1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Một số vấn đề còn tồn tại trong quá trình hoạt động TTCK Việt Nam.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (221.48 KB, 26 trang )


giới, t doanh, bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục đầu t, t vấn đầu t. Công ty chứng khoán NHTM CP A Châu vốn điều lệ 43 tỷ đồng, và NHTM cổ
phần Quân đội thành lập công ty chứng khoán TNHH Thăng Long có vốn điều lệ là 9 tỷ đồng, đợc thực hiện các loại hình: Môi giới, quản lý danh mục
đầu t, t vấn đầu t. Đồng thời, theo kế hoạch triển khai của UBCKNN, các NHTM quốc doanh khác đợc phép thành lập các công ty chứng khoán trực
thuộc , các NHTM cổ phần sẽ thành lập công ty chứng khoán nếu có đủ điều kiện. Nh vậy tuy không phải là những công ty chứng khoán duy nhất, song
các công ty chứng khoán do NHTM thành lập là ngời tiên phong trên TTCK non trẻ của Việt Nam. Điều này xuất phát từ nhiều u thế vợt trội của các
NHTM so với các doanh nghiệp khác về vốn, mạng lới chị nhánh và khách hàng, đội ngũ nhân viên đợc đào tạo quy củ, trình độ quản trị điều hành, cơ
sở vật chất kỹ thuật tơng đối đầy đủ, thanh toán cập nhật...Trong thời gian tới, với những đổi mới vững chắc nh hiện nay sẽ có nhiều NHTM tham gia
vào TTCK.
Bên cạnh đó, các NHTM đã tích cực đào tạo đội ngũ nhân viên yêu nghề, giỏi về nghiệp vụ chứng khoán, không ngừng nâng cấp mua sắm nhiều trang
thiết bị hiện đại sẵn sàng tham gia hoạt động trên TTCK.

3. Một số vấn đề còn tồn tại trong quá trình hoạt động TTCK Việt Nam.


Mặc dù còn quá ít thời gian để TTCK Việt Nam có thể khẳng định đợc vai trò của mình trong đời sống kinh tế, nhng dù sao cũng cần phải thấy rằng,
những diễn biến của TTGDCK TP.HCM thời gian qua đã bộc lộ khá nhiỊu u kÐm. NỊn kinh tÕ cđa chóng ta cha thực sự ổn định, hiệu quả kinh tế
thấp, tỷ lệ tích luỹ đầu t còn nhỏ. Năn 1999 tỷ lệ tăng trởng GDP chỉ đạt 4.8. Năng suất lao động thấp, chất lợng sản phẩm còn kém sức cạnh tranh,
hàng hoá còn ứ đọng nhiều. Lu thông tiền tệ cha thông suốt, quản lý yếu kém, nhiều sơ hở, cha đẩy lùi đợc tệ tham nhũng, lạc hậu...
Hệ thống pháp luật tuy đã đợc củng cố, bổ sung nhng còn rất yếu, cha đồng bộ và kém hiệu lực, trong khi hoạt động của TTCK đòi hỏi một hệ
thống pháp luật chặt chẽ và ý thức chấp hành pháp luật cao. ở nớc ta, một văn bản qui phạm pháp luật cao nhất nhằm điều chỉnh hoạt động của TTCK
mới đợc dự thảo là pháp lệnh về chứng khoán và TTCK và cho đến nay vẫn cha đợc ban hành.
Hoạt động của TTCK liên quan trực tiếp đến luật ngân hàng và các tổ chức tín dụng, luật TTCK, luật dân sự , luật đầu t....Việc soạn thảo và thi
hành luật của ta còn gặp nhiều khó khăn do các nhà làm luật không am hiểu nghiệp vơ kinh tÕ nãi chung vµ nghiƯp vơ TTCK nãi riêng, ngợc lại các nhà
kinh tế lại không nắm vững luật. Bên cạnh đó ý thức chấp hành luật còn thấp. Ngiêm trọng hơn là việc thi hành pháp luật không nghiêm minh dẫn tới
nhiều hậu quả tiêu cực và giảm sút lòng tin .
