1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >

QUAN NIỆM VỀ CA DAO

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.56 MB, 47 trang )


CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KẾT QUẢ THU THẬP ĐỊA DANH TRONG


CA DAO VIỆT NAM

I. QUAN NIỆM VỀ CA DAO


Khi đưa ra quan niệm về ca dao, các nhà nghiên cứu đã có những định nghĩa về ca dao trong tương quan phân biệt ca dao với dân ca bởi vì trong kho
tàng văn học dân gian Việt Nam cũng khơng chỉ có ca dao mà còn có cả dân ca. Tuy nhiên, sự phân biệt ca dao và dân ca không phức tạp như sự phân biệt tục
ngữ với thành ngữ. Thuật ngữ ‘ca dao’ đã xuất hiện từ khá lâu, từ khi xuất hiện các sách biên
soạn bằng Hán Nôm của các nhà Nho như Nam giao cổ kim lý hạng ca dao chú giải chưa rõ soạn giả, năm soạn, Lý hạng ca dao chưa rõ soạn giả, năm soạn,
Nam phong giải trào Trần Danh Ân và Ngô Hạo Phu soạn từ khoảng năm 1788- 1789, Thanh Hoá quan phong Vương Duy Trinh soạn năm 1903, Việt Nam
phong sử Nguyễn Văn Mại, Quốc phong thi hợp thái chưa rõ soạn giả. Để chỉ thuật ngữ ‘ca dao’ Trần Danh Ân và Ngô Hạo Phú đã dùng thuật
ngữ ‘Nam Phong’, Vương Duy Trinh dùng ‘Quan Phong’, Nguyễn Văn Mại dùng thuật ngữ ‘phong sử’, còn soạn giả Quốc phong thi hợp thái dùng ‘Quốc
Phong’. Đến đầu thế kỉ XX, sách báo chữ quốc ngữ xuất hiện rất nhiều và cũng đã
có dùng thuật ngữ ‘ca dao’ hay ‘phong dao’ như Tục ngữ phong dao Nguyễn Văn Ngọc biên soạn năm 1928, Tục ngữ ca dao Phạm Quỳnh – 1932, Ca dao
cổ Tạp chí Nam Phong số 167, HN, 1930, Phong dao cổ tạp chí Nam Phong số 179, HN, 1932, Phong dao, ca dao, phương ngôn, tục ngữ Nguyễn Tấn
Văn ? Chiển,HN, 1936. Hai thuật ngữ ‘ca dao’ và ‘phong dao’ phạm vi ảnh hưởng của chúng có chỗ giống nhau. Người xưa gọi : ‘ ca dao là phong dao vì
có những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi địa phương, mỗi thời đại’ tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam – Vũ Ngọc Phan. Vì vậy dần dần tên gọi phong
dao cũng ít được dùng nhường chỗ cho ‘ca dao’ thi pháp ca dao – Nguyễn Xuân
Kính. Trong giới nghiên cứu, trong các sách sưu tầm, so với từ ca dao, từ dân ca
xuất hiện muộn hơn, khoảng những năm 50 của thế kỉ XX. Dân ca được chính thức sử dụng bằng sự xuất hiện trong cuốn sách ‘ tục ngữ và dân ca Việt Nam’
của Giáo sư Vũ Ngọc Phan in lần đầu tiên vào năm 1956. Sau đây là quan niệm về ca dao của một số nhà nghiên cứu :
- Trong ‘Việt Nam văn học sử yếu’ giáo sư Dương Quảng Hàm đã định nghĩa về ca dao như sau: Ca dao ca : hát, dao : bài hát khơng có chương khúc
là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình phong tục của người bình dân. Bởi thế ca dao cũng gọi là phong dao phong : phong tục nữa.
Ca dao cũng như tục ngữ, không biết tác giả là ai ; chắc lúc ban đầu cũng do một người vì có cảm xúc mà làm nên, rồi người sau nhớ lấy mà truyền tụng mãi đến
bây giờ Dương Quảng Hàm – Việt Nam văn học sử yếu – quyển I. - Quan niệm của giáo sư Vũ Ngọc Phan : Ca dao vốn là một thuật ngữ
Hán Việt ‘ca dao là những bàn văn vần do nhân dân sáng tác. Cũng như tục ngữ, ca dao không rõ tác giả là ai, được lưu tuyền bằng miệng và cũng được phổ biến
rộng rãi trong nhân dân’ còn ‘dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định. Dân ca khác với ca dao là nó chỉ được hát lên trong hoàn cảnh nhất định, trong
những nghề nhất định hay trong những địa phương nhất định. Vũ Ngọc Phan – Văn học dân gian Việt Nam.
