1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >

Đặc điểm của ca dao Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (346.86 KB, 65 trang )


Như vậy, cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm của ca dao. Nguyên do của việc chưa thống nhất trên là khi nghiên cứu thể loại
ca dao, các nhà nghiên cứu đứng trên nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, những cơng trình nghiên cứu đó đã nêu ra chi tiết các biểu hiện của ca dao trên các mặt nội
dung và hình thức nghệ thuật.

1.2. Đặc điểm của ca dao Việt Nam


Tìm hiểu thể loại ca dao, khơng thể không làm sáng tỏ giá trị nội dung. Mặt khác, sẽ thiếu sót rất lớn nếu chúng ta khơng quan tâm đến ngơn ngữ biểu đạt, trong đó có
cấu trúc cú pháp của thể loại này.

1.2.1. Về nội dung


Ca dao Việt Nam chứa đựng nhiều nội dung khác nhau, phản ánh hiện thực đa dạng của đời sống nhân dân, những tâm trạng, những tư tưởng và tình cảm phong
phú của con người trong nhiều mối quan hệ phức tạp với thiên nhiên và xã hội. “Ca dao là tấm gương trung thực về cuộc sống mn màu, mn vẻ của nhân
dân. Tóm lại, cũng như những thể loại văn học dân gian khác, qua ca dao, ta có thể thấy rõ hiện thực, tức là cái vốn có trong cuộc sống”. [12; tr.8]
Nội dung của ca dao Việt Nam được thể hiện trên hai mặt chính: nội dung trữ tình và nội dung thế sự.

1.2.1.1 Nội dung trữ tình


Theo Mã Giang Lân trong quyển Tục ngữ - ca dao Việt Nam thì “Ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian. Những tác phẩm này nói lên mối quan hệ của
con người trong lao động, trong sinh hoạt gia đình xã hội hoặc nói lên những kinh nghiệm sống và hành động… thì bao giờ cũng bộc lộ thái độ chủ quan của con người
đối với những hiện tượng khách quan, chứ không phải miêu tả khách quan những hiện tượng, những vấn đề. Cho nên ở ca dao, cái tơi trữ tình được nổi lên rõ
nét”. [12; tr.9] Ca dao là tiếng hát trữ tình của con người Việt Nam. Đó là tiếng hát của tình
yêu, tiếng hát của người phụ nữ đau khổ nhưng giàu tinh thần hi sinh và đấu tranh dũng cảm trong quan hệ gia đình, của người nơng dân, người lính… trong lao động
7
và trong đấu tranh xã hội,… Tiếng hát trữ tình của những con người đó chứa đựng nhiều nét tiêu biểu của tâm hồn và tính cách dân tộc ta.
Trong nội dung trữ tình, ca dao về tình yêu nam nữ là bộ phận phong phú nhất. Ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ hay nói đến những cuộc gặp gỡ của trai gái trong
khung cảnh lao động. Tình cảm gắn bó giữa trai gái, do đó, thường được biểu hiện trong mối quan hệ khăng khít với cuộc sống của nhân dân lao động.
Nội dung ca dao trữ tình về sinh hoạt trong gia đình phản ánh những mối quan hệ giữa các thành viện trong gia đình. Nhân vật chính thường xuất hiện trong nội
dung này là những người phụ nữ lao động Việt Nam. Ca dao trữ tình lấy đề tài trong đời sống xã hội phản ánh những tâm trạng đau
khổ, uất ức, thái độ phản kháng của nhân dân lao động bị đè nặng dưới ách thống trị nặng nề của giai cấp địa chủ và chính quyền phong kiến.
Khi nói đến nội dung trữ tình của ca dao Việt Nam, Vũ Ngọc Phan đã nhận xét “Trong ca dao, khi thể hiện tình cảm và ý nghĩ của mình, nhân dân thường cụ thể
hố tình cảm, ý nghĩ của họ, chính là vì họ là người đấu tranh trực tiếp trong sản xuất, trong xã hội…”. [16; tr.16]

