1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Sự thay đổi cơ cấu lao động trong q trình đơ thị hóa Các khu chức năng đơ thị Xu hướng đơ thị hóa và phát triển đơ thị trên thế giới

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (609.45 KB, 119 trang )


• Thời kỳ công nghiệp Đến nữa thế kỷ XX
Các đơ thị phát triển mạnh, song song với q trình cơng nghiệp hóa, cuộc cách mạng cơng nghiệp đã làm cho nền văn minh đô thị phát triển nhanh chon, sự tập trung sản
xuất và dân cư đã tạo nên những đô thị lớn và cực lớn, cơ cấu đô thị phức tạp hơn, đặc biệt là các Thành phố mang nhiều chức năng khác nhau nữa sau thế kỷ XX như thủ đô, Thành
phố cảng. Đặc trưng của thời kỳ này là sự phát triển thiếu kiểm soát của các Thành phố lớn. •
Thời kỳ hậu cơng nghiệp Sự phát triển của công nghệ tin học đã làm thay đổi cơ cấu sản xuất và phương thức
sinh hoạt ở các đơ thị. Khơng gian đơ thị có cơ cấu tổ chức phức tạp, quy mô lớn. Hệ thống tổ chức dân cư đô thị phát triển theo kiểu cụm, chùm, chuỗi.

3. Sự thay đổi cơ cấu lao động trong q trình đơ thị hóa


Một trong những hệ quả cơ bản của q trình đơ thị hóa là sự thay đổi cơ cấu thành phần kinh tế xã hội và lực lượng sản xuất, thể hiện qua sự biến đổi và chuyển giao lao động
xã hội từ khối kinh tế này sang khối kinh tế khác. Jean Fourastier, nhà xã hội học Pháp đã phân tích và đưa ra sự biến đổi của ba khu vực lao động trong các giai đoạn phát triển kinh
tế xã hội và quá trình đơ thị hóa. •
Lao động khu vực I Thành phần lao động sản xuất nông lâm ngư nghiệp. Thành phần lao động này
chiếm tỷ lệ cao ở thời kỳ tiền công nghiệp và giảm dần ở các giai đoạn sau; chiếm tỷ lệ thấp nhất trong ba thành phần ở giai đoạn hậu cơng nghiệp.
• Lao động khu vực II
Bao gồm lực lượng lao động sản xuất công nghiệp. Thành phần lao động này phát triển nhanh ở giai đoạn cơng nghiệp hóa, chiếm tỷ lệ cao nhất trong giai đoạn hậu cơng
nghiệp và sau đó giảm dần do sự thay thế trong lao động công nghiệp bằng tự động hóa. •
Lao động khu vực III Bao gồm các thành phần lao động khoa học và dịch vụ. Theo Fourastier thành phần
này từ chỗ chiếm tỷ lệ thấp nhất trong thời kỳ tiền công nghiệp đã tăng dần và cuối cùng chiếm tỷ lệ cao nhất trong giai đoạn văn minh khoa học kỹ thuật Hậu công nghiệp
Lý thuyết ba thành phần lao động kinh tế của Fourastier có một ý nghĩa rất lớn trong q trình đơ thị hóa. Muốn biết trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của một quốc gia
- 14 -
ta chỉ cần xem tỷ lệ lao động giữa ba khu vực đó. Lý thuyết này cũng phù hợp với ba thời kỳ của q trình đơ thị hóa ở hầu hết các nước trên thế giới.

4. Phương pháp đánh giá mức độ đô thị hóa


Theo Phạm Ngọc Cơn, 1999 thì: Đơ thị hóa là một hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp, việc đánh giá mức độ đơ thị hóa
gặp phải khó khăn từ hai mặt: Một là, tính vận động của đơ thị hóa, tức đơ thị hóa là một q trình, phương pháp đánh giá mức độ của nó cần sử dụng tiêu chuẩn thống nhất phản
ánh những đặc trưng khác nhau của các thời kỳ đơ thị hóa khác nhau. Hai là, tính đa dạng của nội hàm đơ thị hóa bao gồm sự biến đổi của tỷ trọng dân số, sự biến đổi của thành thị
nông thôn và sự biến đổi phương thức sinh hoạt của dân cư, phương pháp đánh giá mức độ đơ thị hóa cần sử dụng tiêu chuẩn đơn giản để phản ánh nội dung phức tạp. Hiện nay
phương pháp đánh giá mức độ đơ thị hóa chủ yếu có hai nhóm lớn.

