1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Một số yêu cầu đối với NHTM Việt Nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (221.48 KB, 26 trang )


chuộng do phạm vi sử dụng hẹp, phức tạp, hình thức thanh toán hiện đại nh dùng thẻ cha đợc phổ biến và do thói quen thanh toán của dân chúng.
Bên cạnh đó các NHTM bớc đầu cũng tham gia các kinh doanh khác về giấy tờ có giá, mà ngời tiên phong ở đây là các NHTMCP và ngân hàng liên
doanh. Các ngân hàng này sẵn sàng chiết khấu các giấy tờ có giá cho các khách hàng có quan hệ thờng xuyên với ngân hàng để tạo vốn cho khách
hàng và tìm đầu ra cho nguồn vốn huy động của mình. Chẳng hạn NHTMCP A Châu nhận chiết khấu trái phiếu kho bạc nhà nớc, trái phiếu ngân hàng và
các loại trái phiếu do các tổ chức quốc doanh lớn phát hành. Bên cạnh chiết khấu các ngân hàng còn tham gia đầu t vào giấy tờ có giá. Ngân hàng First
Vina Bank đã mua trái phiếu chính phủ, tín phiếu chính phủ, kỳ phiếu ngân hàng từ năm 1994.
Tuy nhiên, cho đến nay các NHTM Việt Nam vẫn cha có dịch vụ uỷ thác, dịch vụ mua bán và quản lý hỗ trợ tài sản dịch vụ trung gian tài chính dới
dạng t vấn, cung cấp thông tin cho khách hàng. Tóm lại, hoạt động của các NHTM nói riêng và cả hệ thống ngân hàng
nói chung từ khi đổi mới đã có nhiều cải tiến và đạt đợc những thành tựu nhất định góp phần phát triển kinh tế xã hội. Song hệ thống ngân hàng vẫn cha đ-
ợc lành mạnh vững chắc an toàn. Đặc biệt hoạt động của các NHTM còn nhiều bất cập. Nh thế thì nó cha thể đáp ứng đợc nhu cầu đòi hỏi của công
cuộc đổi mới đất nớc.
Nh vậy, vấn đề đặt ra là phải từng bớc thay đổi hệ thống NH, cải tiến các hoạt động của nó để đáp ứng với sự phát triển của TTCK.

4. Một số yêu cầu đối với NHTM Việt Nam hiện nay


Với những u thế của mình trên TTCK, để hoạt động có hiệu quả, cần phải có một số thay đổi trong hệ thống NHTM:
Thứ nhất, về cơ cấu tổ chức.
- Mỗi NHTM phải từng bớc hợp lý hoá cơ cấu tổ chức: đảm bảo tính độc lập về chức năng của mỗi bộ phận đồng thời đảm bảo tính phối kết hợp
đồng bộ nhịp nhàng, tập trung quản lý. -Đẩy mạnh hơn nữa công tác đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng mọi
mặt của đội ngũ cán bộ viên chức ngân hàng, xem đây là một khâu then chốt trong tiến trình đổi mới. Đặc biệt phải có một đội ngũ chuyên gia chứng
khoán am hiểu sâu về TTCK, một đội ngũ nhân viên tinh thông nghiệp vụ chứng khoán. Đi đôi với nâng cao trình độ là nâng cao ý thức trách nhiệm,
phẩm chất đạo đức, lòng nhiệt tình của đội ngũ cán bộ, sử dụng ngời hợp lý - phân công đúng ngời đúng việc, thởng phạt rõ ràng.
-Các NHTM cũng phải hết sức chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nội bộ, từng bớc hiện đại hoá, tin học hoá trong mọi hoạt động
- 20 -
trang bị mạng lới máy tính, trang thiết bị hiện đại phục vụ cho quản lý, cho việc thực hiện các nghiệp vụ nh thanh toán, chuyển tiền.... Những việc làm
này không những nhằm nâng cao chất lợng hoạt động mà còn có ý nghĩa quyết định trong việc thu thập, xử lý cung cấp những dòng thông tin tin cậy,
kịp thời- một yếu tố không thể thiếu khi NHTM tham gia hoạt động trên TTCK.
