1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >

Vấn đề thành tố chung của địa danh Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.56 MB, 47 trang )


định nghĩa sau của A.V.Superan skaja đã khái quát được bản chất của bộ phận này “là những tên gọi chung liên kết các đối tượng địa lý với mọi vật khác của
thế giới hiện thực. Chúng được diễn đạt bằng các danh từ chung vốn được dùng để gọi tên và để xếp loại các đối tượng cùng kiểu , có cùng đặc điểm nhất định”.
Như vậy, thành tố chung có thể hiểu là những danh từ danh ngữ chung có chức năng chỉ loại hình của một lớp đối tượng địa lý có cùng thuộc tính bản
chất. Thành tố chung thường đứng trước địa danh để phản ánh loại hình của đối tượng được định danh.

2. Vấn đề thành tố chung của địa danh Việt Nam


Khi nghiên cứu một yếu tố ngôn ngữ, chúng ta không thể không nói đến chức năng của yếu tố đó với tư cách là một bộ phận cấu thành nên hệ thống. Do
đó, ở niên luận này chúng tơi tập trung vào phân tích và lý giải chức năng của thành tố chung trong một phức thể địa danh, xem xét thành tố chung có tác động
như thế nào đến cấu tạo và chức năng của một phức thể địa danh. Đó chính là cái làm nên giá trị cũng như cơ sở tồn tại của nó.
Trong một phức thể địa danh , thơng thường thành tố chung có chức năng cơ bản là phân biệt loại hình cho địa danh. Nhưng trong nhiều trường hợp, thành
tố chung còn vượt ra khỏi ranh giới tồn tại của mình để xâm nhập và chuyển hoá vào các yếu tố trong địa danh. Do đó, chúng tơi xem xét hiện tượng chuyển hố
từ thành tố chung thành địa danh hoặc một phần của địa danh gọi tắt là hiện tượng chuyển hoá.
2.1. Cơ sở của hiện tượng chuyển hóa Trong phức thể địa danh, thành tố chung có tính chất khái qt hố, còn
địa danh có tính chất cụ thể hố. Thơng thường, khi mới hình thành các đối tượng được gọi tên bằng các danh từ chung chỉ loại hình. Sau đó, khi những đối
tượng này dần dần được xác định cụ thể và có khả năng cá thể hố thì những tên gọi được cấu tạo từ các danh từ chung đó chính là các thành tố chung được
chuyển hố vào tên gọi. Như vậy, cơ chế xâm nhập và chuyển hoá của các thành tố chung vào địa danh là do sự chi phối về nghĩa diễn ra trong quá trình định
danh. Kết quả của cơ chế xâm nhập và chuyển hoá này là sự thay đổi về mặt cấu
tạo của địa danh nói riêng và của cả phức thể địa danh nói chung. 2.2. Phân loại các xu hướng chuyển hoá từ thành tố chung vào địa danh
Theo kết quả phân tích và xử lý tư liệu, hiện tượng chuyển hoá từ thành tố chung thành địa danh có 147 trường hợp chiếm tỉ lệ 11,5, chủ yếu diễn ra
trong phạm vi địa danh đơn vị hành chính có 99 trên tổng số147 trường hợp, chiếm tỉ lệ 67,3. và đa phần là Hán Việt. Ví dụ như trong phức thể dịa danh
sau: đường Nam Giang, bể Đơng Khê, thì “giang” với nghĩa là sơng, “khê” với nghĩa là khe nước, vốn là danh từ chung chỉ loại hình nhưng đã trở thành một bộ
phận của địa danh Trong tổng số 147 trường hợp có hiện tượng chuyển hóa ta có thể phân
loại ra hai xu hướng chính theo bảng sau
Vị trí ban đầu
Khi bị riêng hóa Trở thành địa
danh Trở thành một bộ phận của địa danh
Yếu tố 1 Yếu tố 2
Yếu tố 3 Số
lượng Tỉ lệ
Số lượng
Tỉ lệ Số
lượng Tỉ lệ
Số lượng
Tỉ lệ
17 11,5
92 62,5
38 26
Xu hướng chính thứ nhất: là thành tố chung chuyển hố thành dịa danh, có nghĩa là lúc này thành tố chung độc lập tạo thành địa danh. Xu hướng này có
17 trường hợp, chiếm 11,5 Ví dụ : chợ Chùa , chợ Cầu,… Xu hướng chính thứ hai: thành tố chung chuyển hoá thành một bộ phận
của địa danh. Trong xu hướng này thì nó lại được chia thành hai tiểu xu hướng sau:
Thành tố chung chuyển hoá thành yếu tố thứ nhất của địa danh có 2 yếu tố trở lên chiếm số lượng và tỉ lệ cao nhất :92 trường hợp trên tổng số 147 trường
hợp, chiếm 62,5. Ví dụ : phố Hàng Đào, làng Đình Hương, chợ Đồng Xuân, đền Quán Thánh, núi Sơn Tây,….Chẳng hạn, trong phức thể “núi Sơn Tây”,
“sơn” vốn là thành tố chung chỉ loại hình địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên và đã được chuyển hoá thành yếu tố thứ nhất trong địa danh “Sơn Tây”.
Thành tố chung chuyển thành yếu tố thứ hai của địa danh : có 38 trường
hợp trên tổng số 147 trường hợp , chiếm tỉ lệ 26 . Ví dụ : đường Nam Giang, núi Tam Đảo, núi Sóc Sơn, đường Ngọc Hà,… Chẳng hạn, trong phức thể
“đường Nam Giang” thì “giang” vốn là thành tố chung chỉ loại hình địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên đã được chuyển hoá thành yếu tố thứ hai trong địa danh
“Nam Giang”. Từ việc miêu tả,phân tích hiện tượng chuyển hố của thành tố chung vào
địa danh trên tư liệu địa danh trong ca dao, ta có thể rút ra một nhận xét khái quát :
Về mặt cấu tạo : các thành tố chung này thường có cấu tạo đơn tiết nên nó dễ dàng hoạt động và xâm nhập vào địa danh.
Về khả năng hoạt động độc lập các thành tố chung khi chuyển hố thành địa danh ít được dùng độc lập do đã mờ nghĩa hoặc do nó là hình vị gốc Hán
Việt.

III. ĐỊA DANH 1. Khái niệm địa danh


Địa danh là một bộ phận trong cả phức thể địa danh,luôn đứng thứ hai sau thành tố chung, có chức năng cá thể hố và khu biệt hố đối tượng. Nó là những
danh từ hoặc những cụm danh từ dùng để định danh cho từng đối tượng địa lý cụ thể, được tách ra từ các lớp loại hình.
Xét về vị trí, địa danh bao giờ cũng nằm ở một vị trí khá ổn định. Nó ln đứng sau thành tố chung chỉ loại hình để hạn định ý nghĩa cho thành tố này.Đặc
điểm về vị trí này do tính chất của loại hình ngơn ngữ tiếng Việt chi phối. Tiéng Việt thuộc loại hình ngơn ngữ đơn lập nên phương thức trật tự từ bao giờ cũng
mang lại những giá trị thông tin ngữ nghĩa nhất định. Điều này thể hiện trong địa danh khá rõ nét trong sự kết thành tố chung đứng trước và địa danh đứng sau.
Xét về mặt cấu tạo: địa danh mang đầy đủ những đặc điểm về cấu trúc của một đơn vị ngôn ngữ.

2. Đặc điểm cấu tạo của địa danh


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (47 trang)

×