan đến môi trường là 6.3% trong số

13.691.179$, con số này được ghi cho tổng chi phí khấu hao trong báo cáo tài chính

trong năm.

2.1.2. Vật liệu bảo dƣỡng và vận hành và dịch vụ

Loại này bao gồm chi phí có liên quan đến không khí và khí hậu, nước thải,

rác thải, đất và nước ngầm, tiếng ồn và độ rung (không áp dụng), đa dạng sinh học và

quang cảnh, bức xạ (không áp dụng) và chi phí môi trường khác.

Ngoại trừ nhà máy xử lý nước thải, những bộ phận khác sẽ có chi phí xử lý rác

thải và khí thải môi trường mặc dù những chi phí này không dễ dàng nhận ra từ trong

báo cáo tài chính trong năm. Ví dụ trong phạm vi bộ phận Kỹ thuật, 11.651$ được chi

cho “thiết bị môi trường”. Con số này được ghi trong “Chi phí môi trường khác”

(Xem phụ lục 6).

Rác: 11.756$ được chi cho hoạt động dọn tuyết và rải cát.

Đất và nước ngầm: Nguyên liệu hoạt động và dịch vụ không được báo cáo

trong chi phí nội bộ.

Đa dạng hoá sinh học và quang cảnh: không có mục cụ thể nào được phân bổ

loại này. Chi phí cho hoạt động dọn tuyết và rải cát được nhập vào chi phí rác thải.

Chi phí môi trường, năng lượng và nước khác: chi phí hoạt động năng lượng

và nước của mỗi loại chi phí trên đều không được đề cập đến.



Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45 59



Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam



2.1.3. Nhân sự liên quan

Chi phí cho nhân sự có thể phát sinh đối với môi trường không khí và khí hậu,

rác thải và nước thải như được tính trong những phần sau:

Không khí và khí hậu: 50% thời gian của bên điều phối dịch vụ năng lượng là

dành cho công tác liên quan đến năng lượng và môi trường với tổng chi phí vào

khoảng 45.000$. Công tác này bao gồm các hoạt động lập kế hoạch xung quanh hoạt

động tiêu thụ năng lượng và đàm phán và mua nhiên liệu khí tự nhiên và điện phục vụ

hoạt động tại công trường. Thời gian còn lại của nhân viên này được dùng cho công

tác dự án kỹ thuật điện khác (công tác bảo quản và cơ bản không chú trọng đến công

tác môi trường).

Rác thải: một nhân viên sử dụng 75% thời gian của họ chở rác thải đến bãi đổ

rác. Tổng lương, thời gian làm ngoài giờ và chi phí phúc lợi khác ước tính là 33.750$.

Nước thải: Nhân viên Quản lý nước thải là vị trí nhân viên chính thức với chi

phí là 65.000$. Có bốn nhân viên điều hành chính thức (cơ khí) với tổng chi phí lên

đến 252.783$ được trình bày trong báo cáo tài chính trong năm. Ngoài ra còn có hai

thợ điện chịu trách nhiệm xử lý nước thải với tổng chi phí là 100.037$. Trong bộ phận

kỹ thuật, chi phí nhân sự liên quan là 11.651$ được chi tiêu cho “nguồn cung môi

trường”. Bộ phận này thực hiện phân tích thí nghiệm và có tổng ngân sách hoạt động

là 1.216.809$. Chi phí nguồn cung đảm bảo môi trường bằng 4.3% ngân sách không

dành nhân sự trị giá 270.945$ để thử nghiệm cung ứng. Bởi thông tin chi phí nhân

công trực tiếp liên quan đến nguồn cung đảm bảo môi trường không tính được giá trị,

nên áng chừng chi phí lao động tương ứng với nguồn cung đã mua. Sử dụng phương

thức này (4.3% chi phí nhân lực trị giá 945.864$) mang lại con số 40.672$.

2.1.4. Phí, thuế

Tổng chi phí cho các loại phí và thuế nằm ngoài chi phí được ghi nhận cho ba

loại chi phí môi trường vẫn chưa được công khai.