1.2.1.2 Nội dung thế sự


Bên cạnh nội dung trữ tình, ca dao phản ánh nội dung thế sự cũng chiếm một số lượng đáng kể và đạt được những giá trị to lớn về chất lượng.
Nội dung thế sự chủ yếu mà ca dao thường nói đến là lịch sử. Theo của Chu Xuân Diên, “Ca dao lịch sử là những câu và những bài ca ngắn lấy đề tài ở những sự kiện
lịch sử. Những biến cố lịch sử được ghi lại trong ca dao lịch sử là những biến cố ít nhiều có ảnh hưởng đến đời sống nhân dân đương thời”. [7; tr.358]
Khi đề cập đến một hiện tượng lịch sử cụ thể, ca dao lịch sử không làm công việc miêu tả, kể chuyện chi tiết, nghĩa là không phản ánh hiện tượng lịch sử trong q
trình diễn biến của nó. Trong ca dao lịch sử, nhân dân chỉ nhắc đến dự kiện lịch sử để nói lên thái độ, quan điểm của mình.
Ca dao lịch sử còn phản ánh lịch sử với ý nghĩa lịch sử - xã hội nói chung. Về mặt này, ca dao là một kho tài liệu phong phú về phong tục, tập quán của nhân dân ta ở
8
nông thôn thời xưa. Ngôn ngữ nghệ thuật của ca dao Việt Nam dựng lên một bức tranh nhiều màu sắc và hình nét đa dạng về đất nước Việt Nam.

1.2.2. Về hình thức nghệ thuật


Với tư cách là một thể loại thơ ca, ca dao đã vận dụng mọi khả năng của ngôn ngữ dân tộc để biểu hiện một cách chính xác, tinh tế cuộc sống và hơn nữa để biểu
hiện một cách sinh động và giàu hình tượng, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân trong cuộc sống.
Nói về tính hồn chỉnh của một bài ca dao, Chu Xuân Diên đã đưa ra nhận định: “Mỗi bài ca dao đều thể hiện một ý trọn vẹn và thường là cô đọng. Do đó,
ca dao thường là những bài, những câu thơ ngắn có biện pháp kết cấu nghệ thuật dần dần trở thành truyền thống, làm khuôn mẫu cho việc thể hiện thi hứng của
nhân dân”. [7; tr.410] Hình thức nghệ thuật của ca dao được thể hiện trên nhiều phương diện:

1.2.2.1 Thể thơ


Nói về số lượng của các câu trong một bài ca dao, Vũ Ngọc Phan đã nhận định: “Ca dao là những bài hát thường thường ngắn, hoặc hai, hoặc bốn, sáu hay
tám câu, âm điệu lưu loát và phong phú”.[16; tr.62] Đặc điểm của ca dao về hình thức là vần vừa sát, lại vừa thanh thốt, khơng gò
ép, giản dị, tươi tắn. Nó có vẻ như lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc. Ca dao của ta đã tận dụng tính nhạc của
tiếng Việt ở những tiếng đơn, tiếng kép, tiếng ghép, nên tả người, tả cảnh rất tài tình. Bàn về hình thức thể loại của ca dao, Hoàng Trinh đã nhận xét: “Về hình thức
thơ, đối ngẫu là hình thức phổ biến trong ca dao dưới mọi thể loại: đối ngẫu từ ngữ, đối ngẫu ngữ pháp, đối ngẫu ngữ nghĩa, đối ngẫu hai chiều, đối ngẫu đối lập và
phản đề…” [13; tr.132] Khi sáng tác ca dao, tác giả dân gian đã sử dụng nhiều thể thơ khác nhau. Trong
đó, thể lục bát gồm câu sáu, câu tám được dùng rất phổ biến. Thể song thất lục bát gồm hai câu bảy chữ, một câu sáu chữ và một câu tám
chữ.
9
Thể vãn gồm câu có bốn hoặc năm chữ, thường được sử dụng trong đồng dao. Ngoài ra, ca dao cũng sử dụng hợp thể: thể thơ bốn chữ, năm chữ và thường kết
hợp với lục bát biến thể. Các thể thơ phong phú của ca dao đã diễn tả được nhiều sắc thái tình cảm của
nhân dân lao động Cũng như nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, Mã Giang Lân cũng đã nhận xét
về nhịp điệu của ca dao “Nói đến ca dao, tức là nói đến thơ, về mặt hình thức, trước hết phải nói đến nhịp điệu. Đó là đặc điểm có tính chất thể loại, một động lực của
thơ”. Ông đã dẫn lời của Maiacốpxki: “Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng lực cơ bản của câu thơ khơng giải thích được nó đâu, chỉ có thể nói về nhịp điệu như nói về
từ lực hay điện. Từ lực hay điện – đó là những dạng của năng lượng”. Song song đó, ơng còn nhấn mạnh đến yếu tố ngắt nhịp của ca dao “Ca dao ngắt nhịp hai là phổ
biến, nhưng nhiều trường hợp, ca dao ngắt nhịp rất sáng tạo”.[12; tr.15]