TTCK là nơi diễn ra các hoạt động phức tạp , xử lý lợng thông tin khổng lồ đòi hỏi sự chính xác và tốc độ cao nên phải đợc trang bị những thiết
- 15 -
bị hiện đại, cơ sở vật chất đầy đủ, điều kiện của ta cha thể đáp ứng đợc. Bên cạnh đó chúng ta cha có hệ thống kế toán hoàn chỉnh theo tiêu chuẩn quốc tế.
Công tác kiểm toán còn mới mẻ, số lợng công ty kiểm toán còn ít, do đó việc đánh giá tài chính của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. Điều này dẫn
tới việc thiếu các thông tin chính xác, kịp thời, nhạy cảm đáp ứng cho yêu cầu vốn rất khắt khe của TTCK.
Về trình độ nhận thức của con ngời: hầu hÕt mäi ngêi d©n ViƯt Nam hiĨu biÕt rÊt Ýt về các loại chứng khoán và hoạt động của TTCK. Các quan
chức, các nhà kinh tế, những ngời tham gia tích cực, chủ yếu vào sự hình thành và phát triển TTCK thì hầu nh mới tiếp cận TTCK vỊ mỈt lý thut
chø cha cã kinh nghiƯm thùc tiƠn nên gặp rất nhiều khó khăn. Do đó yêu cầu đặt ra hiện nay là phải có kế hoạch đào tạo, phổ biến kiến thức về TTCK cho
dân chúngvà đặc biệt là nâng cao trình độ các cán bộ, nhân viên tham gia trực tiếp vào hoạt động TTCK.
Hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng tuy đã có những bớc tiến căn bản nhng cha sẵn sàng tham gia vào TTCK. Các NHTM Việt Nam hiện
nay hầu hÕt chØ thùc hiƯn c¸c nghiƯp vơ trun thèng chđ yếu là huy động vốn và cho vay công nghệ ngân hàng yếu kém, lạc hậu dịch vụ nghèo nàn.
Đội ngũ cán bộ cha hoàn toàn thích nghi với cơ chế thị trờng, cha có đủ năng lực và trình ®é tham gia vµo TTCK. Sù u kÐm vỊ kinh nghiệm và trình độ
của hệ thống ngân hàng thể hiện rất rõ qua các đợt phát hành trái phiếu của NHTM vừa qua. Hầu hết mới chỉ dừng lại ở mục tiêu huy động vốn mà
không tính tới khả năng kinh doanh của những ngời đầu t ngay trong các đợt phát hành đó. Hơn nữa các NHTM cha có sự phối hợp cần thiết trong việc
làm đại lý phát hành cho nhau nên chi phí phát hành rất tốn kém. Với thực trạng hiện nay, các NHTM cần phải ®ỉi míi nhiỊu míi cã thĨ tham gia vµo
TTCK vµ phát huy vai trò tích cực của nó đối với TTCK.
Một khó khăn nữa đề cập ở đây là hàng hoá cho TTCK. Số lợng các công ty cổ phần của ta còn quá ít. Thêm vào đó hiệu suất kinh doanh kém,
hàng hoá kém sức cạnh tranh nên ứ đọng nhiều. Tiến trình cổ phần hoá các DNNN diễn ra rÊt chËm do nhËn thøc cđa c«ng chóng, do nhận thức tâm lý
của những ngời lãnh đạo DNNN, do công tác đánh giá tài sản gặp nhiều khó khăn và sự vắng bóng của một TTCK thực sự. Không những số lợng công ty
ít ỏi mà việc bán cổ phiếu của công ty cũng chỉ diễn ra trong phạm vi hẹp cha rộng rãi cho toàn dân chúng. Khả năng lu thông bán lại các cổ phiếu đó cha
có. Thêm vào đó, chúng ta cha có phơng pháp xác định chất lợng công ty nên sự hiểu biết khả năng cung cấp thông tin về các công ty là hạn chế. Vì thế
không tạo đợc cơ sở, sự tin tởng không hấp dẫn công chúng mua bán cổ phiếu.