4.1 Phương pháp chỉ số chủ yếu


Tức thông qua mấy chỉ tiêu có ý nghĩa bản chất, có tính tượng trung mà thuận tiện cho việc thống kê phân tích để phản ánh và mơ tả mức độ đơ thị hóa. Đơ thị là không gian
đặc biệt, sự tụ hội dân số và hoạt động kinh tế phi nông nghiệp trên không gian đó là đặc trưng quan trọng nhất của đơ thị. Vì vậy các chỉ tiêu chủ yếu phản ánh mức độ đơ thị hóa
là: - Chỉ tiêu dân số - sức lao động
Chủ yếu là quy mô dân số đô thị và tỷ trọng dân số đô thị trong tổng số dân số của khu vực, mức độ tựu nghiệp và cơ cấu tựu nghiệp của ngành sản xuất phi nông nghiệp.
Trước là dân số thường trú của đô thị phản ánh tổng mức đơ thị hóa; sau là sự phân bố tựu nghiệp ở các ngành sản xuất khác nhau, là bức tranh phản chiếu trình độ cơng nghiệp và kết
cấu ngành sản xuất của đô thị, do đó mà phản ánh chất lượng của đơ thị hóa. Mức độ đơ thị hóa có quan hệ chặt chẽ với sự biến động của dân số và tựu nghiệp đô thị
- Chỉ tiêu sử dụng đất đai Chỉ tiêu này từ tính chất đất đai và cơ cấu phân bố khu vực để phản ánh mức độ đơ
thị hóa. Đất đô thị phân thành đất dùng cho công nghiệp, đất dùng cho kho bãi, đất dùng cho giao thông vận tải đối ngoại, đất dùng cho văn hóa giáo dục khoa học, đất dùng cho
phong cảnh du lịch, đất dùng đặc biệt và đất dùng cho nông lâm nghiệp trong đô thị. Theo
- 15 -
phạm vi phân bố đất đai đơ thị, hình thành khu thương nghiệp, khu cơng nghiệp, khu dân cư, khu du lịch, khu sinh hoạt văn hóa. Các quốc gia đều có những quy định khác nhau đối
với chỉ tiêu sử dụng đất đai đô thị, thông qua việc so sánh hiện trạng sử dụng đất đai với chỉ tiêu sử dụng đất đai, cũng có thể phản ánh mức độ và chất lượng của đơ thị hóa.
- Chỉ tiêu cơ cấu sản xuất – lao động Một trong những hệ quả cơ bản của q trình đơ thị hóa là sự biến đổi cơ cấu các
ngành sản xuất và theo đó là sự thay đổi cơ cấu lao động xã hội. Nền sản xuất và lao động xã hội được phân thành ba khu vực cơ bản: nông nghiệp theo nghĩa rộng, công nghiệp theo
nghĩa rộng và dịch vụ theo nghĩa rộng. Nói chung, giá trị sản lượng và lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao ở giai đoạn đầu của thời kỳ cơng nghiệp hóa, giảm dần ở các giai
đoạn sau và chiếm tỷ lệ thấp nhất vào giai đoạn hậu công nghiệp. Giá trị sản lượng và lao động dịch vụ chiếm tỷ trọng thấp nhất ở giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp, tăng dần
lên trong giai đoạn đẩy mạnh cơng nghiệp hóa và cuối cùng chiếm tỷ trọng cao nhất ở trong thời kỳ hậu công nghiệp. Như vậy, dựa trên cơ sở phân tích sự chuyển dịch của cơ cấu sản
xuất – lao động, ta có thể xác định được mức độ đơ thị hóa của một quốc gia hoặc một khu vực tại một thời kỳ lịch sử nhất định

4.2 Phương pháp chỉ tiêu thích hợp


Đây là phương pháp mà hiện nay Nhật đang sử dụng, thơng qua việc phân tích tổng hợp các chỉ tiêu có liên quan đến đơ thị hóa để khảo sát mức đơ thị hóa. Nó bao gồm hai hệ
thống chỉ tiêu sau đây: - Hệ thống trưởng thành của đô thị
+ Tổng dân số của khu vực + Tổng mức chi trong măm tài chính của đại phương
+ Số người làm nghề chế tạo + Số người làm nghề thương nghiệp
+ Tổng giá trị sản lượng công nghiệp + Tổng mức thương nghiệp buôn bán
+ Tổng mức thương nghiệp bán lẻ + Tổng diện tích xây dựng nhà ở
+ Tỷ lệ dự trữ
- 16 -
+ Tỷ lệ phổ cập điện thoại - Kích cở đơ thị
+ Quy mơ đơ thị: diện tích, tổng dân số + Vị trí khu vực đô thị: cự ly, thời gian cách trung tâm đô thị
+ Hoạt động kinh tế đô thị: thu nhập tài chính năm, tỷ suất hàng hóa cơng nghiệp, tỷ suất tiêu thụ hàng hóa, tỷ lệ diện tích đất canh tác, tỷ lệ phổ cập điện thoại.
+ Tựu nghiệp đô thị: số người tựu nghiệp của khu vực thứ 3, tỷ lệ số người quản lý, tỷ lệ số người làm thuê.
+ Tăng trưởng dân số đô thị: tỷ lệ tăng trưởng dân số, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động, tỷ lệ số người tựu nghiệp

5. Tiền đề của đơ thị hóa


Bất luận đơ thị hóa loại hình tập trung hay loại hình phân tán, đều biểu hiện mối quan hệ qua lại của sự phát triển biến đổi giữa đô thị và nông thôn. Đô thị trước hết được
hưng thịnh tại khu vực có phân cơng nơng nghiệp hồn thiện và kinh tế nơng thơn phát triển, đồng thời hình thái và trình độ của kinh tế nông thôn luôn luôn quan hệ với tốc độ và
trình độ của đơ thị hóa. Do vây, sự phát triển của kinh tế nông thôn là tiền đề quan trọng nhất của phát triển đơ thị hóa.