Không khí và khí hậu: nhà máy giấy thanh toán chi phí không khí hàng năm

trị giá 7.145$. Không có thuế năng lượng cụ thể và những loại thuế đánh trên hoạt

động tiêu thụ năng lượng thông qua Thuế doanh thu tỉnh (Provincial Sales Tax - PST)

và Thuế hàng hóa và dịch vụ (Goods and Services Tax - GST) vẫn chưa được công



Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45 60



Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam



khai.

Rác thải: loại này bao gồm hai chi phí hàng năm, một là phí cho phép đổ trị giá

27.704$ một loại kia dành cho phí cấp phép PCB trị giá 100$.

Nước thải: phí cấp phép rác thải là 43.600$ mỗi năm.

2.1.5. Các khoản tiền phạt

Trong năm 2000, Nhà máy giấy Mackenzie đã có hành vi không tuân thủ

nhưng không bị áp dụng hình phạt.

2.1.6. Bảo hiểm trách nhiệm môi trƣờng

Không có bảo hiểm suy giảm môi trường tại nhà máy giấy Mackenzie. Công

ty Abitibi-Consolidated Inc. có hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm chung miễn mức bồi

thường trên toàn công ty bao gồm cả trách nhiệm môi trường của bên thứ ba. Chi phí

bảo hiểm được phân bổ đến mỗi vị trí theo phương pháp tỷ lệ dựa trên đơn vị sản

xuất, lao động và những nhân tố liên quan khác. Hợp đồng này có thể áp dụng đối với

các khoản thua lỗ bất thường và chi phí làm sạch dự kiến bao gồm cả chi phí môi

trường; mặc dù không thể đưa ra những yêu cầu cụ thể đối với chi phí môi trường

trong một vụ tai nạn.

Chi phí bảo hiểm tại Nhà máy giấy Mackenzie không được ghi thành từng

khoản. Báo cáo tài chính trong năm đã ghi nhận giá trị chi phí bảo hiểm trên toàn bộ

cơ sở là 371.018$ (trách nhiệm chung và toàn bộ những khoản bảo hiểm tai họa). Nhà

máy giấy Mackenzie và nhân viên môi trường tại trụ sở công ty Abitibi-Consolidated

Inc. đã thảo luận mức phí này với nhân viên bảo hiểm của tổng công ty và thấy rằng

không có phương thức dự kiến phân bổ bất kỳ tỷ lệ chi phí bảo hiểm nào cho những

vấn đề môi trường cụ thể, cũng không có bất kỳ phương pháp thống nhất nào để chia

tỷ lệ chi phí này như chi phí môi trường. Nếu điều khoản phụ về môi trường cụ thể có

bao gồm trong chính sách địa phương hoặc một vài điều kiện theo quy định địa

phương (cơ sở cụ thể), thì có thể ghi nhận chi phí này. Những ví dụ được đưa ra là

khoản phí bảo hiểm đối với hệ thống xử lý nước thải và thùng chứa nước ngầm. Nếu

hệ thống xử lý nước thải ngưng hoạt động vì một lý do nào đó thì công ty có thể khiếu

kiện giảm sút doanh thu hoặc chi phí tuân thủ. Tương tự như thế nếu thùng chứa nước

ngầm bị rò rỉ và làm nhiễm bẩn đất xung quanh. Những điều khoản bổ sung như vậy



Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45 61



Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam



không được xem xét rộng rãi trong ngành và sẽ trở nên đắt đỏ nếu áp dụng thêm các

chính sách hiện có.

Nhân viên công ty không thể nhận biết bất kỳ điều khoản bổ sung cụ thể nào

hoặc thậm chí là những trường hợp ngoại lệ trong bất kỳ chính sách nào có bao gồm

cả những chi phí có liên quan đến Nhà máy giấy Mackenzie. Họ cũng thấy điều đó là

không thể rằng trong các chính sách hiện tại Nhà máy giấy Mackenzie có thể đưa ra

những khiếu kiện hoàn toàn mang tính “môi trường” trong phạm vi chi phí bảo hiểm

hiện tại. Điều này được giải thích rằng phần trăm chi phí bảo hiểm không thể là do

những nhân tố rủi ro cụ thể và có thể nhận biết trong nhà máy giấy Mackenzie/ Công

ty Abitibi - Consolidated Inc.

