1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Tính tất yếu của việc hình thành và phát triển TTCK ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (221.48 KB, 26 trang )


phân tích và tài phán đoán về triển vọng của công ty trong tơng lai sẽ giúp cho ngân hàng có đợc sự lựa chọn đúng đắn mua CK cho chính mình.
II. NHTM với sự ra đời và hoạt động cđa TTCK viƯt nam

1. TÝnh tÊt u cđa viƯc h×nh thành và phát triển TTCK ở Việt Nam


Sau hơn 10 năm đổi mới nền kinh tế nớc ta đã có sự thay đổi căn bản, từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế của nhà nớc. Nền kinh tế đã đạt đợc những thành tựu nhất định, đời sống nhân dân từng bớc đợc cải thiện .
HiƯn nay, chóng ta ®ang tËp trung mäi ngn lùc để thực hiện công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc. Nhu cầu vốn lúc này rất lớn và cấp
bách. Nhng vấn đề đặt ra là có thể huy động vốn từ những nguồn nào? Có thể trông chê vµo vèn vay tõ níc ngoµi vèn ODA, vốn vay thơng
mại ... vốn đầu t trực tiếp từ nớc ngoài FDI . Nhng huy động vốn từ những nguồn này còn nhiều hạn chế nh phụ thuộc nặng nề vào kinh tế thế giới và
gánh nặng nợ níc ngoµi, sư dơng vèn FDI còng chØ híng vµo một số lĩnh vực và hạng mục công trình. Do đó để chủ động tạo ra nhiều vốn đầu t thì vẫn
phải từ nội bộ nền kinh tế là chủ yếu. Nhng không trông chờ nhiều từ nguồn ngân sách nhà nớc vì ngân sách nhà nớc thờng xuyên bị thâm hụt. Việc phát
hành công trái không thành công do lãi suất thấp, do dân chúng cha quen. Phát hành trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình nh đờng dây 500KV và
trái phiếu của các ngân hàng quốc doanh tuy lãi suất cao nhng bị hạn chế bởi khả năng luân chuyển. Do đó ngời dân vẫn còn ngần ngại trong đầu t. Hơn
nữa hệ thống ngân hàng tuy đã đợc đổi mới nhng tính độc quyền còn cao, cạnh tranh kém, dịch vụ nghèo nàn cha thực hiện hết các chức năng của mình
nên cha đủ khả năng thu hút vốn nhàn rỗi trong các cá nhân, tổ chức. Ngoài ra, xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá,
để thực hiện CNH-HĐH thì rất cần vốn trung và dài hạn để đầu t xây dựng vật chất kỹ thuật, đầu t cho phát triển công nghệ.
Những vấn đề trên đặt ra nhu cầu cấp thiết tiến tới hình thành TTCK ở n- ớc ta hiện nay. TTCK sẽ là một kênh huy động vốn trung và dài hạn hữu hiệu
tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong dân c. TTCK ra đời nó sẽ tạo điều kiện cho việc phát hành công trái, trái phiếu kho bạc nhà nớc, trái phiếu ngân
hàng ...Đồng thời là cửa ngõ thu hút vốn đầu t nớc ngoài, điều chỉnh cơ cấu kinh tế
Mặt khác, sau khi chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần, khu vực t doanh đợc mở rộng, luật công ty đã đợc ban hành năm 1990 . Theo luật
này, công ty cổ phần đợc phát hành cổ phiếu và trái phiếu - là những mặt hàng cung cấp cho TTCK. Nếu có đợc một TTCK thì việc mua bán chứng
khoán sẽ dễ dàng hơn, sẽ đa vốn vào đầu t sản xuất tốt hơn.
Hơn nữa, việc phát triển TTCK ở Việt Nam gắn liền với việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc. Chính phủ đã có chủ trơng ban hành nghị định
- 12 -
441998- NĐ-CP ngày 2961998 về việc cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nớc để tăng hiệu quả kinh tế. Nhng tiến độ cổ phần hoá diễn ra rất chậm. Đến
hết năm 1999 chúng ta dự kiến cổ phần hoá 400 DNNN, và trong chỉ thị số 201998CT-TTG qui định đến hết năm 2000 sẽ chuyển khoảng 20 tổng số