5.1 Tiền đề thứ nhất


Sự phát triển của sức sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn không chỉ cần bảo đảm cung cấp các loại nông phẩm cần thiết cho sản xuất và cho sinh hoạt đơ thị mà còn
phải chuẩn bị sức lao động cần thiết cho sự phát triển kinh tế đơ thị. Vì vậy, trong một khu vực tương đối độc lập, sự phát triển của đô thị háo trực tiếp chịu sự chế ước của sự phát
triển sức sản xuất nông nghiệp. Sự phát triển của sức sản xuất nông nghiệp được biểu hiện tập trung trên 3 mặt:
- Sự sâu sắc hóa của phân cơng trong nơng nghiệp, sự phát triển và chun mơn hóa của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, ngư nghiệp dần dần thay thế độc
canh lương thực. - Sự phát triển của khoa học kỹ thuật nông nghiệp, nhất là việc gia tăng công cụ sản
xuất mới, kỹ thuật nuôi trồng mới và sản phẩm mới. Như vậy, mới có thể làm cho
- 17 -
một số lượng sức lao động tách khỏi hệ thống sản xuất nông nghiệp, trở thành đội quân hậu bị của lực lượng đô thị.
- Sản phẩm nông nghiệp phong phú đa dạng, chỉ trong điều kiện nông nghiệp cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm, sự phát triển của các ngành phi nơng nghiệp mới
có tiền đề vật chất.

5.2 Tiền đề thứ hai


Sự biến đổi của quan hệ thành thị nông thôn, quan hệ giữa nông thôn bà đô thị không chỉ giới hạn ở sự phát triển của chỉ riêng kinh tế nông thôn. Trong điều kiện kinh tế
xã hội nhất định, tác động của nông thôn và đô thị là bổ sung lẫn nhau, do đó mà thúc đẩy sự biến đổi của hệ thống đô thị.
Tác dụng của kinh tế nông thôn đối với đô thị được biểu hiện chủ yếu trong việc cung cấp lương thực, thực phẩm và nguyên liệu nông sản cần thiết cho sinh hoạt và sản
xuất của đơ thị, còn đơ thị tác động đến nơng thơn qua 4 mặt: - Thực hiện trao đổi sản phẩm vật chất, đổi công nghệ lấy nông phẩm.
- Cung cấp công cụ và kỹ thuật sản xuất, thúc đẩy sản xuất hàng hóa nơng thơn phát triển.
- Tổ chức phục vụ thương nghiệp, văn hóa, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thơn.
- Thực thi chính sách thống nhất lãnh đạo trong khu vực, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa đô thị và nông thôn.
Quan hệ vận động của sự tác động qua lại giữa thành thị và nông thôn thường quyết định trình độ và phương hướng phát triển kinh tế của tồn bộ nơng thơn, tức là sự phụ
thuộc của nông thôn vào thành thị Phạm Ngọc Côn, 1999

III. Các khu chức năng đô thị và cách bố trí


1. Các khu chức năng đơ thị


Theo Lê Quang Trí, 1999 thì đất đai đơ thị được phân chia thành các 7 khu chức năng, cụ thể là:
- Khu công nghiệp - Khu kho tàng
- Khu đất dân dụng
- 18 -
- Khu trung tâm đô thị - Khu đất giao thông đô thị
- Khu cây xanh - Khu đất đặc biệt

2. Cách bố trí các khu chức năng đơ thị


Theo Lê Quang Trí, 1999 thì các khu chức năng đơ thị được bố trí như sau:

2.1 Khu cơng nghiệp


Khu đất công nghiệp trong đô thị bao gồm đất xây dựng các xí nghiệp cơng nghiệp và tiểu thủ cơng nghiệp được bố trí tập trung thành từng khu vực, trong đó tính cả đất
giao thơng nội bộ, các bến bãi hoặc các cơng trình quản lý phục vụ các nhà máy. Khu đất công nghiệp là thành phần quan trọng của cơ cấu đô thị đồng thời là một
yếu tố quan trọng trong sự hình thành và phát triển đơ thị. Do yêu cầu về sản xuất và bảo vệ môi trường sống, để tránh những độc hại của sản xuất công nghiệp, một số cơ sở
sản xuất phải được bố trí bên ngồi Thành phố, được cách ly với khu vực khác. Ngược lại, một số loại xí nghiệp công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp mà sản xuất khơng ảnh
hưởng xấu đến mơi trường thì có thể bố trí ngay trong khu dân dụng Thành phố.