Các vấn đề môi trường không được ghi rõ trong phí tổn bảo hiểm. Bảo hiểm

liên quan đến môi trường là vấn đề mới. Tuy nhiên dù vẫn thiếu những mối liên hệ cụ

thể, các cơ sở xử lý rác thải và môi trường khác vẫn yêu cầu phí bảo hiểm trách nhiệm

chung và bảo hiểm toàn bộ rủi ro. Cách thức phân bổ chi phí đó trong toàn bộ khoản

phí bảo hiểm của Nhà máy giấy Mackenzie là ít nhất cho nhà máy xử lý nước thải,

nếu không có khoản nào khác. Không có chi phí bảo hiểm riêng dựa trên cơ sở, bộ

phận hoặc rủi ro, phí bảo hiểm theo tỷ lệ phù hợp với toàn bộ chi phí bộ phận. Theo

phương pháp này, chi phí bảo hiểm liên quan đến nhà máy xử lý nước thải sẽ là 2.9%

trong 371.018$ con số đó là 10.760$ mỗi năm. Dù con số 10.760$ cho biết cụ thể rủi

ro bảo hiểm nằm ngoaiừ phạm vi báo cáo này hay không thì nó cũng sẽ là con số nhỏ

trong danh mục chi phí phát sinh từ trách nhiệm liên quan đến môi trường. Rõ ràng

rằng, điều khoản bảo hiểm liên quan đến môi trường khó có thể điều tra.

2.1.7. Các chi phí làm sạch

Các khoản chi phí này không nhằm mục đích báo cáo. Những chi phí này

được ẩn trong chi phí hoạt động nhà máy dưới hình thức chi phí bộ phận. Nhà máy

giấy Mackenzie chỉ ra là không thể tách những chi phí này ra khỏi những chi phí dọn

dẹp nhỏ dự kiến xảy ra hằng ngày. Chi phí có thể được tìm ra đối với dự án theo

phương thức chính nhưng không một dự án nào báo cáo trong năm 2000.

2.1.8. Tổng quát chi phí xử lý rác và khí thải

Tổng chi phí xử lý rác và khí thải tối thiểu là 3.348.620$. Chi phí của từng



Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45 62



Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam



mục nhỏ được tổng kết bên dưới với những thông tin được cho trong phụ lục 6.

Khấu hao các thiết bị liên quan



> 866.620$



Bảo trì và phân bổ vật liệu và dịch vụ



> 1.855.059$



Liên quan đến nhân sự



> 537.914$



Lệ phí, thuế và phí



> 78.549$



Tiền phạt và hình phạt



0



Bảo hiểm trách nhiệm pháp lý về môi trường



> 10.760$



Dự phòng cho chi phí khắc phục và chi phí làm sạch tăng lên



Không biết



Tổng chi phí



> 3.348.902$



2.2. Loại 2: Ngăn ngừa và quản lý môi trƣờng

Những hoạt động ngăn ngừa và quản lý bao gồm nhiều nhiệm vụ được thực

hiện trong những hoạt động hằng ngày. Những hoạt động này bao gồm hoạt động

kiểm tra của nhân viên vận hành, hoạt động bảo dưỡng hệ thống cảnh báo, đào tạo

nhân viên vận hành, thay đổi quy trình, tuân thủ các hạng mục kiểm toán môi trường,

theo sát những hành động do kế hoạch hành động đúng gây ra được triển khai sau tình

huống bất ngờ hoặc bỏ lỡ, triển khai và thực hiện các quy trình hoạt động và giám sát

phòng ngừa và phân tích. Bởi những hoạt động phòng ngừa đi liền với toàn bô quy

trình hoạt động, nên khó để phân biệt hoàn toàn những chi phí này với những chi phí

hoạt động khác. Con số 207.109$ từ báo cáo trong năm bao gồm một vài nhưng

không phải tất cả những chi phí đó. Có thể dự tính tỷ lệ thời gian nhân viên vận hành

(hoặc những bộ phận) tiêu tốn cho những hoạt động phòng ngừa (ví dụ: hoạt động

kiểm tra và theo dõi), sau đó chia tỷ lệ thời gian này dựa trên chi phí bộ phận của thao

tác.

