1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >

Các yếu tố phụ trợ đánh dấu và phân giới đề - thuyết Ngữ pháp cấu trúc và việc tiếp cận ca dao Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (346.86 KB, 65 trang )


b. Khi trong câu khơng có sẵn tác tử cú pháp “thì”, “mà”, “là” thì ta có thể lần lượt đưa các tác tử này vào để kiểm tra cấu trúc đề - thuyết ở các bậc.
71
Vàng thì gió, đỏ thì mưa. Tục ngữ
ĐT T ĐT T C’
1
C’
2
Câu này xuất phát từ câu gốc là “Vàng gió, đỏ mưa”. Lúc đầu, câu khơng có tác tử cú pháp để kiểm tra ranh giới đề - thuyết, nên ta có thể đưa tác tử vào để kiểm tra.
với câu này thì tác tử “thì” là phù hợp nhất và nó phân giới đề - thuyết như sơ đồ trên.
72
Nhất là quỷ, nhì là ma, thứ ba là học trò. Tục ngữ
ĐT T ĐT T ĐT T C’
1
C’
2
C’
3
Câu này xuất phát từ câu tục ngữ “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”. Câu khơng có tác tử để kiểm tra ranh giới đề - thuyết. Dựa vào tiêu chí nghĩa, ta có thể đưa tác
tử “là” vào để kiểm tra thì thấy phù hợp nhất.
73
Tiếc vàng mà đổ lộn với thau, tiếc con chim phượng mà xuống bàu le le.
đt t đt t ĐTh T ĐTh T
C’
1
C’
2
Ca dao Câu này xuất phát từ câu ca dao: “Tiếc vàng đổ lộn với thau, tiếc con chim
phượng xuống bàu le le”. Trong câu khơng có sẵn tác tử để phân chia ranh giới đề - thuyết. Dựa vào mặt nghĩa của câu ca dao, ta có thể đưa tác tử “mà” vào để kiểm tra
thì thấy phù hợp.

2.7. Các yếu tố phụ trợ đánh dấu và phân giới đề - thuyết


Ngồi ba tác tử cú pháp chun dùng “thì”, “mà”, “là” còn một số yếu tố có chức năng đánh dấu và phân giới đề - thuyết. Các yếu tố này có thể là đề, thuyết ở các bậc
hay một bộ phận của đề, thuyết. Các yếu tố này được chia thành ba nhóm:
34
Nhóm 1: Các cặp đại từ phiếm định và xác định kết hợp sóng đơi với nhau: một
phần ở đề không xác định và một phần ở thuyết xác định.
74
Thầy nào thì trò nấy. tục ngữ
đt t đt t ĐT T
Nhóm 2: Các đại từ phiếm định kết hợp với vị từ “cũng” tạo thành một cặp hơ
ứng.
75
Chị nói sao
thì tơi cũng nghe vậy
.
đt t đt t ĐT T
Nhóm 3: Các vị từ tình thái kết hợp song đơi, hơ ứng với nhau.
76
Càng ngày thì càng xa
ĐT T

2.8. Phân loại câu tiếng Việt theo cấu trúc cú pháp cơ bản


Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt theo quan điểm ngữ pháp cấu trúc hình thức, các nhà nghiên cứu đã tiến hành phân loại dựa vào ba khái niệm “đơn”, “ghép”, “phức”.
Trong đó, đa số các nhà nghiên cứu đã đồng nhất hai khái niệm “ghép” và “phức”. Bên cạnh đó, cũng có người phân biệt “câu ghép” với “câu phức” như Diệp Quang
Ban, hay đưa ra khái niệm “câu trung gian” như Hữu Quỳnh để giải quyết vấn đề bất cập này. Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt theo quan điểm chức năng, Cao Xuân
Hạo trong quyển Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng, quyển 1 [5] cũng đề cập đến vấn đề phân loại câu. Ơng cũng khơng phân biệt “câu ghép” và “câu phức” mà
chỉ dùng khái niệm “câu ghép”. Nhưng khi miêu tả các kiểu câu theo cấu trúc cú pháp thì ơng đã đề cập đến câu một bậc, câu hai bậc… Thực chất câu hai bậc trở lên
chính là hiện tượng phức. Nguyên nhân sâu xa của những bất cập đã nêu trên là do các tác giả không chỉ ra
được cơ sở để phân biệt hiện tượng ghép với. Hiện tượng “ghép” là kết quả của việc
35
mở rộng cấu trúc cú pháp theo quan hệ ngữ đoạn. Hiện tượng “phức” là kết quả của việc phức tạp hoá câu theo quan hệ đối vị. Hiện tượng ghép - phức là kết quả của câu
vừa được mở rộng vừa được phức tạp hố. Vì thế, trong này, chúng tôi chia câu thành bốn loại là: câu đơn, câu ghép, câu phức và câu ghép phức. Bốn khái niệm này
được mở rộng với nhiều kiểu nhỏ nhằm khái quát được thực tiễn sinh động, phức tạp của câu trong thực tiễn giao tiếp.