Nh vậy, cổ phiếu công ty - loại hàng hoá quan trọng trong TTCK- không những ít về số lợng mà còn kém về khả năng lu thông.
Những khó khăn nêu trên một phần là do những bất cập còn tồn tại trong hoạt động của hệ thống NH. Các NHTM trong những năm qua đã đạt đợc
những thành tựu nhất định nh huy động vốn phục vụ có hiệu quả cho nhu cầu
- 16 -
phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân... Nhng do thiếu hiểu biết và kinh nghiệm vận hành trong kinh tế thị trờng nên
trong NHTM vẫn chứa đựng những yếu tố cha lành mạnh, vững chắc và an toàn. Luật ngân hàng nhà nớc và luật các tổ chức tín dụng đã có hiệu lực từ
1101998 nhng việc xây dựng các văn bản pháp quy để thi hành luật vẫn còn chậm, thiếu đồng bộ, một số chính sách, quy định không còn phù hợp cha đ-
ợc sửa đổi bổ sung kịp thời cũng đã gây nhiều khó khăn đối với hoạt động ngân hàng.
Cụ thể vấn đề nh thế nào chúng ta cã thĨ xem xÐt trªn tõng lÜnh vùc. a. Cơ cấu tổ chức , cán bộ:
Sau đổi mới năm 1988, các NHTM đã phát triển với mạng lới rộng khắp. Đến giữa năm 1998, các NHTM đã có một số lợng thành viên đáng kể:
4 NHTM quốc doanh với trên 200 chi nhánh trực thuộc, trên 600 chi nhánh cấp huyện và hàng ngàn phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm, chi nhánh cấp 4, 61
NHTM cổ phần. Ngoài ra còn có 4 ngân hàng liên doanh và trên 200 văn phòng đại diện, chi nhánh của các ngân hàng nớc ngoài. Đây là điều kiện rất
tốt để đa hoạt động ngân hàng phục vụ ngày một tốt hơn nhu cầu đa dạng của đông đảo quần chúng ở mọi địa bàn. Tuy nhiên việc thành lập các ngân hàng
theo địa giới hành chính đang làm giảm tính khách quan và độc lập trong hoạt động của nó, các ngân hàng khu vực lại cha đợc hình thành. Thêm vào
đó các quan hệ trên địa bàn lãnh thổ cha đợc xử lý, phối hợp có hiệu quả. Các chi nhánh ngân hàng nớc ngoài hình thành quá nhanh và nhiều đã cạnh tranh
với ngân hàng trong nớc. Năm 1999 chúng ta đã có nhiều nỗ lực trong sắp xếp lại mạng lới góp phần đẩy mạnh việc lành mạnh hoá hệ thống ngân hàng,
điều này thể hiện rất rõ trong việc đóng cửa và cơ cấu lại khu vực NHTM cổ phần. Đầu năm 1999, NHNN đã đệ trình chính phủ kế hoạch cơ cấu và lành
mạnh hệ thông NHTM cổ phần, trong đó xác định rõ 10 ngân hàng thuậc loại yếu và không có khả năng trả nợ. Trên cơ sở đó, NHNN đã từng bớc tiến
hành sắp xếp mạng lới tổ chức của hệ thống này. Đến nay có 5 ngân hàng bị rút giấy phép hoạt động, trong đó có một ngân hàng đợc mua lại và 2 ngân
hàng đợc sát nhập với các NHTM cổ phần khác.
Vấn đề con ngời trong các NHTM hiện nay cũng tồn tại nhiều bất cập Hầu hết cán bộ nhân viên nghiên cứu đã đợc đào tạo nhng cha thể đáp ứng
nhu cầu phát triển ngày càng cao cuả hệ thống ngân hàng ngày càng hiện đại và cạnh tranh gay gắt. Một số nguyên nhân đó là, công tác đào tạo, bồi dỡng
bố trí cán bộ còn nhiều thiếu sót nên khả năng thích ứng nhanh với cơ chế thị trờng cha cao, trình độ nghiệp vụ còn thấp, một bộ phận cán bộ và viên chức
ngân hàng thoái hoá, biến chất, chế độ chính sách nhà nớc...
