1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >

Phức tạp hố cấu trúc đề - thuyết theo quan hệ đối vị Đề tình thái và thuyết tình thái trong câu tiếng Việt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (346.86 KB, 65 trang )


ĐT T
1
T
2
T
3
Trong ví dụ này, phần thuyết được mở rộng theo quan hệ ngữ đoạn thành ba phần: “có phố Kỳ Lừa” là thuyết một, “có nàng Tơ Thị” là thuyết hai, “có chùa
Tam Thanh” là thuyết ba. Đây là hiện tượng ghép thuyết.
31
Lão Hạc đang vật vã trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch. Nam cao
ĐT T ĐT T ĐT T
C’
1
C’
2
C’
3
Ví dụ này có ba cú, có quan hệ ngữ pháp đẳng lập, được ghép với nhau bằng trật tự tuyến tính.

2.4. Phức tạp hố cấu trúc đề - thuyết theo quan hệ đối vị


Cấu trúc đề − thuyết trong câu có thể được phức tạp hóa theo quan hệ đối vị mà kết quả thu được là hiện thượng phức: phức đề, phức thuyết, phức đề − thuyết. Khái
miện “phức” ở đây được hiểu theo nghĩa: phần đề, thuyết hay cả cấu trúc đề thuyết được cấu tạo bằng hay bao chứa trong nó cấu trúc đề − thuyết dưới bậc, được
gọi là tiểu cú. [6] Ta xét các ví dụ sau:
32
Hắn uống rượu với cái gì cũng ngon. Nam Cao
đt t
ĐT T Trong ví dụ này, phần đề “Hắn uống rượu với cái gì” được phức tạp hoá theo
quan hệ đối vị thành một tiểu cú, trong đó, “hắn” là đề tài, “uống rượu với cái gì” là thuyết của tiểu cú. “Cũng ngon” là thuyết của câu. Đây là hiện tượng phức tạp hóa
đề bằng một tiểu cú.
33
Mơn nào nó học cũng giỏi.
đt t
23
đt t ĐT T
Trong ví dụ này, phần thuyết được phức tạp hố thành một tiểu cú. Phần đề tài của tiểu cú đó lại được phức tạp hoá một bậc nữa thành một cấu trúc đề - thuyết bậc
tiểu cú nhỏ hơn. Đây là hiện tượng phức thuyết.
34
Nếu Nguyệt đã hy sinh thật thì tơi sẽ ơm mối hận mãi mãi. Nguyễn Minh Châu
đt t đt t
ĐT T Trong ví dụ này, cả phần đề và phần thuyết đều được phức tạp bằng một cấu
trúc đề - thuyết bậc tiểu cú. phần đề của câu là đề khung, nêu lên một điều kiện. Điều kiện này được triển khai ở phần thuyết có hiệu lực. Đây là hiện tượng phức tạp hóa
cả cấu trúc đề - thuyết.

2.5. Đề tình thái và thuyết tình thái trong câu tiếng Việt


2.5.1. Khái niệm về nghĩa tình thái và sự thể hiện nghĩa tình thái trong câu


Nghĩa của câu gồm hai thành phần: nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái. Nghĩa miêu tả là thành phần nghĩa phản ánh sự tình trong thế giới bên ngồi câu.
Nghĩa tình thái là thành phần nghĩa phản ánh thái độ, sự nhìn nhận, đánh giá của người nói, người
nghe về sự tình được câu biểu đạt. Nội dung tình thái biểu thị sự nhìn nhận, đánh giá của người nói xoay quanh các
tính chất: tính hiện thực, chân thực, khả năng; tính chân lý, hợp lý, đạo lý; tính tất yếu; tính may rủi; tính tích cực, tiêu cực.
35
Giá tơi có ở nhà thì đâu đến nỗi. Nam Cao
36
Thiếu chút nữa thì ta giết oan một người vơ tội. Nội dung tình thái của câu có thể được cấu trúc hoá thành phần đề hay phần
thuyết. Khi nội dung tình thái được cấu trúc hố thành phần đề thì ta có đề tình thái. Khi nội dung tình thái được cấu trúc hố thành phần thuyết thì ta có thuyết tình thái.
24