Như đã đề cập ở phần trước, có thể hoạt động quản lý môi trường và phòng

ngừa hình thành tập hợp những chi phí nhiều hơn được báo cáo ở đây. Con số về loại

chi phí môi trường này được đưa trong tài khoản dưới đây.

Không khí và Khí hậu: hai chi phí bên ngoài được ghi nhận cho loại này:

141.617$ được tiêu dung cho nhà thầu cung cấp thiết bị lọc, thay đổi môi trường và thử

nghiệm ăn mòn đối với nhà máy; 54.058$ được tiêu dung cho việc bảo dưỡng thiết bị

điều hòa.



Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45 63



Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam



Rác thải: 36.186$ được tiêu dùng cho nhà thầu khi thuê thùng và chuyển tới bãi

rác. Nhà thầu thứ hai nhận được 7198$ từ hoạt động thuê thùng và tiêu hủy rác đặc biệt

(nguyên vật liệu nhiễm dầu).

Nước thải: xấp xỉ 12.000$ được sử dụng cho tư vấn bên ngoài nhằm hỗ trợ tối

ưu hóa hoạt động xử lý nước thải. Tư vấn được hỗ trợ với dự án đặc biệt (thử nghiệm)

liên quan đến việc bổ sung hóa chất (hypochlorite) cho hệ thống xử lý.

Đất và nước ngầm: 11.700$ dành cho phân tích nước ngầm. Bên cạnh đó, 6582$

được dùng cho việc đào 10 giếng nước ngầm mới. Chi phí lao động dành cho thiết bị

thử nghiệm nước thải trong bốn ngày xấp xỉ 768$.

Chi phí được ghi nhận đối với hoạt động phòng ngừa và quản lý môi trường ước

tính lên đến ít nhất 270.109$ tùy theo phân tích thống kê cho dưới đây (Xem phụ lục 6)

Không khí và khí hậu



>195.675$



Lãng phí



>43.384$



Nước thải



>12.000$



Đất và nước ngầm



>19.050$



Tổng



>270.109$

2.3. Loại 3: giá trị mua nguyên vật liệu của đầu ra không phải sản phẩm

Công ty thanh toán ba lần đối với chi phí không tạo ra sản phẩm, trong quá trình



sản xuất, tại bãi rác. Đây là nhân tố chi phí môi trường quan trọng nhất trong Nhà máy

giấy Mackenzie. Tùy vào chi phí nguyên liệu thô và nhân công, chi phí mua nguyên

liệu của nguyên liệu bị loại bỏ có thể lên đến 40-90% trên tổng chi phí môi trường nếu

chi phí nguyên liệu thấp so với tổng chi phí hoạt động, giống như với nhân công, nhân

tố chi phí này không phải chi phí môi trường quan trọng nhất trong tất cả các công ty.

Tính toán giá trị mua nguyên liệu của đầu ra không phải sản phẩm cho thấy cả

những thách thức trên thực tế và lý thuyết. Về lý thuyết, những vấn đề liên quan đến

“hiệu quả” trong quy trình sản xuất là quan trọng. Ở cấp độ thực tế, xuất hiện những

khó khăn trong việc thu thập thông tin được yêu cầu. Những phần tiếp theo cung cấp

con số xấp xỉ liên quan đến giá trị mua nguyên liệu của đầu ra không phải sản phẩm.

2.3.1. Nguyên liệu thô

Nguyên liệu thô lẫn trong nước thải và thậm chí là trong chất thải bùn bao gồm



Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45 64



Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam



hầu hết chất sợi và một số ít những mảnh nhỏ, mảnh vụn hoặc vỏ cây. Hàng tấn nguyên

liệu thô đã mất trong năm 2000 khi được đo hàng ngày trong cống nước thải ước tính

vào khoảng 5219 tấn. Con số ước tính này chỉ có kể từ khi có một vài yếu tố không

chắc chắn trong cách đo đạc.

