1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Nguồn nhân lực Sản phẩm dòch vụ của Eximbank

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (680.27 KB, 121 trang )


Trang 7092
- Giai đoạn từ 1990 đến 2000: trong bối cạnh hạ tầng công nghệ nước nhà
và của ngành ngân hàng còn nhiều yếu kém, hệ thống thông tin, phần mềm quản lý của Eximbank cũng rất lạc hậu, chủ yếu được viết bằng ngôn ngữ
Foxpro do vậy dung lượng lưu trữ và tốc độ xử lý rất chậm và không thể kết nối trực tuyến giữa các chi nhánh và hội sở, khả năng ứng dụng để phát triển các
sản phẩm dòch vụ mới rất hạn chế.
- Giai đoạn từ 2001 trở về sau: Eximbank đã đưa vào vận hành hệ thống
ngân hàng lõi tập trung Corebanking từ năm 2003 dưới sự tài trợ của ngân hàng thế giới, triển khai hệ thống phát hành thẻ quốc tế SemaCard, hệ thống
phát hành thẻ nội đòa và quản lý ATM Prime Online. Dựa trên các hệ thống hiện đại này, Eximbank hoàn toàn có thể triển khai các sản phẩm tài chính ngân
hàng hiện đại như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, hệ thống ATM, Phonebanking, Homebanking.

2.5.3. Nguồn nhân lực


Tính đến thời điểm 31082006, tổng số cán bộ công nhân viên của Eximbank là 1.129 người bao gồm: 508 nam, chiếm 45 và 621 nữ, chiếm 55;
trong đó: - Có 855 người có độ tuổi dưới 35, chiếm 76; 239 người có độ tuổi từ 36
đến 50, chiếm 21, 35 người trên 50 tuổi, chiếm 3. - Có 704 người có trình độ đại học và sau đại học, chiếm 62, cao đẳng và
trung cấp là 171, chiếm 15, phổ thông trung học là 254 chiếm 23. Trong quá trình phát triển Eximbank cũng thường xuyên cử cán bộ, nhân viên trẻ tham gia
các lớp đào tạo, huấn luyện ở nước ngoài, đặc biệt là các khóa đào tạo chuyên sâu về chuyên môn, công nghệ thông tin, và thẻ tín dụng tại Singapore, Ấn Độ,
thành lập trung tâm đào tạo Eximbank với nhiệm vụ chính là huấn luyện nghiệp vụ.
Trang 7192
- Có 777 người có thâm niên công tác trong ngành ngân hàng dưới 5 năm, chiếm 69; 323 người có thâm niên từ 5 đến 15 năm, chiếm 28, 2 người có
thâm niên trên 15 năm, chiếm 3. Từ những thông tin trên có thể thấy, nguồn nhân lực Eximbank đa số là trẻ.
Tuy nhiên, số lượng nhân sự có trình độ học vấn cao còn khiêm tốn, số nhân sự có trình độ trung học phổ thông còn khá cao chiếm 23 trong tổng số lao động,
số người có thâm niên trong ngành ngân hàng còn chiếm tỷ trọng quá ít, số nhân viên mới chiếm tỷ trọng nhiều, trình độ ngoại ngữ của cán bộ nhân viên nhìn
chung còn ở mức thấp. Ngoài ra, đến nay Eximbank vẫn chưa có chiến lược dài hạn về thu hút và
giữ nguồn nhân lực nhằm chuẩn bò đương đầu với xu thế cạnh tranh về nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình hội nhập của ngành ngân hàng.