2.5.2. Đề tình thái


Đề tình thái là loại đề nêu lên sự nhìn nhận, đánh giá của người nói về sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo
.
Nội dung đánh giá xoay quanh các tính chất: tính hiện thực, chân thực, khả năng; tính chân lý, hợp lý, đạo lý; tính tất yếu; tính may rủi; tính
tích cực, tiêu cực. Đề tình thái có thể thuộc nhiều bậc: câu, cú, tiểu cú. [6] Ta xét các ví dụ sau:
37
Có lẽ tơi bán con chó đấy, ơng giáo ạ Nam Cao đt t
ĐTh T
Trong ví dụ này, “ơng giáo ạ” là hơ ngữ gọi, nằm ngồi cấu trúc cú pháp cơ bản của câu. “Có lẽ” là đề tình thái. Phần đề tình thái này nêu ra khả năng trỏ thành hiện
thực của sự tình được nêu tiếp theo. “Tơi bán con chó” là phần thuyết biểu thị một sự việc mà người nói là chủ thể.
38
May ra thì họ khơng chết đói. Kim Lân
đt t
ĐTh T Trong ví dụ này, “may ra” là đề tình thái nêu lên một nhận định của người nói về
sự tình được nêu tiếp theo là kết quả trong tương lai. “Họ khơng chết đói” là phần thuyết được cấu tạo bằng một tiểu cú, là sự tình có khả năng xảy ra. Giữa đề tình
thái và thuyết là tác tử “thì” dùng để phân giới.
39
Thật ra thì lúc ấy hắn cũng chưa nhận ra thị là ai. Kim Lân
đt t
đt t đk t
25
ĐTh T Trong ví dụ, “thật ra” nêu lên nhận định: điều được nêu tiếp theo mới là chính
xác, hợp lý so với một nhận định hay một sự tình nào đã được nêu trước đó. “Thì” là tác tử cú pháp dùng để phân giới đề tình thái với phần thuyết còn lại.
40
Khéo lắm thì ăn được độ một năm. Nam Cao
ĐTh T Trong ví dụ này, “khéo lắm” là đề tình thái. Phần đề tình thái này nêu ra một nhận
định được nêu tiếp theo là khả năng tối đa. Tác tử “thì” trong câu dùng để đánh dấu và phân giới đề tình thái và thuyết còn lại.
41
Đến lúc hết thì tất nhiên là phải khổ rồi. Nam Cao
đth t
ĐT T Trong ví dụ này, “tất nhiên” là đề tình thái của tiểu cú. Phần đề tình thái này nêu
lên nhận định, rằng sở thuyết là điều tất nhiên.

2.5.3. Thuyết tình thái


Thuyết tình thái là phần thuyết biểu thị sự nhìn nhận, đánh giá của người nói về sự tình hay sở đề được nêu ở phía trước phần đề.
Nội dung đánh giá xoay quanh các tính chất: tính hiện thực, chân thực, khả năng; tính chân lý, hợp lý, đạo lý; tính
tất yếu; tính may rủi; tính tích cực, tiêu cực. Thuyết tình thái có thể thuộc nhiều bậc: câu, cú, tiểu cú. [6]
Ta xét các ví dụ sau:
42
Mày rớt là cái chắc.
đt t ĐT TTh
26
Trong ví dụ này, “là cái chắc” là phần thuyết tình thái. Thuyết tình thái này phản ánh sự khẳng định của người nói về tính hiện thực của sự tình được nêu phía trước,
mặc dù khi người nói nói câu này thì nó chưa xảy. Giữa phần đề và thuyết tình thái được phân giới bởi tác tử “là” “là” thuộc phần thuyết tình thái
43
Cái bếp này xài được hai năm là cùng.
đt t ĐT TTh
Trong ví dụ này, “là cùng” là phần thuyết tình thái. Phần thuyết này biểu thị sự lượng định của người nói về khả năng tối đa của sự tình được nêu phía trước. “Là” là
tác tử để phân giới đề và thuyết tình thái.
44
Lỡ sẩy chân một cái thì khốn.
ĐT TTh Trong ví dụ này, người
nói
đưa ra một nhận định về tính chất nguy khốn của sự tình, lúc ấy chưa xảy ra nhưng có khả năng xảy ra. Giữa đề tài và thuyết tình thái
được phân giới bởi tác tử “thì”.
2.6. Các tác tử chuyên dùng để đánh dấu và phân giới đề - thuyết trong câu tiếng Việt
Theo quan điểm ngữ pháp chức năng, có ba tác tử cú pháp chuyên dùng để phân giới và đánh dấu phần đề, phần thuyết trong câu tiếng Việt: “thì”, “mà”, “là”.

