1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Vị trí địa lý Khí hậu, khí tượng thuỷ văn, tài nguyên nước

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (609.45 KB, 119 trang )


Sau khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây, vùng Cà Mau sát nhập vào Rạch Giá. Năm 1871, Cà Mau tách khỏi Rạch Giá nhập vào Sóc Trăng, năm 1882 nhập với Bạc Liêu thành tỉnh
Bạc Liêu. Sau ngày Miền Nam hồn tồn giải phóng 1975 Cà Mau thuộc tỉnh Minh Hải cho đến tháng 12 năm 1984 trở thành thị xã Tỉnh lỵ .
Tháng 3 năm 1997 Minh Hải được tách ra thành 2 tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu. Thị xã Cà Mau vẫn là Tỉnh lỵ tỉnh Cà Mau mới.
Ngày 14 tháng 4 năm 1999 Chính phủ đã ra nghị định số 211999NĐ-CP về việc thành lập Thành phố Cà Mau thuộc tỉnh Cà Mau .
Trong quá trình hình thành và phát triển người dân Cà Mau – Minh Hải không chỉ đối mặt với thiên nhiên hung dữ mà còn sát cánh đấu tranh chống ngoại xâm thể hiện bản chất
kiên cường bất khuất của người dân Nam Bộ nói chung. Cà Mau đi vào cách mạng kể từ tháng 11930 khi chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Bạc
Liêu cũ được thành lập ở thị trấn Cà Mau đến khởi nghĩa hòn khoai tháng 121940 với gương chiến đấu dũng cảm kiên cường và hy sinh oanh liệt của 10 chiến sỹ mà đến nay và
mãi sau vẫn được người dân vùng Đất Mũi ghi ơn và tôn thờ. Trãi qua hai cuộc kháng chiến thần thánh, nhiều địa danh đã đi vào lịch sử như: U
Minh, Khai Long, Hòn Khoai, Tân Ân, đường mòn Hồ Chí Minh trên biển với những tên tuổi sáng ngời: Phan Ngọc Hiển, Trần Văn Thời, Nguyễn Hồng Dân, Lý Văn Lâm, Hồ Thị
Kỷ, Bông Văn Dĩa,… và với nhiều kỳ tích khác đã biến Minh Hải – Cà Mau trở thành cái nôi của cách mạng và kháng chiến Nam Bộ.

2. Vị trí địa lý


Tỉnh Cà Mau nằm ở vị trí địa lý từ 8 33’ đến 9
33’ vĩ độ Bắc và từ 104 43’ đến 105
24’ kinh độ Đơng. Phía Bắc giáp tỉnh Kiên Giang 63km, phía Đơng giáp tỉnh Bạc Liêu
75km, phía Đơng và Đơng Nam giáp Biển Đơng, phía Tây giáp Vịnh Thái Lan. Bờ biển dài 254km.
Diện tích đất tự nhiên là 5.211 km
2
, bằng 13,10 diện tích vùng Đồng Bằng Sơng Cửu Long và bằng 1,58 diện tích cả nước.
Địa giới hành chính tỉnh Cà Mau gồm 08 huyện: Thới Bình, Ngọc Hiển, Năm Căn, U Minh, Trần Văn Thời, Cái Nước, Phú Tân, Đầm Dơi và Thành phố Cà Mau.
- 35 -
Cà Mau còn có các đảo: Hòn Khoai, Hòn Chuối, Hòn Bương và Hòn Đá Bạc, diệnk tích các đảo xấp xỉ 5km
2
Tỉnh Cà Mau là nơi giao hội của hai tuyến Quốc Lộ: Quốc Lộ 1A trên địa phận Cà Mau là tuyến quan trọng nhất, dài gần 70 km đi từ cửa ngõ phía Đơng thành phố Cà Mau về
huyện Năm Căn, và tuyến Quốc Lộ 63 từ Thành phố Cà Mau đi Kiên Giang cũng là tuyến đường quan trọng ở phía Bắc tỉnh Cà Mau.
Hệ thống giao thông đường thuỷ tỉnh Cà Mau phát triển mạnh và là một đặc thù của miền sông nước Cà Mau, từ thành phố Cà Mau có thể đi tới tất cả trung tâm các huyện lỵ,
xã, thị trấn, các cụm dân cư bằng đường thuỷ. Cà Mau có các sơng lớn như Tam Giang, Bảy Háp, Quản Lộ Phụng Hiệp, sông Gành
Hào, sông Đốc, sông Trẹm,….rất thuận lợi cho giao thông đường thuỷ đi lại khắp vùng ĐBSCL và Thành phố Hồ Chí Minh.
Thành phố Cà Mau nằm về phía Đông của tỉnh Cà Mau, từ thị trấn Tắc Vân đến trung tâm Thành phố dài 13 km theo hướng Đơng – Tây và giáp ranh với các huyện:
- Phía Bắc giáp huyện Thới Bình - Phía Nam giáp huyện Đầm Dơi
- Phía Đơng giáp huyện Giá Rai tỉnh Bạc Liêu - Phía Tây giáp huyện Trần Văn Thời và huyện Cái Nước
3. Địa hình, địa chất 3.1 Địa hình
Vùng đất xây dựng Thành phố Cà Mau là vùng đất trẻ, nền đất thấp, ln bị ngập nước, có tới 90 diện tích ngập mặn là đất chứa phèn tiềm tàng. Phần đất liền tương đối bằng
phẳng có độ dốc theo hướng Đơng Bắc – Tây Nam, cao trình bình quân nền Thành phố từ 0.9m đến 1.3m, các cánh đồng xung quanh từ 0.5m đến 0.7m hệ thống cao độ Mũi Nai –
Hà Tiên. Cao độ các khu vực ở nội ơ đã xây dựng trung bình 1.1m, những năm gần đây do ảnh hưởng thuỷ triều, nhiều khu vực của Thành phố có cao độ dưới 1m hay bị ngập, các
khu vực khác có cao độ trung bình trung bình 0.6m thường xuyên bị ngập khi triều lên. Do vậy cần phải có giải pháp thốt nước đơ thị phù hợp như làm hồ điều hoà lợi dụng thuỷ
triều để tiêu thoát nước như hiện nay Thành phố đã áp dụng mơ hình này.