2.8.1. Câu đơn


Câu đơn là kiểu câu chỉ có một phần đề, một phần thuyết hay một cấu trúc Đề - Thuyết.
77
Tôi mãi mốt chạy sang. Nam Cao
ĐT T
78
Mấy người hàng xóm đến trước tơi đang xơn xao ở trong nhà. Nam Cao
ĐT T
79
Tôi xồng xộc chạy vào. Nam Cao
ĐT T

2.8.2. Câu ghép


Câu ghép là kiểu câu có phần đề, phần thuyết hay cả cấu trúc đề - thuyết được mở rộng theo quan hệ ngữ đoạn bằng cách ghép một hay nhiều phần đề, một hay nhiều
phần thuyết hay nhiều cấu trúc đề − thuyết. Nhiều đề ghép là ghép đề, nhiều thuyết
ghép là ghép thuyết, nhiều cú ghép là ghép cú. Việc mở rộng này dựa trên trật tự tuyến tính hay kết từ.
80
Tre gi ữ làng
, giữ nước, giữ mái nhà, giữ đồng lúa chín.
ĐT T
1
T
2
T
3
T
4
Trong ví dụ này, phần thuyết được mở rộng theo quan hệ ngữ đoạn thành bốn thuyết nhỏ, mỗi thuyết là một chức năng của đề tài. Đây là câu ghép thuyết.
81
Người mẹ còm cõi và bốn đứa con gầy ốm đang quay quần với nhau trong xó bếp.
36
ĐT
1
ĐT
2
T Trong ví dụ này, phần đề được mở rộng theo quan hệ ngữ đoạn thành hai đề nhỏ.
Hai đề này được gắn kết với nhau bởi kết từ “và”. Đây là câu ghép đề.
82
Hắn định nói với thị một vài câu tình tứ mà 0 chẳng biết nói thế nào.
ĐT T ĐT T Kim Lân C’
1
C’
2
Trong ví dụ này, câu gồm có hai cú, được hình thành bằng cách ghép: mở rộng cả cấu trúc đề - thuyết theo quan hệ ngữ đoạn. Giữa hai cú được nối kết với nhau bởi
liên từ mà. Đây là câu ghép cú.

2.8.3. Câu phức


Câu phức là kiểu câu có có phần đề, phần thuyết hay cấu trúc đề − thuyết được phức tạp hoá theo quan hệ đối vị − được cấu tạo bằng tiểu cú; hay thành phần phụ
trong đề, trong thuyết hay trong cả trong đề và thuyết được cấu tạo bằng tiểu cú.
83
Đàn ông miệng mà rộng thì sang. ca dao đt t
đt t ĐT T
Đàn bà miệng mà rộng thì tan hoang cửa nhà.
đt t đt t
ĐK T Trong ví dụ này, phần đề khung được phức tạp hoá theo quan hệ đối vị tạo thành
một tiểu cú. Trong tiểu cú, phần thuyết của nó lại được phức tạp hố một bậc nữa, tạo thành cấu trúc đề - thuyết bậc nhỏ hơn. Đây là câu phức đề.
84
Chỉ sợ đến lúc ấy, họ lại mỉa lại.
37
đt t đt t
ĐTh T Trong ví dụ này, phần thuyết được phức tạp hố. Đây là câu phức thuyết.
85
Con chó mà biết nói tiếng người, hẳn là hắn đã lân la đến gần để đánh bạn. đt t đt t
đth t
ĐK T Trong câu này, cả phần đề lẫn phần thuyết đều được phức tạp hoá theo quan hệ
ngữ đoạn. Đây là câu phức cấu trúc đề - thuyết.