2.6.1. Tác tử “thì”


Thì là một tác tử cú pháp chủ yếu chuyên dùng để đánh dấu và phân giới đề - thuyết bậc câu, cú, tiểu cú. Khi “thì” xuất hiện trong câu với chức năng là tác tử cú
pháp để phân giới đề - thuyết, thì ngữ đoạn trước “thì” là phần đề, ngữ đoạn sau “thì” là phần thuyết. [6]
Ta xét một số ví dụ sau:
45
Hòn đất mà biết nói năng thì thầy địa lý hàm răng chẳng còn. Ca dao
đt t đt t
27
đt t
ĐK T Trong ví dụ này, “thì” là một tác tử cú pháp dùng để chia ranh giới đề, thuyết của
câu. Ngữ đoạn phía trước “thì” là đề, ở đây phần đề nêu lên một điều kiện nên nó là đề khung của câu. Ngữ đoạn sau “thì” là thuyết.
46
Đàn ơng mà có tài, có tâm thì ai cũng kính trọng.
đt t
1
t
2
đt t
ĐK T Trong câu này, thì cũng là một tác tử cú pháp dùng để đánh dấu và phân giới đề,
thuyết bậc câu. Ngữ đoạn trước “thì” là đề, ngữ đoạn sau “thì” là thuyết.
47
Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, 0 bay cao thì nắng, 0 bay vừa thì râm.
đt t đt t đt t ĐK T ĐK T ĐK T
C’
1
C’
2
C’
3
Trong ví dụ này, câu vừa được mở rộng theo quan hệ ngữ đoạn thành ba cú, và mỗi cú có phần đề được phức tạp hoá theo quan hệ đối vị thành tiểu cú. Tác tử “thì”
trong ví dụ này đánh dấu và phân giới đề thuyết bậc cú.

2.6.2. Tác tử “là”


“Là” cũng là một tác tử cú pháp chủ yếu chuyên dùng để đánh dấu và phân giới đề - thuyết bậc câu, cú, tiểu cú và nó thuộc phần thuyết có chức năng thuyết hố
những ngữ đoạn phi thuyết tính. Khi “là” xuất hiện trong câu với chức năng là tác tử cú pháp để phân giới đề - thuyết thì ngữ đoạn trước “là” là phần đề, ngữ
đoạn từ “là” trở về sau là thuyết. [6]
Ta xét một số ví dụ sau:
48
Thế là vừa sáng thị đã chạy đi tìm gạo. Nam cao
28
đk t đk t
ĐT T Trong ví dụ này, “là” là một tác tử chuyên dùng để phân giới và đánh dấu đề -
thuyết bậc câu. Ngữ đoạn trước “là” là đề, ngữ đoạn từ “là” trở về sau là thuyết. phần đề này là một đại từ thay thế chỉ một sự việc, làm đề tài của câu. Phần thuyết là một
cấu trúc đề thuyết được phức tạp hố thành một tiểu cú.
49
Những ngày mà tơi sống đây là những ngày đẹp nhất.
đt t
ĐT T Trong ví dụ này, “là” là một tác tử cú pháp chuyên dùng để phân giới và đánh
dấu đề - thuyết bậc câu. Ngữ đoạn trước “là” là đề, ngữ đoạn từ “là” trở về sau là thuyết. Phần đề là một danh ngữ.
50
Con cóc là cậu ơng trời. Tục ngữ
ĐT T Trong ví dụ này, “là” cũng là một tác tử cú pháp chuyên dùng dùng để phân giới
và đánh dấu đề - thuyết bậc câu. Ngữ đoạn trước “là” là đề, ngữ đoạn từ “là” trở về sau là thuyết. Phần đề trong ví dụ này nêu lên một đối tượng mang tính chất cá thể, là
đề tài của câu.
51
Con hơn cha là nhà có phúc.
đt t đt t ĐK T
52
Chỗ anh đứng, xưa kia là một cái hố bom.
29
đt t
ĐK T
53
Con gái mà đẹp người là một, đẹp nết là hai thì ai cũng thích.
đt t đt t đt t đt t
1
t
2
ĐK T Trong hai ví dụ
52

