1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Cơng trình văn hóa – thể thao Y tế Hiện trạng hệ thống thốt nước

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (609.45 KB, 119 trang )


- Khu cơng nghiệp phía Bắc tại phường 1, quy mô 74 ha. Đây là khu công nghiệp tập trung chế biến thủy hải sản, vật liệu xây dựng, tuy nhiên hiện đã điều chỉnh thành
khu tiểu thủ công nghiệp vật liệu xây dựng với quy mô nhỏ. - Khu cơng nghiệp phía Nam thuộc phường 8 và xã Lý Văn Lâm, trên cơ sở kéo dài
khu công nghiệp hiện có, đây là khu cơng nghiệp chế biến thủy hải sản, cơ khí và kho, cảng, bến bãi, quy mơ 200 ha.
- Khu tiểu thủ công nghiệp An Xuyên, quy mô 145 ha. Mặc dù một số khu, cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã được quy hoạch nhưng
đầu tư kết cấu hạ tầng còn chậm và khơng đồng bộ kể cả hạ tầng đầu nối và hạ tầng nội bộ, do đó chưa có sức hút các doanh nghiệp đầu tư vào. Ngồi khu cơng nghiệp phường 8
phát triển trên cơ sở hiện có cảng cá và một số nhà máy hiện hữu, hiện chỉ có khu tiểu thủ công nghiệp An Xuyên đang triển khai thực hiện.
5.2 Cơng sở và cơng trình phục vụ cơng cộng 5.2.1 Cơng trình hành chính, cơng cộng tỉnh
Hiện đã được xây dựng ổn định và tập trung tại khu vực phường 5 và dọc đường Phan Ngọc Hiển, một số cơ quan sử dụng những cơng trình cũ hoặc xây dựng sau những năm
1975 đến nay đã xuống cấp. Một số cơng trình đã xây dựng theo quy hoạch như: Bưu điện, trụ sở Hải quan, cơ quan thuế, sở xây dựng, … Dự kiến sẽ chuyển vị trí và xây dựng mới
một số cơ quan ban ngành của tỉnh về khu vực phường 6 là khu đô thị cửa ngõ Đông Bắc theo quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt.

5.2.2 Cơng trình hành chính Thành phố


Được đầu tư xây dựng tại phường 9 với cơng trình UBND Thành phố, hội trường Thành phố. Ngồi ra còn một số cơ quan, ban ngành ở rải rác tại một số đường trong thành
phố. Tuy nhiên đa phần đã xuống cấp, dự kiến sẽ chuyển về khu vực trung tâm hành chính Thành phố, quãng trường Thành phố tại phường 9.

5.2.3 Cơng trình hành chính cấp phường


Chủ yếu sử dụng các cơng trình dạng nhà mặt phố, đa số đã xuống cấp và không đủ quy mô, cần cải tạo, mở rộng hoặc đầu tư xây dựng mới.