2.1.1 Các loại hình khu cơng nghiệp


- Tổ hợp cơng nghiệp hồn chỉnh dưới hình thức liên hiệp hóa dây chuyền cơng nghệ - Khu công nghiệp hỗn hợp đa ngành là khu cơng nghiệp tập trung hình thành trên cơ
sở 1-2 xí nghiệp chế tạo máy lớn và các nàh máy dây chuyền chun mơn hóa có kèm theo các cơng trình phụ trợ khác bên cạnh
- Khu cơng nghiệp tổng hợp chun ngành bao gồm các xí nghiệp cơng nghiệp nhẹ và thực phẩm cùng các cơng trình phụ trợ.
- Khu công nghiệp tập trung chế biến hàng xuất khẩu gọi tắt là khu chế xuất, được hình thành từ chiến lược phát triển kinh tế. Ở đây mục tiêu của nước chủ nhà và các
công ty xuyên quốc gia trùng hợp nhau. - Khu công nghiệp kỹ thuật cao là khu cơng nghiệp tạo ra sản phẩm có kỹ thuật cao
để tiêu thụ trên thị trường thế giới. Ngồi các khu cơng nghiệp lớn ở các thành phố còn có những khu cơng nghiệp sản xuất
địa phương ở các tỉnh hay thành phố có ảnh hưởng đến sự phát triển và tồn tại của đô thị tại
- 19 -
đó. Các khu cơng nghiệp này chỉ yếu là các ngành chế biến các sản phẩm nguyên liệu của địa phương hay phụ trách phần sơ chế.

2.1.2 Nguyên tắc bố trí khu cơng nghiệp đơ thị


- Các nhà máy xí nghiệp công nghiệp cần xây dựng tập trung thành từng cụm khu cơng nghiệp và bố trí ngồi khu dân dụng Thành phố. Phải đặt cuối hướng gió và
cuối nguồn nước nếu gần sông. Đảm bảo yêu cầu về giao thông, nước, điện và các dịch vụ khác.
- Đất xây dựng khu cơng nghiệp tùy thuộc vào tính chất quy mơ của xí nghiệp cơng nghiệp, có một số tiêu chuẩn sau đây thường được sử dụng:
• Đơ thị loại I
35 - 40 m
2
người •
Đơ thị loại II 30 – 35 m
2
người •
Đơ thị loại III 25 - 30 m
2
người •
Đô thị loại IV 20 - 25 m
2
người Theo tiêu chuẩn quy phạm thiết kế quy hoạch xây dựng đô thị
- Các khu cơng nghiệp phải có các khu chức năng. - Khu cơng nghiệp có chất thải độc thì phải có khoảng cách ly hợp lý với các khu vực
xung quanh. - Các Khu cơng nghiệpcó chất phóng xạ hay sản xuất các chất nổ khơng được bố trí
trong đô thị - Khoảng cách giữa khu công nghiệp và các khu vực xung quanh phải được ngăn cách
bằng các băng cây xanh.

2.2 Khu kho tàng


Kho tàng là nơi chứa các tài sản, vật tư, nhiên liệu, hàng hóa của nhà nước, tư nhân, xí nghiệp và các dịch vụ công cộng trong Thành phố. Trong quy hoạch đô thị khu đất kho
tàng chiếm vị trí khá quan trọng đối với việc điều hòa phân phối và dự trữ tài sản phục vụ sản xuất và sinh hoạt của dân đô thị và các vùng xung quanh.

2.2.1 Các loại kho tàng - Kho dự trữ quốc gia ngồi đơ thị


- Kho trung chuyển - Kho công nghiệp
- 20 -
- Kho vật liệu xây dựng, vật tư và nguyên liệu - Kho phân phối
- Kho lạnh - Kho chứa các vật liệu cháy nổ, nhiên liệu, chất thải rắn.

2.2.2 Nguyên tắc bố trí


Kho tàng được xây dựng trong đô thị phải đảm bảo mật độ xây dựng trên 60. Trừ những loại kho đặc biệt chuyên dùng, diện tích xung quanh đất đai kho tàng phục vụ
cho đơ thị có thể tính tốn như sau:
- Đô thị lớn và đặc biệt: 3 - 4 m
2
người
- Đơ thị nhỏ và trung bình: 2 - 3 m
2
người Mỗi khu vực kho tàng cần chú ý phải dành đất dự trữ phát triển và bảo đảm khoảng
cách ly vệ sinh cần thiết giữa kho tàng với các khu vực ở và cơng trình cơng cộng. Khoảng cách ly với khu ở và cơng trình cơng cộng của các loại kho tàng cụ thể như sau:
• Kho xi măng, kho phế liệu, kho da chưa thuộc, nguyên liệu vật liệu nhiều bụi là 300
m. •
Kho vật liệu xây dựng, chất đốt, kho lạnh có dung tích lớn hơn 5000 m
3
là 100 m. •
Kho chứa hoa quả, thực phẩm phân phối thức ăn gia súc, các thiết bị vật tư công nghệ phẩm là 50 m.