53
, “là” cũng là tác tử cú pháp dùng để phân giới và đánh dấu đề thuyết nhưng nó khơng phân giới đề - thuyết ở bậc câu mà ở bậc tiểu cú.
“Là” bắt buộc phải dùng trong kiểu câu có phần thuyết tình thái đã được thành ngữ hố: “là cùng”, “là hết mức”, “là ít”, “là nhiều”, “là cái chắc”…
Trong một số trường hợp, tác tử “là” đứng đầu câu, khi câu đã bị tỉnh lược phần đề dựa vào ngơn cảnh hay tình huống.
54
Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn một điều. Là ngươi đừng đặt chân vào đây.
Trong ví dụ này “Điều ta muốn” là phần đề đã được lược bỏ nhờ vào văn cảnh. “Là ngươi đừng đặt chân vào đây” là phần thuyết.
Lưu ý:
có nhiều trường hợp là xuất hiện trong câu nhưng nó khơng phải là tác tử cú pháp dùng để phân giới và đánh dấu đề - thuyết, tiêu biểu là các trường hợp sau
đây: _ “Là” dẫn nhập bổ ngữ đứng sau một số vị từ biểu thị hoạt động nhận thức, cảm
nghĩ, nói năng của con người và bổ ngữ được cấu tạo bằng tiểu cú mà tiêu biểu là các tổ hợp sau đây: nghĩ là, biết là, tưởng là, bảo là, mong là, cho là,… Trong
những trường hợp này, “là” đánh dấu quan hệ chính phụ và có chức năng tương đương với “rằng”.
55
Cái cảnh cuối cùng mà anh cho là lâu tới thì khán giả cho là chóng q.
30
đt t đt t đt t
ĐT T _ “Là” kết hợp với một số từ chỉ lượng hay chỉ mức độ, tiêu biểu là các tổ hợp:
bao nhiêu là, vô cùng là, rất là…
56
Cái áo này rất là mắc
.
ĐT T _ “Là” kết hợp với danh từ hay tính từ theo mơ hình: X ơi là X.
57
Cơ ấy trắng ơi là
trắng
ĐT T _ “Là” xuất hiện ở cuối câu trong ngôn ngữ Bắc Bộ chỉ mức độ.
58
Cô ấy xinh xinh là
.
ĐT T