5.3 Cơng trình văn hóa – thể thao


- 54 -
Khu thể dục thể thao, sân bóng đá của tỉnh trên đường Phan Ngọc Hiển hiện có quy mơ hạn chế, các cơng trình đã xây dựng lâu năm và đã xuống cấp, dự kiến sẽ chuyển thành
Trung tâm thể dục thể thao của Thành phố. Trung tâm thể dục thể thao cấp tỉnh dự kiến sẽ xây dựng mới tại khu vực phường 6, phía Tây sân bay hiện hữu theo quy hoạch chi tiết
khu đô thị cửa ngõ Đông Bắc. Các công trình văn hóa, thể dục thể thao, vui chơi giải trí khác chủ yếu xây dựng với quy mơ nhỏ, xây dựng tạm, chưa đáp ứng được nhu cầu giải trí,
sinh hoạt văn hóa của người dân.
5.4 Cơng trình thương mại – dịch vụ - du lịch 5.4.1 Thương mại – dịch vụ
Trên cơ sở quy hoạch phát triển thương mại – dịch vụ của tỉnh được duyệt, trong thời gian qua, thành phố đã phối hợp với Sở thương mại – du lịch triển khai thực hiện trên địa
bàn, đến nay đã có 9.026 cơ sở kinh doanh – dịch vụ. Thành phố hiện có 01 trung tâm thương mại tại phường 07, có cụm thương mại tại xã Tắc Vân; 03 hợp tác xã thương mại
đang hoạt động. Các siêu thị mini thuộc các doanh nghiệp và toàn bộ các xã phường đều đã có chợ. Tổng số chợ trên địa bàn là 27 chợ, trong đó có 01 chợ loại 1, 01 chợ loại 2 và 25
chợ loại 3. Từ năm 2002 – 2005 bằng nguồn ngân sách của nhà nước cộng với huy động nhân dân, thành phố đã xây dựng lại các chợ phường 5, phường 6, Xã Tân Thành, Xã Hòa
Thành, Xã An Xuyên, Xã Lý Văn Lâm. Mặc dù đã được đầu tư mới, cải tạo nâng cấp một số chợ, cửa hàng thương mại,…
nhưng tại các phường vẫn xảy ra tình trạng quá tải về mặt bằng kinh doanh, nhiều khu vực vẫn chưa có nơi họp chợ. Hạ tầng các khu chợ, thương mại chưa đảm bảo, tình trạng ơ
nhiễm, mất vệ sinh khá phổ biến.

5.4.2 Du lịch


Tiềm năng phát triển du lịch của thành phố là rất lớn, tuy nhiên chưa phát huy hết lợi thế do nhiều yếu tố như: cơ sở hạ tầng du lịch chưa được đầu tư đồng bộ, lực lượng lao
động của ngành du lịch qua đào tạo chưa đủ đáp ứng được nhu cầu hiện nay. Quy mô khách sạn, nhà nghỉ trên địa bàn thành phố tăng khá nhanh năm 2001 trên địa
bàn thành phố có 14 khách sạn với tổng số phòng là 332 phòng có 1 khách sạn 3 sao và 2 khách sạn 2 sao. Đến nay năm 2007 đã có 30 khách sạn với tổng số phòng là 1000 phòng,
trong đó có 600 phòng đạt tiêu chuẩn đón khách quốc tế.
- 55 -
Trên đường Phan Ngọc Hiển và một số khu vực có một số nhà hàng khách sạn mới xây dựng cao tầng như: Ánh Nguyệt, Best, Thái Hoàng, Hoàng Gia, Địa Ốc, Quốc Tế,…..
Các điểm tham quan du lịch và vui chơi giải trí đang dần được nâng cấp. Các dịch vụ du lịch ngày càng phát triển.
Dịch vụ xây dựng nhà cho thuê ở nội ô thành phố tăng rất nhanh phục vụ nhu cầu nhà ở của công nhân, học sinh, sinh viên và những hộ mới chuyển về thành phố chưa có nhà ở.
Tuy nhiên số nhà trọ quản lý được còn rất thấp.

5.5 Y tế


Bệnh viện Tỉnh mới được sửa chữa nâng cấp với quy mô 500 giường bệnh, bệnh viện đa khoa Thành phố với khoảng 100 giường, các trung tâm y tế phường xã được đầu tư xây
dựng mới. Toàn bộ xã phường đều có trạm y tế. Ngồi ra trên địa bàn Thành phố còn rải rác các phòng khám và bệnh viện tư nhân, góp phần đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh vào
hệ thống y tế công cho người dân.
5.6 Giáo dục – đào tạo, dạy nghề 5.6.1 Giáo dục phổ thông
Trong những năm qua, UBND Thành phố cũng như cấp Ủy luôn quan tâm chỉ đạo tăng cường đầu tư xây dựng, sửa chữa, nâng cấp trường lớp, tạo mặt bằng để có điều kiện triển
khai các dự án đầu tư xây dựng trường lớp từ các chương trình của Trung ương và Tỉnh. Năm học 2007 – 2008, Thành phố có 66 trường học 124 điểm trường, có 910 phòng
học được xây dựng kiên cố và bán kiên cố, tăng 290 phòng so với năm 1998.