2.3 Khu đất dân dụng


Đất dân dụng đô thị bao gồm các loại đất xây dựng nhà ở, các cơng trình phục vụ cơng cộng, đường phố, quãng trường,… phục vụ các nhu cầu về nhà ở, nghỉ ngơi, giải trí
của nhân dân Thành phố. Theo tính chất sử dụng, đất dân dụng Thành phố được chia thành 4 loại chính sau:
- Đất ở đơ thị - Đất xây dựng các cơng trình cơng cộng
- Mạng lưới đường và quảng trường - Đất cây xanh

2.4 Khu trung tâm đô thị


- 21 -
Khái niệm khu trung tâm có tính chất chỉ vị trí khu đất trung tâm nơi kế thừa các di tích lịch sử hình thành đơ thị, có mật độ xây dựng tập trung cao về nhà ở, có trang thiết bị
hiện đại với các cơng trình cơng cộng về hành chính, văn hóa, thương mại, dịch vụ,…

2.4.1 Các bộ phận chức năng trong khu trung tâm đơ thị


- Hành chính, chính trị - Y tế, bảo vệ sức khỏe
- Thương nghiệp, thương mại - Dịch vụ
- Thơng tin liên lạc - Văn hố nghệ thuật
- Giáo dục đào tạo - Thể thao
- Nghĩ ngơi du lịch - Tài chính, ngân hàng, tín dụng
- Nhà ở

2.4.2 Chọn vị trí xây dựng khu trung tâm


- Đảm bảo điều kiện giao thông thuận tiện - Phù hợp với điều kiện địa hình phong cảnh
- Có khả năng phát triển mở rộng

2.5 Khu đất giao thông đô thị


Giao thông đô thị là một bộ phận hết sức quan trọng trong thiết kế quy hoạch đô thị. Mạng lưới giao thơng đơ thị quyết định hình thái tổ chức không gian đô thị, hướng phát
triển đô thị, cơ cấu tổ chức sử dụng đất đai và mối quan hệ giữa các bộ phận chức năng với nhau.

2.5.1 Chức năng của đường giao thông đô thị


- Vận chuyển hành khách và hàng hóa, bảo đảm lưu thơng và đi lại hàng ngày của người dân, an toàn và nhanh chóng, bảo đảm mối liên hệ qua lại bên trong và bên
ngồi đơ thị được thuận lợi. - Mạng lưới đường giao thông phân chia đất đô thị thành nhiều khu vực chức
năng, nó làm ranh giới cho các khu đất và các lô đất xây dựng trong và ngồi đơ
- 22 -
thị. Đường giao thơng vành đai đơ thị thường là ranh giới nội thị và ngoại thị. Đường phố chính trong đơ thị thường là ranh giới các khu vực ở và khu thương
mại

2.5.2 Một số nguyên tắc cơ bản về quy hoạch hệ thống giao thông đô thị


- Mạng lưới đường phố và giao thông công cộng trong và ngồi đơ thị phải được thiết kế thành một hệ thống thống nhất, đảm bảo vận chuyển nhanh chóng, an
tồn. - Quy mơ, tính chất của hệ thống đường phải dựa vào yêu cầu vận tải hàng hóa,
hành khách và khả năng thơng xe của mỗi tuyến đường đối với các phương tiện giao thông.
- Mỗi loại đường trong đơ thị có một chức năng riêng đối với từng loại đô thị. Những yêu cầy về kỹ thuật giao thông đặc biệt là ở các đầu mối chuyển tiếp giữa
các loại giao thông hoặc chuyển hướng đi lại của đường phải tuân thủ các chỉ tiêu quy định của nhà nước và quốc tế đối với một số loại hình giao thơng.
- Phải ln có đất dự phòng phát triển và hành lang an tồn cho các tuyến giao thông vành đai, các tuyến chuyên dùng và những trục chính có khả năng phát
triển và hiện đại hóa. - Các đầu mối giao thơng đối ngoại, các bến xe và bãi đổ xe phải liên hệ trực tiếp
thuận lợi với mạng lưới đường bên trong và bên ngoài để khu chuyển đổi phương tiện đi lại không trở ngại cho hành khách, không làm ảnh hưởng đến
sinh hoạt của đơ thị. Các cơng trình đầu mối giao thơng được bố trí trên các trục chính nối liền với trung tâm Thành phố.