Thêm vào đó trong một thời gian dài, công tác thanh tra kiểm tra, giám sát hoạt động ngân hàng không đợc coi trọng đúng mức, chất lợng hiệu quả
kém, thiếu nghiêm minh trong xử lý các vụ vi phạm, điều này đã tạo kẽ hở dẫn đến những vụ vi phạm nghiêm trọng làm ảnh hởng xấu đến hoạt động
của các NHTM nói riêng và hệ thống tài chính nói chung.
b. Hoạt động kinh doanh tiền tệ - 17 -
Nhìn chung, năng lực điều hành kinh doanh trong cơ chế thị trờng của các NHTM còn nhiều bất cập, nặng nề nghiệp vụ truyền thống, các nghiệp vụ
mới chậm đợc áp dụng nên số lợng ít ỏi và chất lợng cha cao. Thêm vào đó là sự can thiệp hành chính còn nhiều vào các hoạt động
kinh doanh tiền tệ của các NHTM, mức độ độc quyền cao các NHTM quốc doanh luôn chiếm trên 75 tỷ phần trong cả hoạt động huy động vốn và
hoạt động cho vay. Những điều này dẫn tới tình trạng hiệu quả kinh doanh kém và có xu hớng giảm sút. Các chỉ tiêu về tỷ lệ nghiệp vụ và khả năng sinh
lời của phần lớn các ngân hàng trong khu vực. Vấn đề đợc đề cập đầu tiên ở đây là hoạt động tín dụng-hoạt động chủ yếu của các NHTM Việt Nam. Tính
đến hết tháng 81999 tổng d nợ cho vay và đầu t hệ thống đối với nền kinh tế chỉ tăng 7 so với đầu năm trong khi mức đề ra cho cả năm là 18. Ngợc
lại, tốc độ huy động vốn thì tăng 10 so với mức dự kiến cả năm là 25. Đây là tình trạng chung cho toàn ngành, từ các NHTM quốc doanh đến các
công ty cổ phần, chi nhánh ngân hàng nớc ngoài và ngân hàng liên doanh. Mức độ tăng trởng tín dụng thấp nh vậy không phải các NHTM không có tiền
cho vay. Liên tục trong hơn một năm qua tất cả các NHTM và tổ chức tín dụng đều liên tục giảm lãi suất tiền gửi bình quân lãi suát huy động vốn
hiện nay là 0,6-0,7 nhng vốn huy động vẫn thờng xuyên tăng cao. ở hầu hết các NHTM, tốc độ tăng trởng vốn huy động gấp 1,8 lần đến 3 lần tốc độ
tăng trởng tín dụng trong 8 tháng đầu năm nay. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tốc độ tăng trởng tín dụng thấp dù chúng ta đã thực hiện một loạt các giải
pháp nới lỏng chính sách tiền tệ nh cắt giảm lãi suất, tái cấp vốn, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, giảm lãi suất cho vay, nới lỏng điều kiện cho vay các hộ
nông dân vay từ 10 triệu đồng trở xuống không cần tài sản thế chấp... ảnh h- ởng chung của tình hình kinh tế khu vực và trong nớc, nền kinh tế thiếu các
dự án đầu t có hiệu quả để ngân hàng cho vay, sản xuất kinh doanh đình trệ khó khăn, do thực hiện hai bộ luật ngân hàng, tác động của những vụ vi phạm
lớn nên buộc các NHTM phải thực hiện chặt chễ các qui chế về cho vay, bảo lãnh... Điển hình là thị trờng vốn tín dụng nông thôn đợc coi là rộng lớn và
nhiều tiềm năng nhất cũng chỉ chiếm 205 tổng d nợ tín dung ngân hàng đối với nền kinh tế.