5.6.2 Giáo dục đại học, cao đẳng, đào tạo nghề


Năm học 2007 – 2008 trên địa bàn Thành phố có 12 cơ sở đào tạo với 20.494 sinh viên, học viên theo học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trung học dạy nghề. Đa số
các trường học đều đã cũ, cơ sở hạ tầng xuống cấp, quy mô hạn chế và khó có khả năng mở rộng.

5.7 Nhà ở


Mật độ xây dựng nhà ở trong Thành phố khác nhau, dày đặc nhất là phường 2, phường 5 với đa số là nhà 2 tầng được xây dựng từ thời Pháp thuộc, một số nhà 3,4,5 tầng tập trung
trên đường Phan Ngọc Hiển, Hùng Vương, Nguyễn Trãi,…
- 56 -
Thành phố cũng đang đầu tư xây dựng một số khu dân cư đô thị mới tại các phường 1,7,8,9 và xã Lý Văn Lâm. Nhà ở chủ yếu là loại nhà kiên cố 2- 4 tầng. Tuy nhiên tốc độ
xây dựng còn chậm, mật độ chưa tập trung. Trong Thành phố vẫn tồn tại một số khu ở tạm bợ, chật hẹp ven các con đường nhỏ và
các khu vực ngoại vi, chủ yếu là nhà bán kiên cố, nhà tạm. •
Nhà ở ven sơng rạch Thành phố Cà Mau là đô thị sông nước của vùng cực Nam Tổ Quốc, giao thông đường
thủy với các tuyến sông, kênh, rạch đóng vai trò rất quan trọng trong q trình hình thành và phát triển kinh tế -xã hội của tỉnh cũng như của Thành phố Cà Mau. Dọc theo các tuyến
sông, kênh, rạch đã tạo nên một quần cư sầm uất, chiếm tỷ trọng 14 cư dân Thành phố, đã tồn tại lâu dài với một nền kinh tế phong phú đa dạng, đóng góp quan trọng cho q
trình phát triển kinh tế -xã hội của Thành phố. Tuy nhiên ngồi tính chất thơng thường và tạo nên cảnh quan đặc trưng của đơ thị, biểu trưng cho hình thái ở của vùng sơng nướ, các
tuyến dân cư còn xây dựng mang tính tự phát, thiếu những chính sách quản lý riêng biệt của Nhà nước đối với khu vực này, nên chưa phù hợp với cảnh quan chung và không đảm
bảo những vấn đề về vệ sinh môi trường.
6. Hiện trạng hệ thống hạ tầng kỹ thuật 6.1 Chuẩn bị kỹ thuật đất xây dựng
Thành phố Cà Mau đây là vùng đất có địa hình thấp, có nhiều sơng rạch, chịu ảnh hưởng của thủy triều biển Đông và biển Tây.

6.1.1 Địa hình


Địa hình khu vực Thành phố Cà Mau là một vùng đất bao gồm khu vực đã xây dựng, khu vực đất ngập nước và đặc biệt là vùng sông nước chịu ảnh hưởng của bán nhật triều
không đều của biển Đông và nhật triều không đều của biển Tây. Cao độ địa hình khu vực đã xây dựng cao trình trung bình 1,10- 1,20 m, những năm gần đây do ảnh hưởng của thủy
triều nên có nhiều khu vực còn lại đất thấp có cao độ 1,0m bị ngập, đây là vấn đề cần được quan tâm trong quy hoạch điều chỉnh Thành phố Cà Mau. Các khu vực còn lại đất
thấp có cao độ trung bình từ 0,30 – 0,60m thường xuyên ngập nước khi triều lên. Một đơ thị có rất nhiều sơng rạch sẽ có rất nhiều thuận lợi cho giao thơng đường thủy
như sông Tắc Thủ, sông Gành Hào, kênh Phụng Hiệp, kênh Phụng Hiệp, kênh xáng Cà
- 57 -
Mau – Bạc Liêu,… Nhưng cũng có những mặt cần khắc phục khó khăn khi mà đô thị nằm trong vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của nhật triều biển Tây và bán nhật triều biển Đơng.
Theo tài liệu tại trạm khí tượng thủy văn Cà Mau thì mực nước cao nhất:101 Cà Mau với tần suất p=1 theo hệ cao độ, tọa độ VN-2000 và mực nước trung bình là: 82,483cm.
Các bờ sông rạch Thành phố Cà Mau hiện tại bị sạt lở ngồi ngun nhân dòng chảy còn ngun nhân chính là do con người, với những bờ sông rạch là đất khơng bờ kè thì việc
những tàu ghe chạy với tốc độ cao sẽ tạo song lớn đập trực tiếp vào bờ đất sẽ gây sạt lở rất nhiều. hiện tại trong trung tâm Thành phố đã giải tỏa và xây dựng được gây một số đoạn bờ
kè trên sông Cà Mau tạo cho Thành phố có những khu vực bờ sông đẹp và sạch sẽ, tương lai việc này sẽ được xây dựng nhiều hơn làm tăng mỹ quan đô thị và chống được sạt lở của
bờ sông.