2.6.3. Tác từ “mà”


Mà cũng là một tác tử cú pháp chủ yếu chuyên dùng để đánh dấu và phân giới đề - thuyết bậc câu, cú, tiểu cú và nó thuộc phần thuyết. Khi “mà” xuất hiện trong
câu với chức năng là tác tử cú pháp để phân giới đề - thuyết thì ngữ đoạn trước “mà” là phần đề, ngữ đoạn sau “mà” là phần thuyết.[6]
59
May mà còn vớt vát được ít tiền.
ĐTh T Trong ví dụ này, “mà” là tác tử cú pháp chuyên dùng để phân giới và đánh dấu
Đề - Thuyết bậc câu. Ngữ đoạn trước “mà” là đề. Ngữ đoạn sau “mà” là thuyết. Phần đề là một nhận định của người nói về một sự may rủi làm đề tình thái của câu.
60
Có chồng mà chẳng có con, [12;tr.199]
31
ĐT T Khác gì như là hoa nở trên non một mình.
đt t ĐTh T
Lưu ý:
• “Mà với chức năng là tác tử cú pháp để đánh dấu và phân giới Đề - Thuyết bậc
câu, cú khi: Đề - thuyết có sự tương phản hay bất thường theo cách nhìn nhận của người
nói.
61
Mới đây mà đã năm năm rồi.
ĐT T Câu có hàm ý và hàm ý bộc lộ rõ trong câu so sánh.
62
Con ông Còn mà đậu đại học à?
ĐT T
63
Giờ này mà nó vẫn còn thức.
đt t ĐK T
Câu có hàm nghĩa khác với hình thức diễn đạt.
64
Ai mà khơng ham quyền cao chức trọng.
ĐT T
65
Cái thằng đó ai mà ưa.
đt t ĐT T
“Mà” phân giới đề - thuyết tiểu cú làm đề khung của câu.
32
66
Người mà ích kỷ q thì ai cũng xa lánh.
đt t ĐK T
• “Mà; được dùng với chức năng khác:
“Mà” nối kết hai phần thuyết hay hai cú biểu thị sự tương phản. Trong trường hợp này, ta có thể thay “mà” bằng “nhưng”.
67
Khơng những nó săn giỏi mà giữ nhà, tìm đồ đánh mất thì nó cũng tài.
đt t đt t ĐT
1
ĐT
2
T C’
1
C’
2
Có trường hợp, “mà” xuất hiện trong câu nhưng vị trí của nó là ở đầu câu hay cuối câu. Trong trường hợp này, “mà” cũng không là tác tử cú pháp.
68
Nhưng thị làm gì mà hắn chửi. Mà hắn có quyền gì chửi thị.
69
Em ngủ đi mà
70
Con ăn rồi mà
Lưu ý:
a. Ba tác tử “thì”, “mà”, “là” có thể được dùng phối hợp với nhau để tạo nên các bậc đề - thuyết trong câu. Khi cả ba tác tử này cùng xuất hiện trong câu thì chúng
được phân bố như sau: Câu
Đề Thuyết
đề thuyết đề thuyết
Mà thì là
33
b. Khi trong câu khơng có sẵn tác tử cú pháp “thì”, “mà”, “là” thì ta có thể lần lượt đưa các tác tử này vào để kiểm tra cấu trúc đề - thuyết ở các bậc.
71
Vàng thì gió, đỏ thì mưa. Tục ngữ
ĐT T ĐT T C’
1
C’
2
Câu này xuất phát từ câu gốc là “Vàng gió, đỏ mưa”. Lúc đầu, câu khơng có tác tử cú pháp để kiểm tra ranh giới đề - thuyết, nên ta có thể đưa tác tử vào để kiểm tra.
với câu này thì tác tử “thì” là phù hợp nhất và nó phân giới đề - thuyết như sơ đồ trên.
72
Nhất là quỷ, nhì là ma, thứ ba là học trò. Tục ngữ
ĐT T ĐT T ĐT T C’
1
C’
2
C’
3
Câu này xuất phát từ câu tục ngữ “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”. Câu khơng có tác tử để kiểm tra ranh giới đề - thuyết. Dựa vào tiêu chí nghĩa, ta có thể đưa tác
tử “là” vào để kiểm tra thì thấy phù hợp nhất.
73
Tiếc vàng mà đổ lộn với thau, tiếc con chim phượng mà xuống bàu le le.
đt t đt t ĐTh T ĐTh T
C’
1
C’
2
Ca dao Câu này xuất phát từ câu ca dao: “Tiếc vàng đổ lộn với thau, tiếc con chim
phượng xuống bàu le le”. Trong câu khơng có sẵn tác tử để phân chia ranh giới đề - thuyết. Dựa vào mặt nghĩa của câu ca dao, ta có thể đưa tác tử “mà” vào để kiểm tra
thì thấy phù hợp.

2.7. Các yếu tố phụ trợ đánh dấu và phân giới đề - thuyết


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (65 trang)

×