Chính vì vốn huy động tăng nhanh, cho vay khó khăn nên các NHTM sử dụng nguồn vốn mua công trái quốc gia vơí số lợng lớn 2550 tỷ đồng trong
đợt phát hành vừa qua và tham gia đấu thầu mua trái phiếu kho bạc trong 8 tháng đầu năm 1999 mua trên 2000 tỷ đồng để chống lỗ tiết kiệm .
Nhng vấn đề nổi cộm nhất trong hoạt động tín dụng hiện nay là vấn đề nợ quá hạn tăng vợt mức bình thờng ở các NHTM. Nợ quá hạn hiện nay
chiếm trên 10 tổng d nợ- gấp đôi thông lệ quốc tế, trong đó 40 thuộc diện nợ khó đòi. Nguyên nhân chính là do các NHTM yếu kém trong việc thu thập
thông tin , phân loại đánh giá lựa chọn khách hàng, công tác giám sát yếu kém, vi phạm nguyên tắc tín dụng. Cụ thể: các NHTM tập trung cho vay đối
với các doanh nghiệp nhà nớc do có nhà nớc bảo đảm. Điều này tởng nh an toàn nhng lại không an toàn vì trên thực tế có hơn 60 doanh nghiệp nhà
nuức làm ăn thua lỗ hoặc cầm chừng. Các NHTM cùng cho vay ồ ạt, thiếu
- 18 -
lựa chọn , giám sát đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. NhiỊu doanh nghiƯp khu vùc nµy sư dơng vèn sai mục đích nh buôn lậu trốn thuế... hoặc
đầu t không hiệu quả chẳng hạn đầu t vào bất dộng sản... dẫn tới thua lỗ nặng nề mất khả năng thanh toán và quỵt nợ. Tỷ lệ nợ xấu ngày càng gia tăng
nên gây rất nhiều khó khăn cho các NHTM làm mất đi tính ổn định lành mạnh, hiệu quả trong hoạt động của NHTM. Bên cạnh đó vẫn tồn tại khoảng
cách lớn giữa vốn trung và dài hạn khoảng 20 tổng nguồn vốn và tín dụng trung - dài hạn 40 d nợ tín dụng. Điều này đòi hỏi phát triển TTCK để
đáp ứng nhu cầu vốn trung - dài hạn cho nền kinh tế.
NHTM từng bớc đa dạng hoá và nâng cao chất lợng các hoạt động trung gian, dịch vụ ngân hàng. Biểu hiện là các hình thức bảo lãnh , chuyển tiền
thanh toán không dùng tiền mặt đang đợc mở rộng dần và thực hiện một số dịch vụ trung gian đang trong quá trình giải ngân, thu nợ.
Bảo lãnh của các NHTM đang trở thành dịch vụ phổ biến ở nớc ta. Doanh số của các NHTM tăng lên hàng năm qua các loại nh bảo lãnh dự thầu, bảo
lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh mở LC trả chậm... Với chất lợc ngày càng cao. Dịch vụ bảo lãnh vừa làm tăng khả năng tìm kiếm đầu t cho các doanh
nghiệp vừa nâng cao năng lực giám sát thực hện hợp đồng của NHTM, nâng cao uy tín của NHTM. Nhng vẫn còn một số tồn tại: thủ tục bảo lãnh cha
thực sự thuận tiện, thiếu chi tiết, hành lang pháp lý cho bảo lãnh cha đủ, quỹ bảo lãnh còn quá nhỏ bé.