6.1.2 Đánh giá đất xây dựng


Dựa vào tài liệu thủy văn và một số tài liệu liên quan, xác định Thành phố Cà Mau bao gồm các loại đất xây dựng sau:
- Đất đã xây dựng: là các loại đất đã xây dựng các cơng trình nhà ở, đất cơng cộng. - Đất xây dựng ít thuận lợi: bao gồm các khu đất hiện tại chưa xây dựng, chủ yếu là
đất ruộng thường bị ngập nước khi triều lên. - Đất xây dựng khó khăn: bao gồm đất trũng, đất một số gần bờ sông dễ bị sạt lở.
- Đất quân sự: đất sân bay, đất xây dựng các cơng trình quốc phòng. - Đất giao thơng: đất đường sá, bãi đậu xe trong phạm vi đô thị.
- Sông rạch, ao hồ trong Thành phố.

6.2 Giao thông


Thành phố hiện đang quản lý 124 tuyến đường, với tổng chiều dài 100 km. Trong đó có 80,1 km đường trải nhựa và bê tơng nhựa nóng; các trục đường chính đã được cải tạo nâng
cấp và 288,3 km lộ giao thông nông thôn bằng bê tông. Mật độ đường trải nhựa là 0,82 kmkm
2
. Hệ thống giao thông trên địa bàn Thành phố được đầu tư nhiều nguồn, phát triển đồng
bộ trên cả 3 lĩnh vực hàng không, đường bộ và đường thủy. •
Đường hàng khơng: mỗi ngày có chuyến bay Cà Mau – Thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại.
- 58 -
• Đường bộ: có Quốc lộ 1A, Quốc lộ 63, đang xây dựng tuyến Quản lộ Phụng Hiệp và
tuyến đường Xuyên Á Cà Mau đến đầu cửa khẩu Xà Xía. •
Đường thủy: Thành phố hội tụ 4 con sơng chính Cà Mau – Tắc Thủ, Cà Mau –Bạc Liêu, Cà Mau – Năm Căn và Quản lộ Phụng Hiệp và hàng trăm tuyến kênh rạch đi
các xã phường với tổng chiều dài hơn 300 km.