Do việc chuyển những gỗ dăm sang bột gỗ thông qua quy trình bột gỗ hóa nhiệt

cơ và sau đó tạo ra giấy in sử dụng loại giấy bột này, một tỷ lệ các dòng chảy nguyên

vật liệu xuất hiện như dòng nước thải. Dòng nước thải này có thể được hình thành từ

những hoạt động của đơn vị khác hoặc dọc theo quá trình và cũng có thể được tạo ra

khi đảo ngược quy trình hoặc mất cân bằng. Dòng rác thải trong quy trình bao gồm sợi

nguyên vật liệu thô đã trở nên không thể sử dụng được nữa (bột gỗ) và có thể bao gồm

một tỷ lệ nhỏ những gỗ dăm. Hầu hết là bột gỗ và con số ước tính hàng tấn thông qua

những mẫu được lấy ra từ nhà máy vào khoảng 5219 tấn mỗi năm. Do đó rất đúng để

cho rằng 5219 tấn tương ứng với khối lượng gỗ dăm ban đầu (và do đó, có thể được

tính như chi phí nguyên liệu đầu ra không phải sản phẩm). Dòng nguyên liệu này sẽ

chảy trực tiếp vào nhà máy xử lý nước thải tại nơi tạo ra rác thải rắn phụ (thông qua tác

động sinh học). Toàn bộ nguyên liệu đã thải ra bãi rác công trường.

Rác thải sinh ra trong quy trình sản xuất sẵn có, cụ thể là quy trình bột giấy hóa

nhiệt cơ học bao gồm cả quy trình cơ học và hóa học. Trong giai đoạn cơ học, một số

khối lượng mảnh vụn ban đầu bị mất khi gỗ dăm cứng (cây) được chuyển thành thành

phần. Trong tỷ lệ hóa học, một số thành phần của cây gỗ ban đầu (xúc gỗ hoặc gỗ dăm)

bị hòa tan bằng việc bổ sung hóa chất. Những thành phần này được hòa tan trong giai

đoạn nước thải nhà máy ở dạng lỏng và sau đó được tái chuyển sang khối rác thải rắn

sinh học trong nhà máy xử lý thứ cấp. Những chất thải này tạo thành khối đầu ra không

phải sản phẩm. Nếu việc chuyển đổi gỗ dăm sang giấy là ý tưởng thì nó sẽ tạo ra một

tấn giấy đối với mỗi tấn đầu ra dạng khối. Tuy nhiên, trên thực tế, việc chuyển đổi

không phải là ý tưởng hay và hiệu suất của quy trình tạo bột giấy là chức năng thiết kế

quy trình (trang thiết bị nào ở đâu và cách vận hành). Ví dụ: nhà máy Kraft có hiệu suất

khác hơn so với nhà máy hóa nhiệt cơ, và nhà máy bột giấy hóa nhiệt cơ có hiệu suất

khác hơn loại quy trình tạo bột giấy khác. Giới hạn quy trình và mục tiêu chất lượng

giấy cũng có thể góp phần vào việc không thể sử dụng mỗi nguyên liệu riêng. Điều này



Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45 65



Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam



có nghĩa là quy trình sản xuất tạo ra nguyên liệu không thể sử dụng.

Nhân viên vận hành kiểm tra hiệu suất sử dụng những phương pháp hiệu quả và

tỷ lệ để xem xét. Hiệu suất là giá trị bột giấy được tạo ra trên mỗi đơn vị đấu gỗ, theo

tính toán thì nhỏ hơn một. Tại Nhà máy giấy Mackenzie, sản lượng tạo bột giấy vào

khoảng 88%. Tỷ lệ này nhìn chung vẫn bị nhân viên kế toán thấy được là tỷ lệ ngược

của hiệu suất. Trong sổ chi phí nhà máy, hiệu suất lý thuyết (tính toán) được biết đến

như gỗ dăm được tiêu dùng mỗi tấn sản xuất bột giấy hóa nhiệt cơ tại 2.14 so với ngân

sách đầu tư. Biết được trọng lượng của những gỗ dăm được đưa vào và sử dụng trang

thiết bị đo bao nhiêu bột giấy thất thoát khỏi những chiếc máy xéo giấy. Con số ở mục

2.14 gỗ dăm được tiêu dùng mỗi tấn giấy hóa nhiệt cơ học ở đây cho thấy số liệu tổng

trong năm là chính xác. Như trong hồ sơ ghi, tại nhà máy giấy, cần 2.14 tấn gỗ dăm để

tạo ra một tấn bột giấy hóa nhiệt cơ học (hoặc hiệu suất xấp xỉ 88%). 3% dao động từ

những con số ước tính trong số liệu ngân sách.