3.2 Địa chất


- 36 -
Đất đai Thành phố có nguồn gốc từ trầm tích non trẻ Holocen, chủ yếu là sét xám xanh đen hoặc nâu với lớp cát mịn dưới sâu, gồm 2 nhóm đất: nhóm đất mặn trị số pHH
2
0 hơi chua ở tầng đáy mặt pH: 4,5 – 5,5 trung tính ở các tầng sâu, nhóm đất phèn có các chất
chua Al
+++
, Fe
++
, SO
4- --

4. Khí hậu, khí tượng thuỷ văn, tài nguyên nước


Khí hậu Thành phố Cà Mau cũng như của tồn tỉnh là khí hậu nhiệt đới gió mùa, ổn định và mang tính đặc trưng phân mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khơ trong đó mùa mưa từ
tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 26,5
C; tháng nóng nhất là tháng 4 có nhiệt độ trung bình là 27,8 C; tháng lạnh
nhất là tháng giêng có nhiệt độ trung bình là 25 C. Số giờ nắng trung bình trong năm đạt
2500 giờ, lượng bức xạ trực tiếp cao. Lượng mưa trung bình 2400 mm. Độ ẩm khơng khí trung bình khoảng 80 vào mùa khô và 85 vào mùa mưa. Các tháng mùa khơ, khu vực
ven biển thường có sương mù che. Cà Mau ít bị ảnh hưởng của bão, lũ lụt. Nhìn chung khí hậu nhiệt đới, bức xạ và lượng mưa cao rất phù hợp cho phát triển các loài động thực vật
nhiệt đới. Hai đặc trưng quan trọng nhất của thuỷ văn ở tỉnh Cà Mau là tình trạng xâm nhập mặn
và úng ngập, cả hai đặc điểm này đều chịu sự chi phối của thuỷ triều biển Đông và Vịnh Thái Lan, hằng năm nó chi phối chất lượng nước trên hệ thống kênh rạch vào mùa khô,
trong khi hiện tượng ngập úng trong mùa mưa. Vào mùa kiệt, tồn địa bàn chịu sự ảnh hưởng của biển Đơng và Tây nhưng chỉ một dãy đất hẹp dọc biển Đơng ở khu vực Gành
Hào có biên độ triều lớn 3,0 – 3,5m với chế độ bán nhật triều, trong khi vào sâu biên độ triều giảm nhiều. Tại Thành phố Cà Mau bình quân từ 0,8 – 1,2m với chế độ bán nhật triều
biển Đông chiếm ưu thế. Theo các tài liệu thuỷ văn tại trạm Cà Mau mực nước cao nhất tại sông Cà Mau vào
tháng 11 là 1,14m; mực nước thấp nhất trong tháng 5 là: -0,59m. Các bờ sông rạch trong Thành phố hay bị sạt lở do tàu ghe chạy với tốc độ lớn.
Về tài nguyên nước: trữ lượng nước ngầm tại Thành phố Cà Mau khoảng 306.000 m
3
ngày bao gồm tầng II: độ sâu 96,5 – 101,5m là 41000 m
3
ngày; tầng III: độ sâu 186 – 213m là 108.000 m
3
ngày; tầng IV: độ sâu 243,5 – 280,5m là 87.000 m
3
ngày; và tầng V: độ sâu 300 – 341m là 70.000m
3
ngày. Tại các phường của Thành phố Cà Mau hiện đang
- 37 -
khai thác nước ngầm ở 4 tầng bao gồm: tầng II, III, IV, V; tại các xã ngoại thành khai thác nước sinh hoạt ở tầng II, III.

5. Tài nguyên khoáng sản


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (119 trang)

×