1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Phương pháp chỉ số chủ yếu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (609.45 KB, 119 trang )


ta chỉ cần xem tỷ lệ lao động giữa ba khu vực đó. Lý thuyết này cũng phù hợp với ba thời kỳ của q trình đơ thị hóa ở hầu hết các nước trên thế giới.

4. Phương pháp đánh giá mức độ đơ thị hóa


Theo Phạm Ngọc Cơn, 1999 thì: Đơ thị hóa là một hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp, việc đánh giá mức độ đô thị hóa
gặp phải khó khăn từ hai mặt: Một là, tính vận động của đơ thị hóa, tức đơ thị hóa là một q trình, phương pháp đánh giá mức độ của nó cần sử dụng tiêu chuẩn thống nhất phản
ánh những đặc trưng khác nhau của các thời kỳ đơ thị hóa khác nhau. Hai là, tính đa dạng của nội hàm đơ thị hóa bao gồm sự biến đổi của tỷ trọng dân số, sự biến đổi của thành thị
nông thôn và sự biến đổi phương thức sinh hoạt của dân cư, phương pháp đánh giá mức độ đơ thị hóa cần sử dụng tiêu chuẩn đơn giản để phản ánh nội dung phức tạp. Hiện nay
phương pháp đánh giá mức độ đơ thị hóa chủ yếu có hai nhóm lớn.

4.1 Phương pháp chỉ số chủ yếu


Tức thơng qua mấy chỉ tiêu có ý nghĩa bản chất, có tính tượng trung mà thuận tiện cho việc thống kê phân tích để phản ánh và mơ tả mức độ đơ thị hóa. Đơ thị là khơng gian
đặc biệt, sự tụ hội dân số và hoạt động kinh tế phi nơng nghiệp trên khơng gian đó là đặc trưng quan trọng nhất của đơ thị. Vì vậy các chỉ tiêu chủ yếu phản ánh mức độ đơ thị hóa
là: - Chỉ tiêu dân số - sức lao động
Chủ yếu là quy mô dân số đô thị và tỷ trọng dân số đô thị trong tổng số dân số của khu vực, mức độ tựu nghiệp và cơ cấu tựu nghiệp của ngành sản xuất phi nông nghiệp.
Trước là dân số thường trú của đô thị phản ánh tổng mức đô thị hóa; sau là sự phân bố tựu nghiệp ở các ngành sản xuất khác nhau, là bức tranh phản chiếu trình độ cơng nghiệp và kết
cấu ngành sản xuất của đơ thị, do đó mà phản ánh chất lượng của đơ thị hóa. Mức độ đơ thị hóa có quan hệ chặt chẽ với sự biến động của dân số và tựu nghiệp đô thị
- Chỉ tiêu sử dụng đất đai Chỉ tiêu này từ tính chất đất đai và cơ cấu phân bố khu vực để phản ánh mức độ đơ
thị hóa. Đất đơ thị phân thành đất dùng cho công nghiệp, đất dùng cho kho bãi, đất dùng cho giao thông vận tải đối ngoại, đất dùng cho văn hóa giáo dục khoa học, đất dùng cho
phong cảnh du lịch, đất dùng đặc biệt và đất dùng cho nông lâm nghiệp trong đô thị. Theo
- 15 -
phạm vi phân bố đất đai đơ thị, hình thành khu thương nghiệp, khu công nghiệp, khu dân cư, khu du lịch, khu sinh hoạt văn hóa. Các quốc gia đều có những quy định khác nhau đối
với chỉ tiêu sử dụng đất đai đô thị, thông qua việc so sánh hiện trạng sử dụng đất đai với chỉ tiêu sử dụng đất đai, cũng có thể phản ánh mức độ và chất lượng của đơ thị hóa.
- Chỉ tiêu cơ cấu sản xuất – lao động Một trong những hệ quả cơ bản của q trình đơ thị hóa là sự biến đổi cơ cấu các
ngành sản xuất và theo đó là sự thay đổi cơ cấu lao động xã hội. Nền sản xuất và lao động xã hội được phân thành ba khu vực cơ bản: nông nghiệp theo nghĩa rộng, công nghiệp theo
nghĩa rộng và dịch vụ theo nghĩa rộng. Nói chung, giá trị sản lượng và lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao ở giai đoạn đầu của thời kỳ cơng nghiệp hóa, giảm dần ở các giai
đoạn sau và chiếm tỷ lệ thấp nhất vào giai đoạn hậu công nghiệp. Giá trị sản lượng và lao động dịch vụ chiếm tỷ trọng thấp nhất ở giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp, tăng dần
lên trong giai đoạn đẩy mạnh cơng nghiệp hóa và cuối cùng chiếm tỷ trọng cao nhất ở trong thời kỳ hậu công nghiệp. Như vậy, dựa trên cơ sở phân tích sự chuyển dịch của cơ cấu sản
xuất – lao động, ta có thể xác định được mức độ đơ thị hóa của một quốc gia hoặc một khu vực tại một thời kỳ lịch sử nhất định

4.2 Phương pháp chỉ tiêu thích hợp


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (119 trang)

×