Thứ hai, về quản lý vốn
Các NHTM phải có những biện pháp tích cực để tăng vốn tự có, tăng khả năng huy động vốn. Nguồn vốn dồi dào là cơ sở để NHTM mở rộng cho vay,
đầu t thực hiện tốt các nghiệp vụ trung gian, đặc biệt là các nghiệp vụ liên quan đến chứng khoán nh bảo lãnh phát hành chứng khoán...
- Tăng vốn tự có: Để tăng vốn tự có, ngoài việc đẩy mạnh tích luỹ, các NHTM có thể gọi vốn cổ phần hay sát nhập với NHTM khác tuỳ điêu kiện cụ
thể. - Tăng khả năng huy động vốn: Để tăng khả năng huy động vốn, cần
có chính sách khách hàng mang tính cách riêng của từng ngân hàng nhằm thu hút sự quan tâm tín nhiệm của khách hàng, mà quan trọng là phải bảo
toàn giá trị tiền gửi, đảm bảo khả năng thanh toán nhanh chóng khi đáo hạn, đảm bảo cho khách hàng ngày càng đợc hởng nhiều dịch vụ tiện ích do ngân
hàng cung cấp. Đồng thời phát triển mạng lới dịch vụ đến tận nơi khách hàng cần để thu hút tiền nhàn rỗi trong dân c nh dịch vụ uỷ nhiệm chi,
chuyển tiền, phát triển dịch vụ tại nhà đối với khách hàng có thu nhập cao, ổn định. NHTM cũng có thể có giải pháp nhận tiền gửi theo các mục đích do
khách hàng yêu cầu, chẳng hạn nh mở tài khoản tiết kiệm cho trẻ em từ lúc sơ sinh tới lúc trởng thành. Bên cạnh đó các NHTM phải tích cực tham gia
vào thị trờng tiền tệ liên ngân hàng và nó có thể huy động vốn thông qua việc phát hành kỳ phiếu, trái phiếu.
- Tăng cờng hoạt động cho vay , đầu t. + Trớc hết cần phải xử lý nợ quá hạn, nợ khó đòi nhằm lành mạnh
hoá tình hình tài chính của các NHTM, tiến hành rà soát, phân loại toàn bộ số d nợ, đồng thời phân tích tài chính của khách hàng để có biện pháp cụ thể:
với trờng hợp cã thĨ tiÕp tơc kinh doanh th× duy tr× quan hệ tín dụng để thu hồi vốn dần dần, với trờng hợp không thể tiếp tục kinh doanh thì tiến hành
thanh lý tài sản thế chấp còn những trờng hợp trốn nợ, chây lỳ cần phối hợp với các cơ quan chức năng để thu hồi nợ
+ Tiếp tục cung ứng vốn cho nền kinh tế, tích cực tìm các dự án khả thi, có khả năng thu hồi vốn để cho vay với những sự trợ giúp nhất định
và không phân biệt thành phần kinh tế. Tuy nhiên để ngăn chặn, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro, lệch lạc trong hoạt động tín dụng, các NHTM cần tăng
khả năng phân tích, đánh giá lựa chọn khách hàng, tăng khả năng thẩm định dự án đầu t, phân tích tài chính để xây dựng hạn mức tín dụng, phân bổ tín
dụng hợp lý, tăng cờng công tác kiểm tra giám sát để đảm bảo an toàn vốn đầu t. Việc tăng cờng thâm nhập vào nền kinh tế nh góp vốn liên doanh, mua
cổ phiếu của các công ty cổ phần với tỷ lệ đủ để tham gia điều hành cũng là môt giải pháp không những tạo đầu ra cho nguồn vốn của ngân hàng mà còn
- 21 -
làm tăng khả năng phân tích tài chính các doanh nghiệp cho NHTM. Đồng thờì các NHTM phải kiểm tra phát hiện và phối hợp với các cơ quan chính
quyền, cơ quan pháp luật xử lý có hiệu quả, kịp thời những trờng hợp khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, vi phạm pháp luật.
- Nâng cao chất lợng và đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng. + Cải tiến thủ tục bảo lãnh sao cho đơn giản nhng vẫn đảm bảo
an toàn và từng bớc đa dạng hoá hình thức bảo lãnh: ngoài các hoạt động bảo lãnh truyền thống cần triển khai hoạt động bảo lãnh liên doanh, chứng khoán.