1.2.2.2 Cấu tứ


Ca dao Việt Nam có những kiểu cấu tứ rất phong phú và độc đáo. Cấu tứ theo lối ngẫu hứng, khơng có chủ đề nhất định:
1
Cái sáo mặc áo em lao, Là tổ cây cà,
Làm nhà cây chanh. Cấu tứ theo lối đối thoại rất phổ biến trong ca dao:
2
Bây giờ mận mới hỏi đào: Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?...
Cấu tứ theo lối phô diễn thiên nhiên. Đây là kiểu kết cấu quen thuộc trong ca dao:
3
Một đàn cò trắng bay lung, Hai bên nam nữ ta cùng hát lên.

1.2.2.3 Ngơn ngữ


10
Tiếp cận ca dao từ góc độ ngôn ngữ học, Trương Thị Thuyết đã nhận định: “Sử dụng đặc trưng giống nhau của các đơn vị ngôn ngữ, ca dao Việt Nam đã xây
dựng nên một hệ hình của mơ típ “thân em” thật rộng lớn gồm nhiều hình ảnh tương ứng như: “dải lụa đào”, “hạt mưa sa”… Phát hiện nghệ thuật bắt đầu khi
người nghệ sĩ dân gian đặt được dấu bằng giữa các tín hiệu ngơn ngữ trong cùng một hệ hình. Muốn thành cơng, người nghệ sĩ phải bắt đầu bằng việc xác định cho
được các tiêu chí tạo nên đặc trưng của từng yếu tố”. [15; tr.45] Cấu trúc so sánh là một cấu trúc tu từ được sử dụng rộng rãi. Tác giả dân gian
dùng những tín hiệu chỉ dẫn: như, bằng, tựa… với chức năng như dấu bằng trong toán học. Các tín hiệu này là những khớp nối để tác giả tạo dựng những thơng báo
hồn chỉnh. Cấu trúc so sánh của ca dao có mơ hình chung như sau:
A + tín hiệu so sánh + B
Mơ hình của cấu trúc so sánh được diễn đạt như sau: - A thường là cái trừu tượng.
- B thường là cụ thể. Đây là kiểu làm việc trên chất liệu ngôn ngữ mang tính phổ biến của ca dao.
Bên cạnh việc xác lập các yếu tố trong ca dao trên hai thao tác lựa chọn và kết hợp, Trương Thị Thuyết còn lưu ý thêm: “Mỗi ngữ đoạn đã được mã hố thành
một chỉnh thể, rồi tồn bộ cấu trúc cũng trở thành một chỉnh thể nữa”. [15; tr.60] Nhờ những yếu tố ngôn ngữ, cấu tứ và các biện pháp nghệ thuật được dùng
trong ca dao mà ca dao có những cái hay rất đặc sắc và đa dạng. Có những lời ca dao giản dị, cụ thể. Bên cạnh đó cũng có những bài ca dao rất điêu luyện, tinh tế.
4
Sông Cầu nước chảy lơ thơ, Đôi ta thương nhớ bao giờ cho nguôi.
5
Em ơi chua ngọt đã từng, Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau.