6.2.1 Giao thông đối ngoại a Giao thơng đường bộ


- Quốc lộ 1A:
• Đoạn từ thị trấn Tắc Vân đến đường Phan Ngọc Hiển có mặt đường rộng 14m, vĩa
hè 2 bên:2 x 6m, lộ giới 26m. •
Đoạn từ đường Phan Ngọc Hiển đến tượng đài Cà Mau đường Lý Thường Kiệt có mặt đường rộng 2 x 12m, dải phân cách giữa: 3m, vĩa hè 2 bên: 2 x 7m, lộ giới 41m.
• Đoạn từ tượng đài Cà Mau đến Cầu Gành Hào có mặt đường chính 20m, vĩa hè 2
bên:2x7m, lộ giới 34m. •
Đoạn từ cầu Gành Hào đi Năm Căn đường Nguyễn Tất Thành có mặt đường 2 bên rộng 2 x11m, dải phân cách giữa: 2m, vĩa hè 2 bên: 2 x 8,5m, lộ giới 41m.
- Quốc lộ 63: là tuyến giao thơng chính từ Cà Mau đi Kiên Giang, có mặt đường 2
bên: 2x12,25m, dải phân cách giữa: 2m, vĩa hè 2 bên: 2 x 6,75m, lộ giới 40m.
- Đường Quản lộ - Phụng Hiệp: nối Thành phố Cà Mau với Thành phố Cần Thơ đi
Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện đang được triển khai thi công với mặt đường 2 bên: 2 x 11,5m; dải phân cách giữa 2m, vĩa hè 2x 7,5m; lộ giới 40m.
- Các tuyến giao thông đối ngoại khác: trên cơ sở thỏa thuận với Bộ GTVT, tỉnh
cũng đang tiến hành đầu tư các tuyến đường tránh, đường vành đai theo quy hoạch chung năm 2001 đã được phê duyệt, sử dụng nguồn vốn ngân sách Trung ương.
• Tuyến QL1A tránh nội ơ Thành phố Cà Mau: tách tuyến từ giao lộ giữa đường vành
đai 3 và QL1A, chạy về phía Đơng Nam Thành phố Cà Mau theo hướng Định Bình, Hòa Thành và nhập với QL1A đoạn Cà Mau – Năm Căn đường Nguyễn Tất Thành
• Tuyến QL63 tránh nội ơ Thành phố Cà Mau: đây là một phần đường Hồ Chí Minh,
tách tuyến tại giao lộ giữa QL63 và đường vành đai 2, chạy về phía Tây trung tâm Thành phố, nối vào đường Hành lang ven biển phía Nam, ra QL1A.
- 59 -
• Tuyến đường vành đai 2 nối QL63 với tuyến Quản lộ - Phụng Hiệp, có mặt đường 2
bên: 2x12,25m; dải phân cách 2 bên:2m, vĩa hè 2 bên: 2 x 6,75m, lộ giới: 40m.
- Cầu đường bộ: hiện trạng nội ơ Thành phố Cà Mau có 3 cây cầu chính, có cấu tạo
Bê tơng cốt thép, cầu Gành Hào trên QL1A bắc qua sông Gành Hào, cầu Cà Mau và cầu Phan Ngọc Hiển bắc qua kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp. Các cầu này đều đang
trong tình trạng sử dụng tốt.
- Bến xe khách liên tỉnh: có diện tích khoảng 5.000m
2
nằm trên QL1a gần cổng sân bay Cà Mau.
 Đánh giá hiện trạng: hệ thống giao thông đối ngoại đường bộ của Thành phố Cà
Mau hiện tương đối hoàn chỉnh, với chất lượng khá tốt. tuy nhiên vẫn chỉ tập trung trong khu vực trung tâm Thành phố. Với việc đầu tư xây dựng thêm đường Quản Lộ - Phụng
Hiệp nhằm phá thế độc đạo của QL1A, đồng thời rút ngắn khoảng cách từ Cà Mau đi Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh; xây dựng các tuyến đường tránh QL1A, Ql63, đường
vành đai 2, hệ thống giao thơng đối ngoại ngày càng hồn thiện, phần nào đã đáp ứng nhu cầu vận chuyển giao thông đường bộ liên tỉnh hiện nay.
b Giao thông đường thủy - Các tuyến giao thơng thủy quốc gia:
• Tuyến kênh xáng Cà Mau – Bạc Liêu: từ trung tâm Cà Mau sơng Gành Hào đi Bạc
Liêu. •
Tuyến kênh Quản lộ - Phụng Hiệp: từ trung tâm Cà Mau sông Gành Hào đi Hậu Giang, Thành phố Cần Thơ.
• Sơng Ơng Đốc: từ Cà Mau sông Tắc Thủ đi thị trấn Sông Đốc.
Các tuyến kênh này hình thành nên mạng lưới giao thông đường thủy của Thành phố Cà Mau: vận chuyển hàng hóa từ Cà Mau đi TPHCM và các tỉnh Miền Tây Nam Bộ, xuất nhập
khẩu hàng hóa qua cảng Năm Căn, Sơng Đốc, hiện có thể đáp ứng cho nhu cầu vận tải các loại tàu thuyền có trọng tải 600 – 700 tấn.
- Các tuyến giao thông thủy khác:
• Sơng Tắc Thủ: từ trung tâm Thành phố Cà Mau đi khu Khí – điện – đạm Khánh An
sơng Ơng Đốc.
- 60 -
• Kênh xáng Lương Thế Trân: chạy về phía nam Thành phố, nối sơng Gành Hào với
sơng Ơng Đốc. •
Tuyến Rạch Rập từ sơng Tắc Thủ đến Kênh xáng Lương Thế Trân •
Sơng Trẹm từ sơng Ơng Đốc đi Thới Bình.
- Bến tàu:
• Bến tàu khách Bến tàu A: trên sơng Tắc Thủ hiện có khoảng 400 ghe, tàu vận
chuyển 3500 – 4000 hành khách qua bến mỗi ngày. •
Cảng hàng hóa Bến tàu B: trên sông Gành Hào, cạnh khu nhà máy chế biến hải sản. Hiện có khoảng 2500 hành khách và khoảng 300 ghe tàu thông qua mỗi ngày.
 Đánh giá hiện trạng: hệ thống giao thông thủy của Thành phố Cà Mau hiện rất
thuận lợi, đáp ứng việc vận chuyển hàng hóa và hành khách đi Cần Thơ, TPHCM và các tỉnh ĐBSCL. Đây là một trong những thế mạnh về giao thông của Thành phố Cà Mau.
c Giao thông đường hàng không
Sân bay Cà Mau hiện hữu với kích thước đường băng 1050m x 30m, đang khai thác cho mục đích dân sự trên tuyến Cà Mau – Thành phố Hồ Chí Minh với tần suất 1 chuyến ngày.
 Đánh giá hiện trạng: Sân bay Cà Mau hiện tại đáp ứng nhu cầu vận tải hàng không
của bán đảo Cà Mau. Tuy nhiên, với quy mô của một đô thị loại III, cùng với sự phát triển của các khu cơng nghiệp, khu khí điện đạm, Thành phố Cà Mau cần có một số sân bay lớn
hơn để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong những năm tới. Ngồi ra, vị trí sân bay hiện tại ảnh hướng lớn đến sự phát triển của Thành phố.