Cần thiết để biết bao nhiêu bột giấy có thể được tạo ra với mỗi tấn gỗ dăm. Ví

dụ: nếu tỷ số này tăng lên, nhân viên sản xuất sẽ cân nhắc xem có sự mất cân bằng quy

trình hoặc một vài vấn đề khác có thể đang tạo ra dòng rác thải cao hơn. Nếu họ có tỷ

số dự kiến là ở mục 2.11 tấn gỗ dăm trên mỗi tấn bột giấy hóa nhiệt cơ học nhưng đang

vận hành tại 2.14, điều đó có nghĩa là có sự tổn thất cao hơn đối với vật liệu tốt tiềm

năng vì một lý do nào đó. Kết quả thực tế là nhà máy tạo ra ít bột gỗ tốt và có lẽ là

nhiều rác thải hơn dự kiến. Phương sai 3% từ ngân sách là nguyên nhân sự sai lệch.

Rõ ràng rằng do quy trình và những hạn chế hoạt động, việc chuyển đổi gỗ dăm

sang bột giấy không phải là 100%. Đó cũng là một chức năng của sản phẩm mà Nhà

máy giấy Mackenzie đang tạo ra và chất lượng cần thiết. Trong khi đó hoàn toàn công

bằng khi nói rằng 5219 tấn gỗ dăm mỗi năm được coi như đầu ra không phải sản phẩm.

EMA tập trung vào tỷ lệ đầu vào trên đầu ra 1:1 và quan điểm có liên quan rằng toàn

bộ đầu ra bỏ đi như sản phẩm hoặc rác thải. Theo phương pháp EMA, chi phí thực tế

của 115$/tấn trong 5219 tấn rác phải được cân nhắc đến (600.185$), cộng thêm chi phí

hoạt động bị bỏ đi có liên quan đến việc chuyển đổi ra không phải sản phẩm (Chi phí

Loại 4), cộng chi phí xử lý và tiêu hủy rác tiếp theo (Chi phí Loại 1). (Trong năm 2001,

những ghi chép thực tế cho thấy chi phí đã chi cho những gỗ dăm trong năm 2001



Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45 66



Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam



chính xác là 113.37$/tấn (chuyển và xử lý 110$/ tấn 3.37). Những con số trước đó

trong báo cáo tài chính trong năm là 115$/ tấn).

2.3.2. Đóng gói

Cuộn giấy in báo cuối được cuộn trong tờ giấy nâu. Một vài tờ giấy nâu cũng trở

thành rác phế liệu và đổ tại bãi rác. Lõi bằng bìa cứng của những cuộn giấy báo cũng

trở thành phế liệu và được mang ra bãi rác. Nhà máy nghiên cứu tính khả thi trong hoạt

động kiểm tra rác thải để ước tính số lượng bị thất thoát. Phạm vi và chi phí hai dòng

rác thải vẫn chưa được tìm ra vào thời điểm xem xét. Tuy nhiên, không có một kế

hoạch tái chế cụ thể nào đối với những dòng rác thải này.

2.3.3. Nguyên liệu phụ

Kết quả nguyên liệu phụ và nguyên liệu hoạt động sau đây chỉ là con số tương

đối. Nguyên liệu phụ bao gồm toàn bộ những hóa chất được sử dụng trong quá trình

sản xuất giấy. Những nguyên liệu này bao gồm những hóa chất cần thiết để có được kết

quả chất lượng mong muốn. Chúng bao gồm những hóa chất làm trắng (peroxyt,

sodium hydrosulphite, sodium silicate, DPTA, caustic soda, sulphur dioxide), chất mầu,

chất đông tụ, bột giấy flocculant, và bột giấy hóa nhiệt cơ (caustic soda và sulphur

dioxide). Một vài trong số những hóa chất này được dùng trong sản phẩm (chất mầu,

chất đông tụ và bột giấy flocculant) và những hóa chất khác (như hóa chất hóa chất tẩy

trắng và hóa chất bột giấy hóa nhiệt cơ học) xuất hiện nhiều hơn trong các dòng rác thải

(bởi chúng đóng vai trò hào tan một số thành phần nhất định trong gỗ dăm). Nguyên

liệu như chất mầu, bột giấy flocculant và chất đông tụ chỉ là những hóa chất được bỏ

phía ngoài và xuất hiện trong dòng rác thải. Do đó, hóa chất như peroxide và caustic

soda sẽ xuất hiện trong nước thải.