1.2.2.4 Các biện pháp nghệ thuật


11
So sánh, ẩn dụ, nhân hoá, chơi chữ,… là những biện pháp nghệ thuật rất tiêu biểu trong ca dao.
6
Thân em như cây sầu đâu…
7
Thuyền ơi có nhớ bến chăng… Ca dao Việt Nam thường lấy việc khai thác các yếu tố đồng nghĩa lâm thời làm
phương tiện biểu hiện cơ bản. Nó làm việc chủ yếu trên thao tác lựa chọn. Vì vậy, hình tượng ngơn ngữ trong ca dao trước hết là những hình ảnh ẩn dụ tính.
Chính việc tập trung vào khai thác thao tác lựa chọn đã làm cho ca dao Việt Nam rất ít sử dụng hệ kết hợp một cách mỹ học. Các kết hợp ca dao hầu như đều là
những kết hợp theo hình tuyến. Các hình ảnh xuất hiện theo quy tắc “Từ bình diện này đến bình diện khác” theo thời gian.
Ca dao Việt Nam thường hay dùng lối so sánh ví von để xây dựng hình tượng, biểu đạt ý tứ. Trong cách so sánh, những liên từ “giống như”, “như là”, “như thể”…
hay được dùng để thể hiện mối quan hệ về mặt hình ảnh giữa chủ thể với những sự vật và những hiện tượng được dùng để do sánh.
8
Đôi ta như thể con tằm, Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong.
Song song với biện pháp so sánh, biện pháp ẩn dụ cũng rất thường được sử dụng trong ca dao. Trong biện pháp này, chủ thể nhập làm một với sự vật, hiện
tượng dùng để so sánh. Nhiều sự vật, hiện tượng quen thuộc đã trở thành những hình tượng so sánh cổ truyền trong ca dao Việt Nam:
9
Gặp đây mận mới hỏi đào: Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Biện pháp nhân hố cũng là một biểu hiện tế nhị của biểu đạt trong ca dao Việt Nam
Nói đến vai trò của các thủ pháp nghệ thuật trong việc hình thành nên hình tượng trong ca dao và trong thơ, Trương Thị Thuyết đã giải thích: “So sánh, liên
tưởng có một vai trò vơ cùng quan trọng trong việc hình thành nên hình tượng trong ca dao và trong thơ. Ẩn dụ là nơi có mối liên tưởng khơng bị quy định bởi tín hiệu
12
thơng báo cũng như bởi nội dung của tín hiệu được kêu gọi nên đã trở thành vô cùng linh hoạt, đa dạng, cho phép tác giả đi hết chiều sâu năng lực hình tượng của mình.
Năng lực mã hố các đơn vị ngôn ngữ của ẩn dụ là to lớn đến mức cho phép tác giả dễ dàng vượt giới hạn các câu ngữ pháp:
Ví dụ: Như trong trường hợp sau đây:
10
Cực lòng mẹ lắm con ơi Một con chim chích mấy nơi đan lồng”. [15; tr.67]
Trên đây là một số đặc điểm quan trọng trong cấu tứ của thơ trữ tình dân gian, và những truyền thống nghệ thuật do những đặc điểm cấu tứ ấy tạo nên trong ca dao
Việt Nam. Những truyền thống nghệ thuật này không chỉ tồn tại dưới dạng những đặc điểm về thủ pháp nghệ thuật mà còn tồn tại dưới dạng những câu hát có sẵn được
dùng vào trong những tác phẩm mới. Sự hình thành nên một kho văn liệu thơ ca dân gian phong phú và việc sử dụng thường xuyên kho văn liệu đó trong sáng tác ca
dao là một đặc điểm của sự sáng tạo nghệ thuật trong văn học dân gian.

1.3. Phân biệt ca dao và các thể loại gần gũi


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (65 trang)

×