1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >

Khái niệm về cấu trúc đề - thuyết Phân loại đề

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (346.86 KB, 65 trang )


CẤU TRÚC CÂU TIẾNG VIỆT THEO QUAN ĐIỂM NGỮ PHÁP CHỨC NĂNG

2.1. Khái niệm về cấu trúc đề - thuyết


Theo quan điểm chức năng, cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt được chia thành hai thành phần trực tiếp: phần đề và phần thuyết. Cao Xuân Hạo đã định nghĩa
đề và thuyết như sau: “Đề là thành tố trực tiếp của câu nêu rõ phạm vi ứng dụng của điều được nói bằng thành tố trực tiếp thứ hai: phần thuyết” [5; tr.41].
Ở đây, chúng tôi tiếp thu định nghĩa: “Đề là thành phần trực tiếp thứ nhất của câu nêu lên phạm vi hiệu lực của nội dung được triển khai trong thành phần trực tiếp
thứ hai: phần thuyết”.[6] Ta xét các ví dụ sau:
18
Cụ bà cắn môi nghĩ ngợi. Vũ Trọng Phụng
ĐT T
19
Đèn ghi đã ra kia rồi. Thạch Lam
ĐT T
20
Cả đình đổ xô trông ra. Ngô Tất Tố
ĐT T Ở ví dụ
18
, “Cụ già” là phần đề nêu lên một đối tượng mang tính chất cá nhân, ngữ đoạn “cắn môi nghĩ ngợi” là phần thuyết. Phần thuyết triển khai nội dung nhận
định về phần đề đã nêu ra. Trong ví dụ
19
, “Đèn ghi” là phần đề nêu lên một đối tượng mang tính chất sự vật - cá thể; ngữ đoạn “đã ra kia rồi” là phần thuyết. Phần thuyết này triển khai nội dung
nhận định về phần đề đã nêu ra. Và ví dụ
20
có phần đề là “Cả đình”. Phần đề này nêu lên một đối tượng có tính chất cá thể. Phần ngữ đoạn còn lại là thuyết. Phần thuyết này triển khai nội dung
được nói ở phần đề.

2.2. Phân loại đề


19
Trong quyển Ngữ pháp chức năng quyển 1, Câu trong tiếng Việt: Cấu trúc − ngữ nghĩa − công dụng, Cao Xuân hạo đã chia đề thành nội đề và ngoại đề, trong đó,
ngoại đề khơng thuộc cấu trúc cú pháp cơ bản của câu còn nội đề là thành phần cấu trúc cơ bản của câu tiếng Việt.
Ví dụ:
21
Tơi nghĩ thầm trong bụng như thế. Còn lão Hạc, lão nghĩ gì? Nam Cao
Ngoại đề nội đề Nội đề được chia thành chủ đề và khung đề. Hai loại đề này được định nghĩa như
sau:
Chủ đề: là thành phần câu nêu cái được nói đến trong phần thuyết của câu. Nó thu
hẹp phạm vi ứng dụng của phần thuyết vào một đối tượng. Đối tượng đó có thể là một cá nhân, một tập hợp hay một sự tình [5; tr.42].
Khung đề: là thành phần câu nêu rõ những điều kiện làm thành cái khung về tình
huống, thời gian, khơng gian. Trong đó, điều kiện được nói ở phần thuyết có hiệu lực [5; tr.42].
Trong hai loại đề mà Cao Xuân Hạo đã nêu, chúng tôi băn khoăn về khái niệm “chủ đề”. Khái niệm “chủ đề” theo cách dùng của Cao Xuân Hạo dễ gây chồng
chéo với khái niệm “chủ đề” trong lĩnh vực văn học. Vì vậy, chúng tôi tiếp thu quan niệm chia phần đề thành hai loại: đề tài và đề khung đổi vị trí của khung đề thành đề
khung để có sự đối xứng nghĩa với đề tài.

2.2.1. Đề tài


Đề tài là loại đề nêu lên đối tượng mang tính chất cá nhân, cá thể, hay mang tập hợp, chủng loại mà phần thuyết sẽ triển khai.[6]
Ví dụ:
22
Cái xe đạp đã hỏng.
23
Tơi xồng xộc chạy vào. Nam Cao
24
Hai mươi hai cầu thủ đang chạy trên sân bóng.
20
25
Rắn là một lồi bò sát, khơng chân. Ba ví dụ trên, ví dụ
22
có đề tài nêu lên đối tượng là một cá thể. Ví dụ
23
có đề tài nêu lên đối tượng là một cá nhân. Ví dụ
24
có đề tài nêu lên đối tượng là một tập hợp một tập hợp gồm hai mươi hai người. Ví dụ
25
có đề tài nêu lên đối tượng là một chủng loại.

2.2.2. Đề khung


Đề khung là loại đề nêu lên một giới hạn về không gian, thời gian hay điều kiện mà nội dung được triển khai ở phần thuyết có hiệu lực.[6]
Ví dụ:
26
Năm nay thì đói to đấy.
27
Trong vườn trồng tồn cam.
28
Con này hễ đã lên tiếng thì y như là có kẻ gian vào nhà. Ví dụ
26
, “Năm nay” là một đề khung nêu lên giới hạn một phạm vi về thời gian.
Ví dụ
27
, “Trong vườn” là một đề khung nêu lên giới hạn một phạm vi về khơng gian.
Ví dụ
28
, “Con này hễ đã lên tiếng” là phần đề khung nêu lên một điều kiện có tính chất khẳng định.

2.3. Mở rộng cấu trúc đề - thuyết theo quan hệ ngữ đoạn


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (65 trang)

×