2.5.3 Hình thức tổ chức mạng lưới giao thông thành phố


Các loại đường phố kết hợp với nhau tạo nên những mạng lưới đường giao thông Thành phố có hình thức khác nhau, như:
- Hệ thống bàn cờ - Hệ thống bàn cờ có đương chéo
- Hệ thống tia và nan quạt - Hệ thống tia có vòng
- Hệ thơng tam giác
- 23 -
- Hệ thống lục giác - Hệ thống răng lược

2.6 Khu cây xanh


Cây xanh có vai trò rất quan trọng đối với đời sống con người, là một bộ phận trong hệ sinh thái tự nhiên, có tác dụng lớn trong việc cải tạo khí hậu và bảo vệ mơi trường sống
ở đơ thị. Cây xanh còn có tác dụng đặc biệt đối với các cơng trình kiến trúc đơ thị và là một trong những yếu tố của nghệ thuật bố cục không gian và cảnh quan đô thị.

2.6.1 Chức năng cây xanh đơ thị


- Là nơi lọc và điều khiển khí hậu trong đơ thị - Là nơi nghỉ ngơi giải trí cho người dân đô thị
- Là nơi cách ly và bảo vệ cho đô thị - Tạo cảnh quan cho đô thị

2.6.2 Một số chỉ tiêu và nguyên tắc cơ bản quy hoạch cây xanh đô thị


Nguyên tắc cơ bản về thiết kế quy hoạch khu đất cây xanh đô thị là phải bảo đảm được giá trị sử dụng, vệ sinh môi trường và thẫm mỹ đô thị. Hệ thơng cây xanh phải bảo
đảm được tính liện tục trong sử dụng đất cây xanh kết hợp với việc khai thác di sản văn hóa, di sản tự nhiên và tổ chức nghĩ ngơi giải trí trong đơ thị. Những dải cây xanh cách ly
bảo trợ phải bảo đảm các chỉ tiêu quy định. Diện tích cây xanh tùy theo điều kiện và khả năng cho phép của từng đô thị.

2.7 Khu đất đặc biệt


Khu đất đặc biệt là một thành phần trong cơ cấu đất đai của Thành phố, được bố trí theo yêu cầu các hoạt động đặc biệt về kinh tế, kỹ thuật, chính trị, văn hóa, quân sự và hành
chính của Thành phố.

2.7.1 Các loại đất đặc biệt


- Trong Thành phố: Khu ngoại giao và cơ quan quốc tế; quân đội chính quy; Cơ quan đặc biệt của nhà nước.
- Ngoài Thành phố: Khu nghĩa địa; cơng trình xử lý chất thải; Thơng tin liên lạc, viễn thông, trạm thu phát vô tuyến; vườn ươm cây; các dãy cây chống mát, gió,
cách ly; khu dự trữ phát triển quy hoạch Thành phố.

2.7.2 Những yêu cầu trong việc bố trí đất đặc biệt của thành phố


- 24 -
Những vấn đề cần nghiên cứu khi bố trí các cơng trình đặc biệt bao gồm: - u cầu sử dụng thuận tiện đối với mỗi cơng trình, cần xuất phát từ u cầu hoạt
động riêng của cơng trình để xác định vị trí hợp lý của nó, đồng thời không gây ảnh hưởng đến hoạt động chung của Thành phố. Những cơng trình đòi hỏi cao
về giao thơng cần bố trí ở các tuyến đường hoặc đầu mối giao thơng chính của Thành phố.
- Xác định những nhu cầu kinh tế, kỹ thuật của các loại cơng trình để bố trí vị trí quy hoạch của nó một cách hợp lý. Những cơng trình có tính chất xã hội, chính
trị, u cầu quy mơ đất đai và kỹ thuật khơng phức tạp, có thể bố trí trong khu dân dụng Thành phố. Ngược lại, những cơng trình đòi hỏi về trang thiết bị kỹ
thuật phức tạp, diện tích xây dựng lớn thì nên bố trí ở vùng ngoại vi Thành phố. - Cần nghiên cứu ảnh hưởng của các cơng trình đó đối với mơi trường sống và
những vấn đề khác của Thành phố để tìm hiểu biện pháp xử lý thích hợp.