Nghiệp vụ chuyển tiền đã đợc thực hiện từ khi còn là hệ thống ngân hàng một cấp, nhng thời gian chuyển tiền rất chậm do cha đợc trang bị công nghệ
hiện đại. Hiện nay dịch vụ chuyển tiền ngày cµng më réng víi thêi gian chun tiỊn ngµy mét rút ngắn thờng là 2 ngày, cá biệt từ 3 dến 5 giờ thu
hút số lợng khách hàng ngày càng đông. Đây là kết quả của việc triển khai thanh toán chuyển tiền qua mạng máy tính, thanh toán điện tử nối mạng toàn
quốc, tổ chức thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng, hoàn thiện dần các thể thức thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng....Tuy nhiên việc thực
hiện nghiệp vụ này của các NHTM còn nhiều thiếu sót nh dịch vụ với khách hàng nhiều khi cha có sự hớng dẫn nhiệt tình chu đáo, thủ tục chuyển tiền
còn nhiều điểm cha hợp lý.
Trong hoạt động thanh toán của các NHTM cũng có những thành tựu nhất định. Khối lợng thanh toán không dùng tiền mặt trong tổng phơng tiện
thanh toán tăng: năm1997 tăng 16 so 1996. Tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt trong tổng phơng tiện thanh toán qua ngân hàng chiếm 60.
Trong đó thanh toán bằng uỷ nhiệm chi chiếm 65, ngân phiếu 17 và séc 8. Tốc độ thanh toán cũng tăng nhanh, hệ thống thanh toán qua mạng
SWIFT bớc đầu có kết quả.
Nhng khối lợng thanh toán bằng tiền mặt hiện nay ở nớc ta so với tổng phơng tiện thanh toán còn quá lớn năm 1997 là 30. Điều này sẽ bất lợi
cho việc quản lý lu thông tiền tệ, dễ phát sinh tiêu cực, lãng phí vốn. Nguyên nhân chủ yếu của hiện tợng này là do cơ sở hạ tầng đảm bảo cho hệ thống
thanh toán còn yêú kém, công cụ thanh toán cổ truyền nh séc không đợc a
- 19 -
chuộng do phạm vi sử dụng hẹp, phức tạp, hình thức thanh toán hiện đại nh dùng thẻ cha đợc phổ biến và do thói quen thanh toán của dân chúng.
Bên cạnh đó các NHTM bớc đầu cũng tham gia các kinh doanh khác về giấy tờ có giá, mà ngời tiên phong ở đây là các NHTMCP và ngân hàng liên
doanh. Các ngân hàng này sẵn sàng chiết khấu các giấy tờ có giá cho các khách hàng có quan hệ thờng xuyên với ngân hàng để tạo vốn cho khách
hàng và tìm đầu ra cho nguồn vốn huy động của mình. Chẳng hạn NHTMCP A Châu nhận chiết khấu trái phiếu kho bạc nhà nớc, trái phiếu ngân hàng và
các loại trái phiếu do các tổ chức quốc doanh lớn phát hành. Bên cạnh chiết khấu các ngân hàng còn tham gia đầu t vào giấy tờ có giá. Ngân hàng First
Vina Bank đã mua trái phiếu chính phủ, tín phiếu chính phủ, kỳ phiếu ngân hàng từ năm 1994.
Tuy nhiên, cho đến nay các NHTM Việt Nam vẫn cha có dịch vụ uỷ thác, dịch vụ mua bán và quản lý hỗ trợ tài sản dịch vụ trung gian tài chính dới
dạng t vấn, cung cấp thông tin cho khách hàng. Tóm lại, hoạt động của các NHTM nói riêng và cả hệ thống ngân hàng
nói chung từ khi đổi mới đã có nhiều cải tiến và đạt đợc những thành tựu nhất định góp phần phát triển kinh tế xã hội. Song hệ thống ngân hàng vẫn cha đ-
ợc lành mạnh vững chắc an toàn. Đặc biệt hoạt động của các NHTM còn nhiều bất cập. Nh thế thì nó cha thể đáp ứng đợc nhu cầu đòi hỏi của công
cuộc đổi mới đất nớc.
Nh vậy, vấn đề đặt ra là phải từng bớc thay đổi hệ thống NH, cải tiến các hoạt động của nó để đáp ứng với sự phát triển của TTCK.

4. Một số yêu cầu ®èi víi NHTM ViƯt Nam hiƯn nay


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (26 trang)

×