2.5.4. Sản phẩm dòch vụ của Eximbank


Bên cạnh thế mạnh truyền thống trong lónh vực tài trợ và thanh toán xuất nhập khẩu theo đònh hướng từ khi thành lập, Eximbank đã triển khai nhiều sản
phẩm dòch vụ mới đặc biệt là các sản phẩm có công nghệ cao đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng đa dạng của khách hàng. Các sản phẩm tiền gửi và cho vay
của Eximbank có chất lượng tốt và hấp dẫn đối với khách hàng. Tuy nhiên, nhìn chung sản phẩm dòch vụ của Eximbank vẫn chưa đa dạng so với các ngân hàng
mạnh như ACB, Sacombank.
- Huy động vốn: Tiết kiệm thuần túy, tiết kiệm cầm cố, tiền gửi thanh toán
của cá nhân và tổ chức kinh tế bằng VNĐ, USD, GBP, HKD, SGD, CHF, EU, JPY, và Vàng dưới nhiều kỳ hạn đa dạng từ 1 tuần đến 60 tháng. Tốc độ tăng
trưởng vốn huy động tuy đạt mức tăng khá cao như đã phản ánh ở phần trên, nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và uy tín thương hiệu của Eximbank
đính kèm phụ lục 1: danh mục các sản phẩm dòch vụ Eximbank.
Trang 7292
- Tín dụng: cho bổ sung vốn lưu động, mua sắm máy móc công cụ lao động,
vay đầu tư dự án, cho vay hạn mức…đối với các doanh nghiệp; cho vay tiêu dùng, bổ sung vốn kinh doanh, mua phương tiện vận tải, nhà đất, cho vay hỗ trợ du
học,,vv. Hoạt động cho vay tại Eximbank rất đa dạng với nhiều hình thức tín chấp, thế chấp, bằng nhiều loại tiền lệ VNĐ, USD, GBP, HKD, SGD, CHF, EU,
JPY, và Vàng và theo nhiều loại kỳ hạn ngắn, trung, dài hạn. Mặc dù hoạt động tín dụng Eximbank đã có bước cải tiến và tăng trưởng tốt, tuy nhiên hoạt động
tín dụng chưa thật sự đa dạng, các khoản cho vay tập trung chủ yếu là có tài sản thế chấp nên đã hạn chế đối tượng khách hàng.
- Thanh toán và phát hành thẻ: triển khai hoạt động thanh toán thẻ tín dụng
quốc tế từ năm 1997, đến thời điểm hiện nay Eximbank đã cung cấp dòch vụ thanh toán thẻ Visa, MasterCard, thẻ nội đòa Eximbank cho hơn 2.000 đơn vò
chấp nhận thẻ là các khách sạn, nhà hàng, cửa hàng …vv với doanh số hàng năm đạt bình quân 25 triệu USD, Eximbank cũng đã triển khai thành công hệ thống
máy ATM và hoạt động phát hành thẻ quốc tế từ năm 2003, mặc dù hệ thống công nghệ hiện đại, tuy nhiên do mạng lưới phân phối mỏng và chính sách thận
trọng trong cấp tín dụng trong giai đoạn chấn chỉnh củng cố nên sau 3 năm triển khai, số thẻ phát hành của Eximbank còn khá khiêm tốn, tổng số thẻ
VisaMasterCard phát hành đến cuối tháng 82006 là 30.000 thẻ, tổng số thẻ ATM phát hành là 60.000 thẻ.
- Thanh toán quốc tế: vốn là thế mạnh của Eximbank trong những năm đầu,
tuy nhiên do một thời gian dài Eximbank quá thận trọng trong việc cấp hạn mức tín chấp, nguồn cung ngoại tệ chưa đáp ứng đủ, và giá bán ngoại tệ còn cao nên
hoạt động thanh toán quốc tế Eximbank có tốc độ tăng trưởng chậm. Cụ thể, tổng doanh số thanh toán quốc tế năm 2005 đạt 1.6 tỷ USD, tăng 10 so năm
2004, tương đương 151 triệu USD, trong đó hoạt động thanh toán xuất khẩu đạt