+ Phát triển và nâng cấp mạng thanh toán SWIFT và mạng thanh toán thẻ. Trang thiết bị, xử lý công nghệ phục vụ cho thanh toán cần đợc
đồng bộ và liên hệ chặt chẽ giữa các NHTM víi NHNN nh»m gióp cho viƯc thanh to¸n, chun tiền nhanh hơn. Các NHTM cũng cần đơn giản hơn thủ
tục phát hành séc, mở rộng phạm vi thanh toán séc ra ngoài địa bàn tỉnh và các hệ thống ngân hàng bằng cách mở tài khoản lẫn nhau để trùc tiÕp thanh
to¸n bï trõ.
+ Tham gia t vÊn, cung cấp thông tin về tài chính ngân hàng, đầu t, công nghệ cho khách hàng
+ Thực hiện giữ hộ vàng, bạc và đá quý, chứng khoán... Có đợc những thay đổi trên, các NHTM phải tiếp tục làm gì để tăng cờng
sự hoạt động của mình trên TTCK? Trong điều kiện hiện nay, các NHTM mà trớc hết là NHTMQD thành lập công ty con hoạt động kinh doanh CK độc
lập. Mô hình này có u điểm các NH đợc kết hợp kinh doanh NH và kinh doanh CK, do đó tận dụng đợc thế mạnh về tài chính, kinh nghiệm, mạng lới
khách hàng. Bên cạnh đó , bởi vì có quy định hoạt động riêng rẽ giữa hai hoạt động trên cho nên hạn chế đợc rủi ro nếu có sự biến động của một trong hai
thị trờng này. Sau khi thành lập công ty con kinh doanh CK, NHTM sẽ là thành viên của TTGDCK. Trên cơ sở này, NHTM:
- Giúp các khách hàng lựa chọn danh mục đầu t chúng khoán có lợi nhất, an toàn nhất. Với t cách là ngời môi giới có uy tín nhất trên thị trờng,
các NHTM sẽ thực hiện các lệnh mua, lệnh bán của khách hàng. Thông qua đó NHTM tham gia vào việc định giá chứng khoán.
- Dùng nguồn vốn của mình mua chứng khoán trên thị trờng sơ cấp hay thị trờng thứ cấpnhằm thu lợi nhuận đa dạng hoá các loại hình kinh
doanh dể giảm thiểu rủi ro. - NHTM tham gia tạo hàng ho¸ cho TTCK
+ NHTM cã thĨ trùc tiÕp ph¸t hành các giấy tờ có giá có khả năng chuyển nhợng nh kỳ phiếu, trái phiêu, chứng chỉ tiền gửi, phiếu nợ chuyển
đổi... + NHTM mở rộng chiết khấu CK, nh thế làm tăng tính lỏng của các
CK, các CK trở nên hấp dẫn đối với công chúng và đợc mua bán nhiều hơn. + NHTM có thể bán các chứng khoán mình có đợc nhờ hoạt động
đầu t. Hơn nữa việc NHTM đầu t mua chứng khoán của các công ty cổ phần đang gặp khó khăn sẽ giúp công ty phát triển, chất lợng cổ phần của nó đợc
- 22 -
nâng lên, NHTM cũng có thể mua các cổ phiếu của các DNNN đang cổ phần làm đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá, cung cấp hàng hoá cho TTCK.
- Nhờ hiệu quả hoạt động kinh doanh tiền tệ, đặc biệt là huy động vốn NHTM có thể có đợc nguồn vốn dồi dào, có đủ uy tín kinh nghiệm để thực
hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán. NHTM cần phải phân tích đánh giá, lựa chọn công ty để bảo lãnh và lựa chọn hình thức bảo lãnh cho
phù hợp. Khi đó , NHTM có thể t vấn cho các công ty cách thức phát hành, thời điểm phát hành, hình thức cổ phiếu, lợi suất cổ phiếu...NHTM cũng có
thể thực hiện phân phối chứng khoán, có thể mua lợng chứng khoán đầu tiên trên thị trờng.
