1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >

Ý NGHĨA CỦA ĐỊA DANH VÀ CÁCH PHÂN LOẠI Ý NGHĨA CỦA CÁCH PHÂN LOẠI Ý NGHĨA CỦA CÁC YẾU TỐ TRONG ĐỊA DANH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.56 MB, 47 trang )


chung và địa danh có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau giữa một bên là cái được hạn định và một bên là cái hạn định.
ở cả hai loại hình địa danh :địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên và địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo, các thành tố chung đều có sự chuyển hố vào
các yếu tố trong địa danh. Chính sự chuyển hố này làm tăng thêm tính phong phú, đa dạng cho địa danh.
Về các kiểu cấu tạo, địa danh Việt Nam vừa có các địa danh được cấu tạo bằng những từ đơn lại vừa có địa danh được cấu tạo nên bởi những từ đa tiết.
Trong địa danh có cấu tạo phức, các yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo hai kiểu chủ đạo : chính phụ, đẳng lập.
Số lượng địa danh có cấu tạo song tiết chiếm tỉ lệ lớn. Nó là biểu hiện sinh động cho xu hướng song tiết hoá trong địa danh Việt Nam.
Về phương thức cấu tạo địa danh , ta thấy các địa danh thu thập được trong ca dao cũng có phương thức định danh giống với các phương thức định
danh ngày nay, gôm fhai phương thức định danh chính là phương thức tự tạo và phương thức chuyển hố.
Tóm lại, xét về mặt cấu tạo đa số địa danh có cấu tạo đơn tiết và song tiết.

CHƯƠNG III ĐẶC ĐIỂM Ý NGHĨA CỦA CÁC ĐỊA DANH


I. Ý NGHĨA CỦA ĐỊA DANH VÀ CÁCH PHÂN LOẠI Ý NGHĨA CỦA


CÁC YẾU TỐ TRONG ĐỊA DANH
Khi nghiên cứu một địa danh, bên cạnh các đặc điểm cấu tạo, ta không thể không nghiên cứu ý nghĩa của địa danh ấy. Nếu như đặc điểm cấu tạo cho ta
thấy vỏ hình thức bên ngồi của địa danh thì chính nội dung, ý nghĩa mới là cái làm nên linh hồn và sức sống nội tại của những tên gọi đó. Mỗi địa danh ra đời
đều gắn với những lí do nhất định. Lý do đặt tên trong dịa danh có thể là sự phản ánh đặc điểm, bản chất của đối tượng hay thể hiện mối liên hệ giữa đối tượng
với các sắc thái tình cảm, tâm lý, nguyện vọng của người định danh dành cho đối tượng.
Địa danh có chất liệu là ngơn ngữ nên nó cũng hoạt động và chịu sự tác động của các quy luật ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Nó là kết quả của sự kết
hợp giữa các yếu tố bộ phận theo những quy trật tự và quy tắc nhất định. Do đó, nghĩa của địa danh cũng chính là nghĩa của các yếu tố cấu tạo nên nó. Điểm cần
lưu ý khi tìm kiếm đặc điểm ý nghĩa của các yếu tố trong địa danh là phải bám sát vào nghĩa của từng yếu tố và phải đặt chúng vào hoàn cảnh mà chúng xuất
hiện.