DNNN tức là khoảng 1200 đơn vị thành công ty cổ phần. Đến nay chúng ta mới thực hiện đợc 370 doanh nghiệp. Do đó việc thành lập TTCK sẽ giúp đẩy
nhanh tiến độ cổ phần hoá. Và ngợc lại cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà n- ớc sẽ tạo hàng hoá cho TTCK.
Bên cạnh đó, còn có một số yếu tố thuận lợi giúp đẩy nhanh quá trình hình thành và phát triển TTCK Việt Nam. Đó là các yếu tố nh:
Nớc ta có chế độ chính trị - xã hội ổn định. Nền kinh tế từ khi đổi mới có nhiều chuyển biến và đạt đợc một số thành tựu to lớn, đời sống nhân dân từng
bớc đợc cải thiện, có điều kiện nâng cao tích luỹ, lạm phát giảm và giữ ở mức một con số trong những năm gần đây. Đây là những điều kiện thuận lợi cho
việc phát triển TTCK. Hơn nữa, nớc ta là nớc đi sau nên có thể tiếp thu khoa học tiên tiến của thế giới, có thời cơ và ®iỊu kiƯn ®Ĩ rót kinh nghiƯm bỉ sung
nh÷ng khiÕm khut từ mô hình TTCK của các nớc.
Chúng ta đang từng bớc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật: đã ban hành luật công ty, Luật doanh nghiệp t nhân, Luật đầu t nớc ngoài có bổ
sung, hoàn thiện, bớc đầu đã có sức hấp dẫn và thu hút đầu t trong và ngoài nớc.
Từ 1988, nhất là từ khi hai pháp lệnh ngân hàng ra đời năm 1990, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có sự thay đổi về chất, từ hệ thống ngân hàng
một cấp thành hệ thống ngân hàng hai cấp với mạng lới rộng khắp. Các NHTM bao gồm NHTM quốc doanh, Ngân hàng t nhân, ngân hàng cổ phần,
ngân hàng liên doanh. Ngoài ra còn có mạng lới các quỹ tín dụng đợc tổ chức ở cấp xã, phờng. Thị trờng liên ngân hàng ra đời làm tăng khả năng huy động
vốn, tăng khả năng cạnh tranh của các NHTM. Các NHTM phải tự chủ tài chính, phát triển các nghiệp vụ kinh doanh và ngày càng có nhiều kinh
nghiệm hoạt động và kinh doanh tiền tệ trong nền kinh tế thị trờng. Bên cạnh đó các NHTM cũng đã phát hành một số loại kỳ phiếu ngân hàng với các kỳ
hạn và lãi suất khác nhau tức là đã tạo ra hàng hoá cho thị trờng chứng khoán.
Cùng với các NHTM, hệ thống kho bạc nhà nớc cũng đã đợc củng cố về mạng lới và nghiệp vụ. Những năm gần đây, kho bạc nhà nớc đã tiến hành
phát hành nhiều đợt tín phiếu kho bạc. Nhờ những kinh nghiệm thu đợc, kho bạc sẽ là ngời phát hành một khối lợng lớn công trái - một bộ phận quan
trọng trong thị truờng trái phiếu.
Cũng do đổi mới, nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu, các loại hình kinh
doanh. Điều đó cho phép giải phóng mọi năng lực sản xuất kinh doanh, huy động tối đa và có hiệu quả nguồn lực cho công cuộc xây dựng đất nớc. Nhiều
công ty cổ phần và liên doanh đã ra đời với việc đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá DNNN. Điều này cho phép tạo ra ngày càng nhiều hàng hoá cho TTCK
cổ phiếu và trái phiếu công ty .
- 13 -
Nh vậy , xuất ph¸t tõ kinh nghiƯm cđa c¸c níc cã nỊn kinh tế thị trờng phát triển và nhu cầu thực tiễn ở nớc ta, việc hình thành TTCK không những
thúc đẩy tiết kiệm trong nớc, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, thúc đẩy cổ phần hoá DNNN mà còn thúc đẩy vốn đầu t nớc ngoài. Dó đó TTCK Việt Nam ra đời
là một tất yếu khách quan.

2. Hoạt động của các NHTM Việt Nam nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển TTCK.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (26 trang)

×