- NHTM thực hiện bảo quản và quản lý, thanh toán các CK NHTM phải kiểm tra toàn bộ nội dung, hình thức của từng loại CK đợc mang tới bảo
quản, lựa chọn phơng thức bảo quản phù hợp: + Bảo quản đặc biệt: tức là xếp các loại chứng khoán của một
khách hàng thành tập riêng + Bảo quản tập trung: tức là xếp chứng khoán của tất cả các khách
hành theo từng loại chứng khoán. Phơng thức này đơn giản hơn giảm đợc chi phí.
- Các NHTM quản lý chứng khoán thông qua việc thu lợi tức chứng khoán, chuyển đổi sang loại chứng khoán khác hay thay mặt khách hàng
tham dự đại hội cổ đông khi khách hàng yêu cầu... NHTM đảm bảo an toàn, quyền lợi cho khách hàng.
Để thúc đẩy sự hình thành và phát triển công ty chứng khoán của NH, các giải pháp cần thực hiện là:
Thứ nhất, ổn định môi trờng kinh tế. Tăng trởng cao và ổn định, lạm
phát ở mức độ vừa phải, lãi suất phải ở mức để các doanh nghiệp tăng cờng đầu t, mục đích để tạo điều kiện hình thành TTCK, tạo niềm tin cho ngời đầu
t và đó cũng chính là môi trờng thuận lợi thành lập công ty CK
Thứ hai , có những chính sách kinh tế vĩ mô tạo cung và cầu cho TTCK,
tạo thói quen đầu t CK không chỉ trong các doanh nghiệp mà cả công chúng. Đặc biệt, cần thúc đẩy các doanh nghiệp trong danh sách cổ phần hoá, tránh
tình trạng năm 1999 sô doanh nghiệp dự kiến là 400 nhng chỉ thực hiện đợc 250 doanh nghiệp .
Thứ ba, NHNN nên nới lỏng điều kiện cho phép các ngân hàng thành lập
công ty CK, đặc biệt chú trọng NHTMQD. Xuất phát từ vị trí vai trò của hệ thống NH dới góc độ về vốn, chuyên môn, mạng lới cán bộ nên trong thời
gian đầu, hệ thống các công ty CK chủ yếu phải có sự tham gia của hệ thống NH. Bên cạnh đó, một số NH cổ phần lớn có tình trạng tài chính tốt, kinh
doanh có lãi, nợ quá hạn thấp và có quy mô vốn lớn đủ để tham gia thị trờng có thể xem xét cho phép hoạt động kinh doanh CK. Với những quy định chặt
chẽ nêu trên thì không phải NHTM nào cũng thoả mãn đợc đặc biệt về qui định nợ quá hạn, hơn nữa hoạt ®éng kinh doanh cđa NH l¹i chđ u phơ
thc chđ yếu vào tình hình làm ăn cuả các doanh nghiệp, cho nên có thể
- 23 -
trong thời gian này các hệ thống tiêu chuẩn trên đợc thoả mãn nhng thời kỳ sau NH lại bị vi phạm tiêu chuẩn đó. Chính vì vậy, NHNN nên quy định
khung cho một số tiêu chuẩn chẳng hạn nh nợ quá hạn. Trong thời gian đầu, các công ty CK nên chỉ giới hạn ở số lợng nhất định, theo nh tính toán có thể
khoảng 5-7 công ty. Vì nếu số công ty CK nhiều sẽ dẫn đến khả năng cạnh tranh không lành mạnh, trong khi đó chi phí cho hoạt động ban đầu là rất
cao, dẫn đến thu không đủ bù chi. Ngoài ra để đảm bảo nguyên tắc hiệu quả và an toàn nên lựa chọn các ngân hàng có quy mô lớn và chất lợng cao, cần
tách bạch rõ ràng giữa hoạt động NH và lĩnh vực CK nhằm mục đích giảm thiểu rủi ro.
Thứ t, là các chính sách hỗ trợ và khuyến khích công ty CK, UBCK cần
hỗ trợ về kỹ thuật, thủ tục, các bớc thành lập và hớng dẫn thực hiện.