Tuy nhiên, theo ông, nếu xét về nguồn gốc và bản chất, ca dao và dân ca khơng khác nhau mấy. Có những câu ca dao được phổ làm nhạc, biến thành bài
dân ca và ngược lại có những bài dân ca biến thành ca dao. Khi ca dao và dân ca chuyển hình thức như vậy thì nội dung của nó vẫn giữ nguyên, chỉ thêm hay bớt
một số tiếng đệm và tiếng láy Văn học dân gian – Vũ Ngọc Phan. Giáo sư Vũ Ngọc Phan còn cho rằng, phong dao và đồng dào cũng đều là
ca dao. Theo đó, phong dao là những bài ca dao nói về phong tục, tập quán nào đó. Đồng dao là những bài hát của trẻ , như những bài ‘nu na nu nống’, ‘ông
giẳng ông giăng’, ‘xúc xắc xúc xẻ’,… - Quan niệm của tác giả Nguyễn Nghĩa Dân và Lý Hữu Tấn : Theo hai
ông, định nghĩa về ca dao của giáo sư Dương Quảng Hàm chưa nêu được đầy đủ nội dung và hình thức của ca dao. Thực ra, nhân dân sáng tác ca dao là để hát và
có những bài có cả chương khúc như làn nhịp đuổi thí dụ bài ‘tay cầm con dao làm sao cho sắc… hoặc làn hát cách thí dụ bài ‘làm trai quyết chí tu thân, cơng
danh chớ vội nợ nần chớ lo…. Những bài dân ca đó biến thành những bài ca dao và ngược lại nhiều bài ca dao thể lục bát có thể hát thành các làn điệu khác
nhau và có nhạc kèm theo. Như vậy, ca dao là những bài hát có hoặc khơng có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần của dân tộc thường là lục bát để miểu
tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm. Về các loại khác, cần phân biệt những bài ca dao nói về phong tục và được truyền đi gọi là phong dao; đồng dao là những
bài hát của trẻ con như bài ‘ông giẳng ông giăng’, ‘xúc xắc xúc xẻ’,… giáo trình lịch sử văn học Việt Nam – tập 1 – Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Nghĩa Dân,
… - Dân ca là những bài hát có hoặc khơng có chương khúc do tập thể nhân
dân sáng tác, lưu truyền trong dân gian ở từng vùng hoặc phổ biến ở những vùng có nội dung trữ tình và có giá trị đặc biệt về nhạc. Dân ca thường có nội dung
như ca dao Phan Ngọc – Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du. Như vậy, theo tác giả, chỗ khác nhau cơ bản giữa ca dao và dân ca là ở
hình thức và nhạc điệu. Trong một số bài dân ca tiếng đệm, tiếng láy hoặc tiếng đưa hơi chen vào lời thơ lục bát của ca dao.
- Quan niệm của Nguyễn Xuân Kính: Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ mang những
đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách. Và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ thể thơ dân gian. Đối với ca dao, người ta khơng chỉ hát
mà còn ngâm, đọc, xem bằng mắt thường khi ca dao đã được ghi chép, biên soạn từ cuối thế kỉ XVIII.
- Tóm lại, có thể thấy, trong quan niệm của các nhà Nho có sưu tầm ghi chép ca dao cũng như trong quan niệm của giới nghiên cứu văn học dân gian,
thuật ngữ ca dao thường được hiểu theo 3 nghĩa rộng hẹp khác nhau như sau: Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành phổ
biến trong dân gian, có hoặc khơng có khúc điệu. Ca dao là danh từ chỉ những tác phẩm ngôn từ phần lời ca của dân ca
không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi. Khơng phải tồn bộ những câu hát của một loại dân ca nào đó cứ tước bớt
tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi…thì đều là ca dao. Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ mang
những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách . Và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian.

II. QUAN NIỆM VỀ ĐỊA DANH VÀ ĐỊA DANH HỌC 1. Lược sử nghiên cứu


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (47 trang)

×