II. CÁCH PHÂN LOẠI Ý NGHĨA CỦA CÁC YẾU TỐ TRONG ĐỊA DANH


ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo nên địa danh rất rộng lớn nên một trong những thao tác có tính phương pháp là phải phân loại chúng thành các nhóm để
có được một cách nhìn vừa cụ thể vừa khái quát khi nghiên cứu. Xuất phát từ mục đích phân tích, nghiên cứu các cách đặt tên qua ý nghĩa
địa danh, chúng tôi chủ yếu căn cứ vào sự tương đồng trong ý nghĩa của các từ để phân loại địa danh thành ba nhóm ý nghĩa. Nhóm thứ nhất chỉ đặc điểm, tính
chất, màu sắc của đối tượng được định danh gồm : phản ánh tính chất của địa hình, phản ánh màu sắc của đối tượng, phản ánh hình dạng của đối tượng, phản
ánh cách thức kiến tạo đối tượng. Nhóm thứ hai phản ánh mối quan hệ của đối tượng với các sự vật, hiện tượng khác có liên quan gồm : phản ánh động thực
vật đang tồn tại trên đối tượng, phản ánh phương hướng, vị trí của đối tượng so với đối tượng khác, phản ánh nghề nghiệp truyền thống, phản ánh giá trị tinh
thần truyền thống của đối tượng, phản ánh sự kiện, biến cố trong đời sống của đối tượng, phản ánh các cơng trình nhân tạo được xây dựng trên đối tượng.
Nhóm thứ ba phản ánh nguyện vọng, tình cảm của con người gồm: phản ánh nguyện vọng của con người về cuộc sống, phản ánh nguyện vọng của con người
về nhân cách, phẩm chất, phản ánh tình cảm của con người hướng tới những người có cơng lao với quê hương, phản ánh tình cảm của con người với đất nước
quê hương.
1. Nhóm ý nghĩa phản ánh đặc điểm , tính chất của đối tượng được định danh
Nhóm này có mặt trong cả loại hình địa danh chỉ địa hình tự nhiên và địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo, nó bao gồm các tiểu nhóm sau :
+ Tiểu nhóm phản ánh tính chất địa hình của đối tượng. Ví dụ : đường Nam Giang được hiểu là đường phía nam sơng do “giang’
có nghĩa là sơng, … Có thể thấy các địa danh được đặt tên theo cách này thường dễ dàng xảy
ra hiện tượng chuyển hố từ thành tố chung chỉ loại hình vào các yếu tố của địa danh.
+ Tiểu nhóm phản ánh màu sắc của đối tượng Các yếu tố chỉ màu sắc trong địa danh loại này chủ yếu có nguồn gốc Hán
Việt, như : “lam”, “hồng”, “thanh”, … đều là những màu sắc có tính chất tượng trưng cho sức sống, vẻ đẹp và nguyện vọng mà con người gửi gắm. Chẳng hạn :
“Lam Sơn”, hòn Hồng,”Thanh Trì”,… + Tiểu nhóm phản ánh hình dạng của đối tượng và tiểu nhóm phản ánh
cách thức kiến tạo nên đối tượng Ví dụ: sông Đào được đặt theo nghĩa của cách thức người ta tạo ra con
sông. Giếng Vuông được đặt theo hình dạng của đối tượng.
2. Nhóm ý nghĩa phản ánh mối quan hệ của đối tượng được định danh với các đối tượng khác có liên quan
+ Tiểu nhóm phản ánh phương hướng, vị trí của đối tượng so với các sự
vật, hiện tượng khác Bộ phận ý nghĩa chỉ phương hướng của đối tượng địa lý được thể hiện
hầu hết bằng các yếu tố Hán Việt : “đông”, “tây”, “nam’. Ví dụ : Đơng Thành, Sơn Tây, biển Đơng,…
Bộ phận ý nghĩa chỉ vị trí được ghi bằng các yếu tố ngơn ngữ có nguồn gốc khác nhau: có thể là các yếu tố gốc Hán như : chợ Hạ, Biện Thượng,
Thượng Kinh,... ; hoặc có thể là các yếu tố thuần Việt như : sông Trước, sơng Sau, chợ Cuối,...
+ Tiểu nhóm phản ánh động thực vật đang tồn tại trên đối tượng Ví dụ như : làng Chanh, làng Nhót, làng Mơ, làng Trúc, Đình Gừng,…
Có thể thấy các lồi động thực vật xuất hiện trong địa danh chủ yếu là các lồi có liên quan đến sản xuất nông nghiệp, và là những đối tượng thân thiết với
đời sống của người dân. Việc lấy tên cây cỏ, con vật để đặt địa danh là cách làm phổ biến mang tính truyền thống, khơng chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nơi trên
thế giới. Điều này hồn tồn dễ hiểu vì bất cứ yếu tố tự nhiên nào gần gũi với địa hình, địa vật và gắn chặt với đời sống con người cũng được nhận biết sớm và
trực quan. + Tiểu nhóm phản ánh thời gian liên quan đến đối tượng
Ví dụ : Tân Châu, Tân Sài, ... + Tiểu nhóm phản ánh nghề nghiệp truyền thống
Ví dụ : làng Vòng + Tiểu nhóm thể hiện những sự kiện, biến cố lịch sử trong đời sống của
đối tượng Ví dụ : hồ Hồn Gươm,…
+ Tiểu nhóm phản ánh cơng trình nhân tạo được xây dựng trên đối tượng Ví dụ : xóm Chùa, giếng Ngọc Hà, đường Trịnh Thôn,...
Địa danh mang ý nghĩa này xét về mặt cấu tạo thì có hiện tượng chuyển hoá từ thành tố chung sang các yếu tố địa danh.
3. Nhóm ý nghĩa phản ánh nguyện vọng, tình cảm của người dân
Một địa danh được hình thành khơng chỉ mang dấu ấn của đối tượng mà
nó định danh mà còn ghi lại đậm nét những tâm lý, trạng thái, ước nguyện của người đặt ra nó.
+ Tiểu nhóm phản ánh nguyện vọng của con người Địa danh thể hiện nguyện vọng của con người về cuộc sống, quê hương .
Các địa danh này thường được cấu tạo từ các yếu tố gốc Hán có sức sản sinh cao : “An” , “Phú” , “Mỹ” , “Phúc” , “Ninh” ,...như trong các địa
danh : Yên Mỹ , An Thư , Hội An ,Phú Thọ , Vạn Phúc , Ninh Hoà , Mỹ Lồng ,…
+ Tiểu nhóm phản ánh tình cảm của con người Đó là lòng yêu yêu nước thiết tha sâu lắng, là lòng biết ơn sâu nặng đối
với những vị anh hùng dân tộc, những người con đã chiến đấu và hi sinh cho mảnh đất quê hương : Ông Long, làng Trần Phương, lăng Vua Hùng,…

3. Tiểu kết


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (47 trang)

×