- 24 -
Kết luận
Ngày 2072000, thị trờng giao dịch CK đầu tiên của Việt Nam chính thức đi vào hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh. Đối với Việt Nam, đây là
một lĩnh vực mới. Nó là dấu ấn quan trọng đối với nền kinh tế thị trờng non trẻ của nớc ta.
Tổ chức ra một TTCK không khó, cái khó là làm thế nào để thị trờng đó có sức sống thực sự, phát huy đợc vai trò của nó. Một hệ thống NH vững
chắc sẽ giúp cho TTCK đạt đợc mục tiêu này. NHTM Việt Nam bên cạnh những thành tựu đạt đợc còn nhiều hạn chế trong hoạt động , tổ chức và cha
thể đáp ứng đợc nhu cầu đòi hỏi của công cuộc đổi mới đất nớc trong giai đoạn mới, đặc biệt với đòi hỏi sớm cho ra đời TTCK hoạt động an toàn hiệu
quả. Nh thế, đổi mới hoạt động của các NHTM là một vấn đề hết sức cần thiết. Đề tài đã đa ra một số yêu cầu nhằm đổi mới hoạt động NHTM trong
quá trình hình thành phát triển TTCK. Những yêu cầu này nhằn xây dựng một hệ thống NHTM lành mạnh, hoạt động có hiệu quả, an toàn và có đủ khả
năng tham gia TTCK.
Đổi mới hoạt động của các NHTM đang là vấn đề đặt ra hết sức cấp thiết. Nhng cũng cần nhận định rõ ràng, đây là vấn đề hết sức phức tạp mang
tính hệ thống, nó liên quan đến hầu hết các ngành, các hoạt động trong nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên với những thuận lợi và thành tựu đạt đợc , cùng
sự nỗ lực của các cơ quan chức năng , chúng ta có thể tin tởng các NHTM sẽ đợc nâng cao chất lợng hoạt động, giữ vai trò tích cực, quan trọng trong quá
trình hình thành và phát triển TTCK ở nớc ta hiện nay.
- 25 -
Tài liệu tham khảo
1.Đổi mới chính sách tài chính tiền tệ và kiểm soát lạm phát ở Việt Nam Tập thể tác giả - NXB Chính trị quốc gia .Năm 1995
2.Đề án TTCK Việt Nam Ngân hàng Nhà Nớc 3.Hớng tới một TTCK đầu tiên ở Việt Nam
Trần Du Lịch - Hà Nội: Trung tâm phát triển ngoại thơng và đầu t 4.Kiến thức phổ thông để kinh doanh trong TTCK NXB Khoa häc - Kü thuËt
1995 . 5.Niên giám thống kê 1998
6.Nghị định 481998NĐ- CP 7.Sự hình thành và phát triển thị trờng tài chính ở nền kinh tế chuyển đổi
Việt Nam
Nguyễn Đình Tài - Häc viƯn chÝnh trÞ qc gia -. NXB ChÝnh trÞ quốc gia.1997.
8.Tiền tệ , ngân hàng và thị trờng tài chÝnh Frederic S. MÝhkin- NXB Khoa häc vµ kü thuËt - Năm1993
9.Toàn cảnh TTCK NXB TP Hồ Chí Minh 1999 Nguyễn Ngọc Bích. 10.Tạp chí
- Khoa học Ngân hàng số chuyên đề : Để tiến tới hình thành TTCK ở Việt nam - số15 . Năm 1993.
- Phát triển kinh tế số 49 1999 - Thông tin tài chính tiền tệ :số 1,2,7,9 1998
- Thị trờng chứng khoán : số 1,51999 - Thơng mại : số 181998
- Tạp chí Ngân hàng: số 10,14.16.17,181999 - Diễn đàn chứng khoán : số 37, 38,39 2000
- Tạp chí ngân hàng: số 7,8,9 2000 -Đầu t chứng khoán : số 33, 34, 35,36., 37,38,39,40,41 2000
- Uỷ ban chứng khoán nhà nớc Một số vấn đề về tổ chức và vận hành TTCK ở VN Kinh Tế - Kế hoạch số 6- 1998.
- Sử dụng các công cụ tài chính trong việc thúc đẩy và hình thành TTCK ở Việt Nam Tạp chí ngân hàng số 3- 1999.
- 26 -

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (26 trang)

×