6.2.2 Giao thông nội ô Thành phố


Trên cơ sở quy hoạch chung được duyệt năm 2001, Tỉnh và Thành phố Cà Mau đã tiến hành nâng cấp các tuyến đường trong nội ô từ nguồn vốn ngân sách địa phương
Các tuyến đường chính trong trung tâm Thành phố hiện trạng là mặt đường bê tông nhựa với mặt đường từ 8- 10m, vĩa hè 2 bên: 2x 4-6m, lộ giới: 16 – 22m.
Giao thông công cộng: hiện Thành phố chưa có hệ thống giao thơng cơng cộng, phương tiện giao thông chủ yếu trong Thành phố là phương tiện cá nhân. Để đáp ứng nhu cầy vận
chuyển hành khách của một đô thị loại 2 trong tương lai, cần thiết lập một hệ thống xe buýt phục vụ nhu cầu đi lại của người dân, giải quyết các vấn đề về giao thông như kẹt xe, tai
nạn giao thông, tiết kiệm nhiên liệu, giảm thiểu ô nhiểm môi trường.
- 61 -
Mạng lưới đường giao thông nội ô hiện nay phát triển chủ yếu trong khu trung tâm Thành phố trên địa bàn phường 2 và phường 5. Các khu vực còn lại mạng lưới đường còn
rất thưa thớt, cần sớm đầu tư xây dựng phục vụ nhu cầu sinh hoạt, đi lại của người dân.