IV. XU THẾ PHÁT TRIỂN ĐƠ THỊ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM


Theo Viện Chiến Lược Phát Triển – Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư, 2003 thì: Bước vào thế kỷ 21 thế giới diễn ra những biến đổi trên nhiều phương diện khác nhau,
trên góc độ đơ thị hóa cho thấy có nhiều biến đổi tác động đến sự hình thành và phát triển các đơ thị.
Trước hết, đó là q trình tăng trưởng kinh tế diễn ra theo xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành công nghiệp làm chuyển dịch đáng kể lực lượng lao động từ khu vực
nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, tạo nên sự gia tăng nhanh chóng dân số khu vực đơ thị, các đô thị được phát triển nahnh cả về số lượng và quy mơ trên phạm vi
tồn thế giới. Trong một vài thập kỷ gần đây, nhịp độ tăng trưởng kinh tế nhanh, chuyển dịch theo
hướng từ Châu Âu sang Châu Á, tạo luồng di chuyển nguồn vốn đầu tư vào các nước Châu Ấ càng lớn, càng đẩy nhanh tốc độ phát triển của các nước Châu Á. Những tác động trên đã
thúc đẩy các nước Châu Á phát triển nhanh, nhiều đô thị lớn mức tập trung dân cư đã quá sức đối với hệ thống hạ tầng và mơi trường.
Cùng với q trình tăng trưởng kinh tế là quá trình hội nhập đã tạo cơ hội cho các đô thị lớn của các nước quan hệ chặt chẽ với nhau trên nhiều lĩnh vực. Trước hế, đó là sự liên hệ
- 25 -
ngày càng rộng của mạng lưới giao thơng vận tải và mạng bưu chính viễn thơng giữa các đơ thị, sự liên kết đó đòi hỏi các đô thị phải đáp ứng các yêu cầu của các mối quan hệ kinh
tế để tạo nên sự thống nhất trong một hệ thống toàn cầu, toàn khu vực, đó là những cơ sở để các đơ thị phát triển và mở rộng quan hệ với quốc tế. Cùng với q trình đó, các mối liên
hệ trong nước cũng được phát triển và mở rộng giữa các đô thị lớn với xung quanh tạo nên một guồng máy hoạt động liên hồn, trong đó mỗi đơ thị là một mặt xích.