2.3.4. Vật liệu hoạt động

Vật liệu hoạt động là những vật liệu không có trong sản phẩm (hoặc không tạo

nên nét đặc trưng nào của sản phẩm chẳng hạn như độ trắng được tạo ra do chất tẩy

trắng). Vật liệu hoạt động bao gồm những dịch vụ có liên quan đến trang thiết bị của

Nhà máy giấy Mackenzie và bao gồm cả hóa chất xử lý nước, bộ xử lý phớt, chất

slimicide (kiểm soát vi khuẩn trong hệ thống nước máy xeo giấy), hóa chất kiểm soát

góc nghiêng và thiết bị xử lý nước. Vật liệu hoạt động cũng bao gồm vỏ bọc, đó là keo



Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45 67



Kế toán Quản lý Môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam



dính và mực, vỏ hộp và lõi giấy, những vật phẩm có trong khu vực đóng gói.

Để đo lại, vấn đề khó khăn đối với vật liệu hoạt động và nguyên liệu phụ là hóa

chất nào trộn vào loại nào và phần đó trở thành một phần trong dòng rác thải hơn là dòng

sản phẩm. Thông tin trong phần này và về nguyên liệu phụ chỉ là con số tương đối.

2.3.5. Năng lƣợng

Năng lượng được sử dụng trong quy trình chế tạo giấy được chia thành hai

loại: loại hơi và năng lượng điện. Hơi là sản phẩm phụ từ nhà máy cấp hơi tại nơi sản

xuất. Nhà máy này cũng sản xuất năng lượng điện cung cấp cho nhà máy giấy (93.395

kWh). Năng lượng được tạo ra trong nhà máy giấy từ hoạt động đốt cháy gỗ phế thải.

Một vài chất khí tự nhiên bị thiêu đốt trong nhà máy cấp hơi (nhiên liệu dự trữ).

Lượng điện còn lại được mua (495.610 kWh).

Tổng chi phí điện năng là 15.998.000$ trong năm 2000. Chi phí gồm có chi phí

biến đổi và chi phí cố định. Bổ sung vào chi phí điện năng, chi phí tiêu dùng gas là

4.340.000$ bao gồm gần 20% lượng tiêu thụ năng lượng của nhà máy cấp hơi. Chi phí

gas cũng bao gồm phần biến đổi (dựa trên tiêu dùng) và phần cố định (chi phí chuyển

và trên hợp đồng bao gồm cả chi phí khấu hao đường ống). Thông thường, nhà máy

cấp nhiệt hiệu quả so với điểm dừng năng lượng: nhiều nhiệt thải tạo ra hơi có thể được

tái sử dụng trong quá trình. Nhân tố hiệu suất năng lượng xấp xỉ nhìn chung được sử

dụng trong nhà máy cấp nhiệt là 30-34%. Năng lượng ra khỏi nhà máy dưới dạng sản

phẩm hoặc rác thải ở đầu vào quy trình sản xuất (ví dụ: chất làm ô nhiễm không khí và

nhiệt hao phí). Do đó, chi phí năng lượng cho loại rác thải này cần được cân nhắc. Tóm

tắt chi phí năng lượng từ báo cáo trong năm của Nhà máy giấy Mackenzie được đưa

trong Bảng 2.6.

Bảng 2.6: Tóm tắt các chi phí năng lƣợng

Nguồn



Chi phí biến đổi/tấn



Chi phí cố định/ tấn



Tổng chi phí/tấn



Điện năng



68.60



20.21



88.81



Gas



20.05



4.06



24.10



Hog fuel



4.04



Hog fuel là một thuật ngữ để chỉ gỗ phế liệu.

(Nguồn: Báo cáo chi phí năng lượng trong năm 2000 của nhà máy giấy Mackenzie)



Nguyễn Thị Hòa_Lớp Nhật 2_Quản trị kinh doanh B_Kinh doanh quốc tế _K45 68



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (116 trang)

×