6.3 Cấp điện


Hiện trạng cấp điện của Thành phố Cà Mau theo phân viện quy hoạch đô thị - nông thôn Miền Nam, 2007 thì:

6.3.1 Nguồn điện


- Tỉnh Cà Mau hiện nhận điện từ nguồn điện lưới quốc gia qua tuyến cao thế 110KV được lấy từ trạm 220110kv – 250 MVA.
- Trạm 220KV được xây dựng tại xã Khánh An, trạm lấy nguồn bằng tuyến 220KV từ nhà máy điện Cà Mau đặt tại xã Khánh An, huyện U Minh, cách trung tâm Thành
phố Cà Mau 8km. Nhà máy điện Cà Mau là nhà máy tuốc bin khí chu kỳ hỗn hợp, gồm 2 tổ máy tuốc bin khí và 1 tổ tuốc bin hơi – chạy bằng khí được đưa từ mỏ
PM3 ở biển Tây Nam tới địa điểm xây dựng nhà máy – có tổng cơng suất 720 MW. - Năm 2001, ngành điện đầu tư xây dựng nhà máy điện Diezen tại xã Định Bình,
Thành phố Cà Mau. Nhà máy gồm 5 tổ diezen công suất 2.100 KWtổ và 5 tổ công suất 1.500 KWtổ nhà máy diezen chủ yếu làm nguồn dự phòng.

6.3.2 Phụ tải điện


Sản lượng điện thương phẩm của Tỉnh Cà Mau tăng khá cao, bình quân tăng 25,4 năm, chỉ tiêu cấp điện trên đầu người đạt bình quân 190 – 450 Kwhngườinăm.
Lưới điện phân phối trong Thành phố có 2 cấp điện áp: 15kv và 22kv, trong đó chủ yếu là cấp chủ yếu. Các đường dây xây dựng ở các vùng nhiễm mặn xuất hiện tình trạng ăn
mòn các thiết bị của trụ điện. Hành lang kỹ thuật lưới điện ở nội ô và ngoại thành hầu hết đều không đảm bảo an toàn. Các trạm phân phối đều là trạm ngoài trời.

6.4 Cấp nước


Theo cty cấp thoát nước CTĐT Thành phố Cà Mau, 2006 thì:

6.4.1 Nguồn nước


Khu vực Bán đảo Cà Mau và Thành phố Cà Mau, nước mặt hoàn toàn bị nhiễm mặn và khơng có khả năng sử dụng làm nguồn cấp nước.
- 62 -
- Hiện tại Thành phố Cà Mau dùng nước ngầm với 20 giếng trong đó có 19 giếng hoạt động và 1 giếng bị hư. Các giếng cung cấp 30 – 140 m
3
giờ. Khả năng cung cấp nước 25.000m
3
ngày của toàn hệ thống. - Nước ngầm được bơm trực tiếp từ giếng lên chỉ được khử trùng bằng Clo và đưa
thẳng vào mạng lưới cấp nước cho các đối tượng sử dụng, không qua các cơng trình làm sạch cơ học.
- Các giếng khoan hiện đang được khai thác ở các tầng chứa nước chính gồm: •
Tầng chứa nước thứ nhất 100 – 200m: có 4 giếng khai thác với lưu lượng nhỏ từ 30 – 45m
3
giờ. •
Tầng chứa nước thứ hai 200 - 257m: có 16 giếng, thực tế 15 giếng hoạt động với lưu lượng từ 90 – 140m
3
giờ, chiếm 92 lượng nước kahi tồn hệ thống. •
Các giếng bơm làm việc từ 9 đến 10 giờ trong 1 ngày. - Tổng số hộ dân trong nội ô Thành phố được cấp nước sạch 19.973 hộ chiếm 51,3.
Còn lại tồn bộ số hộ ngoại thành chưa được sử dụng nước sạch từ hệ thống cấp nước của Thành phố mà tự khoan giếng để lấy nước, do các giếng khoan không đảm
bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, làm ô nhiễm tầng chứa nước. - Tiêu chuẩn cấp nước hiện nay tính trung bình khoảng 100 lítngườingày

