1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Một số điểm lưu ý trong lòch sử phát triển của Eximbank

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (680.27 KB, 121 trang )


Trang 3492
nghệ ngân hàng theo chủ trương của Ngân Hàng Nhà Nước. Eximbank đã chọn đối tác là Tập Đoàn Công Nghệ Thông Tin Hyundai Hyundai Information
Technology Corporation để thực hiện 1 phần dự án nói trên với giá trò USD3,000,000 để hiện đại hóa hệ thống thanh toán Eximbank. Từ năm 2003, dự
án này đã đi vào hoạt động và hiện đang phát huy tác dụng rất tốt. Trên nền tảng chương trình Corebanking, Eximbank cũng đã triển khai thành công hệ
thống rút tiền tự động ATM từ năm 2004. Từ năm 1999, Eximbank cũng đã xây dựng trang WEB để các khách hàng có thể tìm hiểu thông tin cũng như thực
hiện các giao dòch dạng phone banking, tư vấn và thanh toán qua mạng.

2.2. Một số điểm lưu ý trong lòch sử phát triển của Eximbank


- Năm 1991 và năm 1992 được Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài Chính tín nhiệm giao thực hiện một phần chương trình tài trợ không hoàn lại của Thụy
Điển cho các đơn vò Việt Nam có nhu cầu nhập khẩu. - Năm 1993, Eximbank được chọn để thực hiện chương trình viện trợ của
chính phủ Thụy Só, và bản thân Ngân hàng cũng nhận được một phần viện trợ từ chương trình này, tham gia vào hệ thống thanh toán bù trừ điện tử của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam. - Năm 1995, Eximbank tham gia vào hệ thống Viễn Thông Tài Chính Liên
Ngân Hàng Toàn Cầu SWIFT: The Society for Worldwide Interbank Financial Telecommunications.
- Cũng từ năm 1995, Eximbank là thành viên hiệp hội các đònh chế tài trợ phát triển khu vực Châu Á - Thái Bình Dương ADFIAP và được Ngân Hàng
Nhà Nước chọn là ngân hàng đầu mối tham gia chương trình hàng đổi hàng với Indonesia theo Bản ghi nhớ giữa Bộ Thương Mại Việt Nam với Phòng Thương
Mại và Công Nghiệp nước cộng hòa Indonesia.
Trang 3592
- Từ năm 1996, Eximbank trở thành thành viên chính thức của tổ chức MasterCard International và Visa International.
- Năm 1998, Eximbank được chọn là 1 trong 6 ngân hàng thương mại Việt Nam Vietcombank, Incombank, Agribank, BIDV, Marinetimebank tham gia dự
án hiện đại hóa ngân hàng Bank Modernization Project do World Bank tài trợ. - Năm 1998, Eximbank đã được Chase Manhattan Bank New York tặng giải
thưởng chất lượng cung cấp dòch vụ tốt nhất “1998 Best Services Quality Award”.
- Năm 2005, đạt danh hiệu The Best Export Financer do tạp chí Economy trao tặng.
Bên cạnh những bước phát triển mạnh mẽ và các thành tựu đã đạt được, từ năm 1997 đến cuối năm 1999, do chủ quan và thiếu các biện pháp thỏa đáng
trong phòng tránh rủi ro trong hoạt động tín dụng và bảo lãnh thanh toán xuất nhập khẩu, Eximbank đã thực hiện nhiều khoản cho vay lớn với các điều kiện
vượt quá giới hạn an toàn, dẫn đến nợ quá hạn và nợ khó đòi cao Domesco Đồng Tháp, Minh Phụng, Việt Hà ...vv . Hậu quả là vào cuối năm 1999 và đầu
năm 2000 tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng tích sản của Eximbank đã vượt quá mức cho phép của ngân hàng nhà nước, uy tín của Eximbank trên thương trường quốc
tế và nội đòa bò giảm sút nghiêm trọng, một số lớn các khách hàng doanh nghiệp chủ lực của Eximbank lần lượt chuyển sang giao dòch tại các ngân hàng khác,
khách hàng cá nhân không tin tưởng gửi tiết kiệm tại Eximbank, dòch vụ kiều hối giảm sút, các hoạt động nghiệp vụ khác gặp nhiều khó khăn. Trước nguy cơ
phá sản của Eximbank, Thủ Tướng Chính Phủ đã ban hành quyết đònh số 575Ttg2000 đưa Eximbank vào thời kỳ hỗ trợ đặc biệt để tiến hành giám sát,
thực hiện các hoạt động chấn chỉnh và cũng cố. Cũng từ thời điểm này, ban điều hành mới của Eximbank gồm tổng giám đốc và một số chức danh trưởng, phó
Trang 3692
phòng đã được bổ nhiệm thay thế ban điều hành cũ. Từ sự thay đổi này, nhiều chính sách liên quan đến công tác tổ chức và kinh doanh đã được thay đổi theo
chiều hướng tích cực. Từ chủ trương chấn chỉnh củng cố, với những chính sách tích cực và phù hợp
tình hình thò trường của ban điều hành mới, sự cộng tác hết mình của toàn thể cán bộ nhân viên, sự hỗ trợ của Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh,
Ngân hàng Nhà nước và Chính Phủ, Eximbank đã có dấu hiệu chuyển biến tốt và dần trở lại quỹ đạo của sự phát triển chung trong toàn ngành ngân hàng, từng
bước lấy lại uy tín trên thương trường trong nước và quốc tế. Các khách hàng doanh nghiệp chủ lực cũ đã quay lại giao dòch với Eximbank, khách hàng đã tin
tưởng gửi tiền và giao dòch trở lại. Nhiều doanh nghiệp và ngân hàng lớn trong và ngoài đã thiết lập lại quan hệ với Eximbank.
Với những kết quả đạt được trong thời gian gần đây từ năm 2000 đến hiện nay, Eximbank hiện đang cố gắng nỗ lực hơn nữa trong việc hiện đại hóa công
nghệ thông tin và nghiệp vụ ngân hàng, đa dạng hóa sản phẩm, chú trọng các biện pháp an toàn trong kinh doanh nhằm tiếp tục giữ vững tốc độ phát triển và
xây dựng Eximbank trở thành một trong những ngân hàng hàng thương mại cổ phần hàng đầu ở Việt Nam vào năm 2006.
2.3. Thực trạng hoạt động kinh doanh của Eximbank 2.3.1. Thực trạng hoạt động Eximbank giai đoạn 1990 - 2000
Từ khi chính thức đi vào kinh doanh năm 1990, Eximbank hoạt động chủ yếu trên lónh vực tài trợ thanh toán quốc tế để hỗ trợ hoạt động kinh tế đối ngoại,
theo chủ trương cải cách hệ thống ngân hàng của Nhà nước từ năm 1989, Eximbank cùng với hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam đã góp phần
Trang 3792
đáng kể vào sự phát triển kinh tế cả nước, đặc biệt là trong lónh vực thanh toán quốc tế, thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển.
Qua 10 năm hoạt động, đến cuối năm 2000, Eximbank đã có 19.400 đơn vò có quan hệ tài khoản, thiết lập quan hệ đại lý với 584 ngân hàng tại 58 quốc gia
trên thế giới. Vốn huy động từ các tổ chức kinh tế và dân cư trong và ngoài nước tăng 27,8 lần; hoạt động sử dụng vốn được đa dạng theo nhiều hình thức như cho
vay đa thành phần kinh tế, góp vốn mua cổ phần, đầu tư trái phiếu, tín phiếu, tham gia kinh doanh trên thò trường tiền tệ trong nước và quốc tế. Đến cuối năm
2000, có 1.170 đơn vò quan hệ tín dụng với tổng dư nợ cho vay tăng 15,68 lần. Các nghiệp vụ đầu tư khác đều tăng dần qua các năm. Kết quả kinh doanh 10
năm của Eximbank với tổng lãi gộp là 245 tỷ, nộp ngân sách nhà nước 54 tỷ.
Bảng 2.1. Số liệu các chỉ tiêu chủ yếu của Eximbank từ 1990 - 2000
CHỈ TIÊU
1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
1. Tổng tài sản
243 774 1.229
1.043 1.798
2.912 3.155
3.480 2.813
2.657 3.165
2. Vốn điều lệ
50 50 50
125 125
125 250
250 250
250 250
3. Huy động
86 539 798
661 1.093
1.539 1.401
1.863 2.162
2.046 2.397
4. Dö nợ
120 298 497
609 943
1.377 1.564
2.061 1.888
1.828 1.882
4.1. Trong haïn
68 275 380
542 902
1.345 1.377
1.779 1.618
697 712
4.2. Quá hạn
52 23 117
67 41
32 187
282 270
1.131 1.170
4.3.Nợ xấudư nợ
43 8 24
11 4
2 12
14 14
62 62