1. Xu hướng đơ thị hóa và phát triển đô thị trên thế giới


Sự tăng trưởng ngành công nghiệp và dịch vụ là động lực đẩy nhanh quá trình đơ thị hóa, những ngành này phát triể gắn kết chặt chẽ với các đô thị hoặc các điểm đô thị, đồng
thời làm cơ sở để tăng nhanh lực lượng lao động phi nông nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất. Xu hướng đơ thị hóa phát triển nhanh và diễn ra ở châu Âu vào những năm cuối
của thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 20. Ở nữa cuối thế kỷ 20 xu hướng đô thị hóa được mở rộng ở nhiều châu lục và đan xen ở các nước phát triển và các nước đang phát triển.
Cho tới nay, các nước tư bản phát triển có tới 70 dân số sống ở đơ thị Hoa Kỳ:76, Anh: 89, Pháp: 73, Nhật: 78, Đức: 86, Canada: 78, Italia: 70. Các nước thuộc
khối ASEAN trong một vài thập kỷ trở lại đây có q trình đơ thị hóa diễn ra nhanh chóng và còn tiếp tục có xu hướng phát triển nhanh hơn.
Xu hướng phát triển đơ thị:
Q trình tăng nhanh dân số đơ thị đã tác động mạnh mẽ quá trình phát triển của hệ thống đô thị. Hiện nay trên thế giới tồn tại hai xu hướng phát triển đô thị:
- Xu hướng phát triển tập trung cao độ vào một số cực phát triển - Xu hướng phát triển hệ thống đô thị vệ tinh, làm đối trọng với các cực phát triển.
Xu hướng tập trung là xu hướng diễn ra ở nhiều nước đang phát triển, theo xu hướng này thì quá trình phát triển được tập trung vào một vài cực phát triển, các cực phát triển này
có những ưu thế về tài nguyên phát triển và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thuận lợi. Vì thế, đã có những lợi thế để thu hút nguồn đầu tư trong và ngồi nước để phát triển. Đó là
những hạt nhân của nền kinh tế cả nước hoặc vùng kinh tế. Xu hướng tập trung thường được phát triển ở nhiều nước châu Á như: Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc,… Các nước này
chấp nhận trong giai đoạn đầu của quá trình cơng nghiệp hóa thì các đơ thị lớn được phát
- 26 -
triển cả về quy mô dân số và quy mơ diện tích, mặc dù Nhà Nước có các chính sách hạn chế sự tập trung quá cao và quá nhanh.
Tại Thái Lan, Thành phố Bangkok dân số trên 6 triệu dân nhưng Thành phố lơn thứ hai là ChieengMai ở phía Bắc dân sơ chỉ khoảng 300.000 người. Tại Indonesia, hơn 60 vốn
đầu tư của nước ngoài và trong nước đều tập trung vào Thành phố Jakarta trong giai đoạn trước năm 1980. Theo xu hướng này, trong thời gian đầu, đầu tư vào các đơ thị đó sẽ có
hiệu quả cao nhờ tận dụng được kết cấu hạ tầng sẵn có khi quy mơ dân số chưa quá cao, môi trường chưa bị ô nhiễm và tài nguyên bị suy kiệt. Tuy nhiên quá trình tập trung đó vẫn
tiếp diễn sẽ dẫn đến những hậu quả xấu: kết cấu hạ tầng bị quá tải, về mặt xã hội sẽ tạo những bất bình đẳng về thu nhập và công ăn việc làm giữa các đô thị cực lớn và các vùng
khác. Những mặt trái của quá trình tập trung cao độ vào một số đô thị lớn đang hiện rõ nét như ở Bangkok, Meehico.
Theo báo cáo hàng năm của ADB năm 1997, trên thế giới có 14 Thành phố trên 10 triệu dân hay còn gọi là “những Thành phố khổng lồ”, trong đó khu vực Châu Á – Thái
Bình Dương có 7 Thành phố: Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân, Seoul, Tokyo, Osaka, Jakarta. Theo một số dự báo của Liên Hợp Quốc, đến năm 2015 cả thế giới có khoảng 28
Thành phố trên 10 triệu dân. Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngoài các Thành phố kể trên, trong danh sách các Thành phố khổng lồ có thêm các Thành phố như: Manila,
Bangkok. Các đô thị lớn trải rộng trên một diện tích khá lớn, tạo nên những vùng đô thị mở rộng
EMR. Sự lan tỏa và liên kết của các đơ thị hình thành nên những chùm đô thị, những chuỗi đô thị nối liền nhau và tạo nên những đô thị khổng lồ, siêu đô thị.
Jakarta, Manila, Seoul EMRs có diện tích trên 600 km
2
Bangkok EMR trên 1000 km
2
Thượng Hải EMR trên 6000 km
2
Tokyo EMR trên 13000 km
2
Bắc Kinh EMR trên 16000 km
2
nguồn trung tâm phát triển vùng của Liên Hợp Quốc, 1996 Sự phát triển của các đô thị, đặc biệt là các ngành tạo thị công nghiệp và dịch vụ đã
thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế. Theo ước tính của Ngân hàng thế giới WB, 80
- 27 -
thành tựu tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển diễn ra tại các Thành phố và các vùng đô thị lớn.
Nghiên cứu sự phát triển đô thị, nhận thấy rằng các Thành phố lớn ở châu Âu có ưu thế về dân số chỉ kéo dài trong hơn một thế kỷ thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 và đến giữa thế kỷ
20 đã xuất hiện những đô thị lớn nhất ở Bắc Mỹ. Trong những năm gần đây và dự báo đến năm 2015 trong số 10 Thành phố có dân số đơng nhất thế giới thì có 8 Thành phố nằm ở
các nước đang phát triển như Mehico Mehico, Dhaka Bang-la-det, Bắc Kinh, Thượng Hải Trung Quốc, Karachi Pakistan, Sao Paulo Braxin, Jakarta Indonesia, Bombay
Ấn Độ. Những Thành phố đông dân nhất hiện nay không phải ở các nước giàu có mà thuộc thế giới thứ ba. Chính ở các nước đang phát triển tăng trưởng dân số ở các đô thị lớn
lại diễn ra với tốc độ hết sức nhanh chóng. Ngun nhân chính dẫn đến tình trạng này là: bên cạnh việc phát triển dân số tự nhiên, còn có sự di dân từ các vùng nông thôn ra thành
thị. Trong cuộc cách mạng công nghiệp trước đây ở các Thành phố lớn của các nước phát triển, có đủ khả năng để tiếp nhận làn sóng người di cư từ nơng thơn ra thành thị. Trong
điều kiện đó, số dân này hòa nhập dần dần và trở thành dân cư đô thị. Theo dự báo của các nhà đô thị học thuộc trung tâm phá trung tâm phát triển vùng của
Liên Hợp Quốc cho thấy ,trong khoảng 20 – 30 năm tới, xu hướng phát triển các đô thị lớn vẫn tiếp tục gia tăng. Ngồi một số nước kiểm sốt được q trình đơ thị hóa, còn lại phần
lớn các quốc gia rơi vào tình trạng bị động. Đơ thị hóa nhanh một cách tự phát hoặc do mong muốn mở mang đô thị nhưng chưa đủ điều kiện dảm bảo kết cấu hạ tầng. Việc đổ xô
ra thành thị sinh sống, tạo nên tình trạng: “đơ thị hóa ép buộc” ở một số nước chậm phát triển không những không mở một tương lai tốt đẹp, mà còn là một nguy hại lớn.
Xu hướng phát triển thứ hai, xây dựng hệ thống đô thị vệ tinh sẽ làm giảm sức ép lên Thành phố trung tâm, khai thác được tiềm năng của các đô thị nhỏ khác trong vùng mà vẫn
đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế và đầu tư có hiệu quả. Để tạo cơ hội cho xu hướng phát triển của các loại hình phát triển các đơ thị vệ tinh, chính phủ các nước đã tăng cường
phát triển mạng lưới đường cao tốc liên kết các Thành phố vệ tinh với nhau và giữa Thành phố trung tâm với các Thành phố vệ tinh. Song song với việc tạo lập các đơ thị vệ tinh , các
nước đã có các chính sách phát triển các đơ thị trung tâm vùng nhằm giảm bớt sự tập trung quá lớn vào một vài đơ thị, một trong số các chính sách có hiệu quả là chính sách phân bố
- 28 -
các ngành cơng nghiệp đối với các đơ thị vùng, chính sách ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đơ thị.

2. Q trình phát triển và những vấn đề cần giải quyết


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (119 trang)

×