6.4.2 Mạng lưới cấp nước


Mạng lưới cấp nước của Thành phố Cà Mau được xây dựng qua nhiều thời kỳ từ năm 1963 đến nay, có tổng chiều dài là 50.860m, trong đó:
- Với các tuyến ống đặt trước năm 1975: chất lượng ống đã bị hư hỏng nhiều, nằm không đúng quy hoạch lộ giới, khả năng sử dụng còn 60
- Với các tuyến ống đặt từ năm 1984 đến 1992: chủ yếu là ống AC, ống bị rò rỉ nhiều do nền đất yếu, ống bị lún, mối nối bị hư bể.
- Với các tuyến ống đặt từ 1992 đến nay: là ống UPVC còn sử dụng tốt, lắp đặt đúng bị trí lộ giới quy hoạch, khả năng sử dụng đạt 80.
- Đài nước: Thành phố Cà Mau hiện có 1 đài nước bằng bê tơng cốt thép dung tích 150 m
3
, chiều cao tính đến đáy đài là 18m, chiều cao bầu chứa là 4m, nhưng do áp lực và lưu lượng nước quá yếu nên khơng lên được đài. Vì vậy đài nước khơng có
tác dụng, cần sửa chữa lại để sử dụng
- 63 -

6.5 Hiện trạng hệ thống thoát nước


- Hiện trạng thoát nước Thành phố Cà Mau là hệ thống kết hợp giữa mương, cống và hồ điều hòa.
- Thành phố Cà Mau có 46.908 mương cống, trong đó có 1.054m mương đất, rộng từ 0,3 – 0,4 m; 31.049 m mương xây, rộng từ 0,4 – 1,2 m; 13.526m cống bê tông cốt
thép dọc theo các tuyến đường, rộng từ 0,8 – 1 m và 1.279m cống bê tông cốt thép qua đường, rộng từ 0,4 – 1,2 m Cty cấp thoát nướcCTĐT, 2006
- Đặc điểm của hệ thống thoát nước Thành phố Cà Mau là hệ thống chung, thu gom các loại nước thải sinh hoạt, nước thải tiểu thủ công nghiệp, nước mưa chảy tràn,…
Hầu hết các loại nước thải đều chưa được xử lý trước khi thải ra môi trường. - Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống thoát nước đối với sự phát triển đô thị,
Thành phố Cà Mau đã cố gắng đầu tư xây dựng, sửa chữa và bảo dưỡng hệ thống cống rãnh thoát nước. Nhiều khu vực được lắp đặt hệ thống thoát nước mới kiên cố
như các đường: Phan Ngọc Hiển, Lý Thường Kiệt, Lý Văn Lâm, Nguyễn Trãi,… Tuy nhiên nhìn chung hệ thống thốt nước chưa đáp ứng được yêu cầu thoát nước
trong Thành phố. Sau những cơn mưa lớn, trung bình gần 50 con đường trong nội ô Thành phố Cà Mau bị ngập nước một phần hoặc ngập toàn bộ.
- Một số nguyên nhân gây ngập úng: + Sự quá tải, xuống cấp của hệ thống thoát nước Thành phố.
+ Hệ thống nắp đậy mương cống thoát nước vừa thiếu và hư hỏng rất nhiều, một bộ phận người dân thiếu ý thức bỏ rác vào mương cống gây tắc nghẽn đường thốt nước.
+ Cơng tác nạo vét mương cống đặc biệt mương cống nhỏ ở hộ dân chưa được quan tâm, một số cơng trình dân tự xây dựng lấn chiếm, làm thu hẹp đường thốt nước.
+ Sự khơng thường xun việc nạo vét, duy tu sửa chữa hệ thống thoát nước. + Thiếu những quy định xử phạt cụ thể đối với các trường hợp vi phạm các cơng trình
tiêu thốt nước. + Các cơng trình kỹ thuật hạ tầng đơ thị thường khơng được các đơn vị xây dựng chấp
hành đúng, dẫn đến nhiều cơng trình xây dựng chỉ quan tâm phần bao che, khơng xây dựng đồng bộ với hệ thống thốt nước.
- 64 -
+ Độ cao hệ thống thoát nước so với mực nước biển thấp nên hạn chế tốc độ và khả năng tiêu thoát nước khi triều lên.
+ Hệ thống tiếp nhận nước thải từ mương cống chậm được nạo vét như ở các kênh rạch trong nội ô Thành phố, một số rạch bị lấn chiếm tùy tiện gần như khơng còn như: Đoạn
kênh sau đường Lý Thái Tôn, phường 2 từ kênh 16 đến đường Phan Ngọc Hiển, đoạn rạch Chùa phường 4.

6.6 Vệ sinh môi trường đô thị


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (119 trang)

×