Trang 7392
302,8 triệu USD, tăng 7, thanh toán nhập khẩu đạt 857,22 triệu USD, tăng 4, thanh toán phi mậu dòch đạt 532,4 triệu USD, tăng 23 năm 2004.
Hình 2.15. Biểu đồ tăng trưởng xuất nhập khẩu của Việt Nam và tăng trưởng nghiệp vụ thanh toán xuất nhập khẩu của Eximbank
Nguồn: số liệu do phòng R D Eximbank cung cấp Tuy nhiên, với chính sách hướng đến các doanh nghiệp SMEs từ đầu năm
2006, hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu Eximbank đã bắt đầu khởi sắc và có mức tăng trưởng tốt, Tổng doanh số thanh toán quốc tế 8 tháng 2006 đạt 1,5 tỷ
USD, tăng 32 so với cùng kỳ năm 2005. Trong đó, doanh số thanh toán hàng xuất khẩu đạt 230,3 triệu USD, tăng 12 24,6 triệu USD so với cùng kỳ năm
2005; doanh số hàng nhập khẩu đạt 896,2 triệu USD, tăng 53 308,9 triệu USD so với cùng kỳ năm 2005; doanh số thanh toán phi mậu dòch 8 tháng đạt
379,4 triệu USD, tăng 10 33,8 triệu USD so với cùng kỳ năm 2005.
+ Kiều hối: đây là sản phẩm tương đối mạnh của Eximbank, tuy nhiên thời
gian gần đây dòch vụ này đã bò nhiều ngân hàng cạnh tranh rất gay gắt. Doanh số kiều hối năm 2005 của Eximbank đạt 383,5 triệu USD, tăng 27 so với năm
2004, chủ yếu tập trung tại Hội sở, chiếm 91 tổng doanh số kiều hối toàn hệ thống. Doanh số kiều hối 8 tháng năm 2006 đạt 292,4 triệu USD, tăng 20
48,2 triệuUSD so cùng kỳ 2005.
+ Kinh doanh vàng: mặc dù thời gian gần đây giá vàng diễn biến rất phức
tạp, lên xuống bất thường, gây khó khăn nhiều cho nghiệp vụ kinh doanh vàng, nhưng do thường xuyên theo dõi, bám sát thò trường hoạt động kinh doanh vàng
của Eximbank đã thu được kết quả tốt, tổng doanh số mua bán vàng nguyên liệu và vàng thành phẩm của Eximbank năm 2005 đạt 1,16 triệu lượng; tăng gấp 4
lần với năm 2004, lãi gộp đạt 13,5 tỷ đồng, gấp 6,3 lần so với năm 2004, chiếm
Trang 7492
4 trong tổng thu nhập ngân hàng. Kết qủa kinh doanh vàng 8 tháng đầu năm 2006 đạt trên 21 tỷ đồng, tăng 115 so với cùng kỳ.
+ Đầu tư tài chính tiền tệ: bên cạnh hoạt động tín dụng, Eximbank đã mở
rộng danh mục đầu tư và đa dạng tài sản có sinh lời thông qua hoạt động đầu tư các công cụ tài chính và thò trường liên ngân hàng. Trong năm 2005, Eximbank
đã đầu tư vốn bình quân trong hoạt động này là 2.906 tỷ đồng, chiếm 31 trên tổng tài sản, thu nhập ròng từ hoạt động đầu tư đạt 42,2 tỷ đồng, tăng 56 so
với 2004. Trong 8 tháng đầu năm 2006, hoạt động đầu tư của Eximbank có mức
tăng trưởng ở mức trên 50, trên cơ sở đó Eximbank đã bắt đầu thành lập phòng đầu tư tài chính nhằm thúc đẩy hơn nữa hoạt động này trong bối cảnh thò trường
chứng khoán ngày càng sôi động.
+ Kinh doanh đòa ốc: đây là nghiệp vụ còn khá mờ nhạt tại Eximbank, chủ
yếu tập trung vào công tác thẩm đònh giá phục vụ hoạt động tín dụng. Những hoạt động tư vấn và làm cầu nối thanh toán gần như rất hạn chế.

2.5.5. Mô hình tổ chức


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (121 trang)

×