5. EBIT 1


13 2 11 22
33 70 64 25
9 1
7
6. ROE 2
26.0 4.0 22.0 17.6 26.4 56.0 25.6 10.0 3.6 0.4
7. ROA 3
5.3 0.3 0.9 2.1 1.8 2.4 2.0 0.7 0.3 0.0
Nguồn: số liệu do phòng R D Eximbank cung cấp Trong các chỉ tiêu nêu trên, những chỉ tiêu sau phản ánh tính hiệu quả trong
kinh doanh của Eximbank. Cụ thể:
Trang 3892
- EBIT
1
Earning before income tax - lợi nhuận trước thuế: là khoảng chênh lệch giữa tổng thu nhập trừ tổng chi phí chưa có thuế thu nhập doanh
nghiệp; EBIT càng cào thì doanh nghiệp hoạt động càng mạnh.
- ROE
2
Return on Equity - tỷ suất lợi nhuận trên vốn sở hữu: là tỷ lệ lợi nhuận doanh nghiêp thu được trên tổng số vốn mà doanh nghiệp đầu tư. ROE
càng cao chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động càng hiệu quả.
- ROA
3
Return on Assets - tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản: là tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản của doanh nghiệp. ROA càng cao cho thấy doanh nghiệp
hoạt động hiệu quả.
Hình 2.3. Biểu đồ một số chỉ tiêu chủ yếu trong hoạt động Eximbank
Nguồn: số liệu do phòng R D Eximbank cung cấp

2.3.2. Thực trạng hoạt động Eximbank giai đoạn 2001-2005


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (121 trang)

×