2.8.4. Câu ghép - phức


Câu ghép - phức là loại câu có phần đề, phần thuyết hay cả phần đề và phần thuyết vừa được mở rộng theo quan hệ ngữ đoạn vừa được phức tạp hố theo quan
hệ đối vị.
86
Nó mà về, nó cưới vợ thì nó sẽ giết cậu. Nam Cao
đt t đt t đt t ĐT
1
ĐT
2
T Trong câu này, phần đề được mở rộng theo quan hệ ngữ đoạn, tạo thành đề nhỏ
trong câu, mỗi đề có chức năng ngang nhau. Giữa phần đề và phần thuyết được ngăn cách với nhau bởi tác tử “thì”.
87
Đằng thì nó bắt trồng đay, đằng thì nó bắt đóng thuế. Kim Lân
đt t đt t ĐT T ĐT T
C’
1
C’
2
38
Trong ví dụ này, cấu trúc đề - thuyết vừa được mở rộng theo quan hệ ngữ đoạn tạo thành hai cú. Và mỗi cú có phần thuyết được phức tạp hố theo quan hệ đối vị,
tạo thành tiểu cú nhỏ. Đây là câu ghép phức. Như vậy, theo quan điểm ngữ pháp chức năng, cấu trúc câu tiếng Việt gồm hai
thành phần chính là phần đề và phần thuyết. Bên cạnh cấu trúc đề - thuyết của câu miêu thuật gồm: đề tài, đề khung và thuyết còn có đề tình thái, thuyết tình thái. Và
có ba tác tử cú pháp chuyên dùng “thì”, “mà”, “là” để phân giới và đánh dấu đề - thuyết. Ngoài những tác tử cú pháp dùng để đánh dấu và phân giới đề - thuyết đã nêu,
còn có một số yếu tố phụ trợ khác cũng tham gia vào việc phân giới đề - thuyết. Trên cơ sở cấu trúc đề - thuyết cơ bản của câu tiếng Việt, kết hợp với hiện tượng
mở rộng cấu trúc đề - thuyết theo quan hệ ngữ đoạn với hiện tượng phức tạp hoá cấu trúc đề - thuyết theo quan hệ đối vị, người viết phân câu tiếng Việt thành bốn loại:
câu đơn, câu ghép, câu phức, câu ghép phức.
39

Chương 3


CẤU TRÚC CÚ PHÁP CỦA CA DAO VIỆT NAM THEO QUAN ĐIỂM NGỮ PHÁP CHỨC NĂNG

3.1. Ngữ pháp cấu trúc và việc tiếp cận ca dao Việt Nam


Ở Việt Nam, trước khi ngữ pháp chức năng ra đời thì đã xuất hiện nhiều khuynh hướng nghiên cứu ngữ pháp để tìm hiểu cấu trúc câu tiếng Việt, trong đó, ngữ pháp
cấu trúc là khuynh hướng ngữ pháp phổ biến nhất. Theo quan điểm ngữ pháp cấu trúc hình thức thì cấu trúc cú pháp cơ bản của câu
tiếng Việt là cấu trúc chủ − vị. Chẳng hạn, ta xét cấu trúc cú pháp của các câu sau đây theo quan điểm ngữ pháp cấu trúc:
88
Hôm nay, bầu trời rất đẹp.
C V Tr
89
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi, khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
C V Tr
Chinh phụ ngâm
90
Thèm trầu mà chẳng dám xin, thương em mà chẳng dám nhìn mặt. Ca dao V
1a
mà V
1b
V
2a
mà V
2b
Nếu phân tích cấu trúc cú pháp của ca dao Việt Nam theo quan điểm ngữ pháp cấu trúc như đã được thể hiện ở câu
90
thì rất gượng ép. Bởi vì, ca dao là tiếng nói tình cảm, tâm tình, thái độ, cách nhìn đối với cuộc sống, kinh nghiệm sống của người
dân lao động, không trục tiếp thể hiện sự việc, sự kiện gắn liền với con người cụ thể, tình huống cụ thể. Vì thế, về mặt cú pháp, nếu xem xét ca dao Việt Nam theo quan
điểm ngữ pháp cấu trúc hình thức sẽ gặp rất nhiều khó khăn và hạn chế. Điều khó nhất là khó xác định được thành phần cơ bản là chủ ngữ của câu vì đa phần, ca dao
khơng có chủ ngữ.
40
Khi ngữ pháp chức năng ra đời thì việc xem xét ca dao Việt Nam theo quan điểm
ngữ pháp chức năng sẽ dễ dàng, thuận tiện hơn. Khác với ngữ pháp cấu trúc, ngữ pháp chức năng quan niệm cấu trúc cơ bản của câu tiếng Việt là cấu trúc đề -thuyết.
Nếu vận dụng quan điểm ngữ pháp chức năng vào việc tìm hiểu và phân tích cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt cũng như ca dao Việt Nam thì rất hợp lý.
Ca dao Việt Nam được sáng tác chủ yếu trên thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc văn vần nên ca dao hầu hết đều có hai dòng trở lên mới thành một câu: một câu
sáu chữ và một câu tám chữ. Do giới hạn về phạm vi nghiên cứu, người viết chỉ chọn ra những câu ca dao chỉ gồm hai dòng để tiện phân tích. Đễ dễ dàng trong việc dùng
sơ đồ để phân tích cấu trúc cú pháp ca dao theo quan điểm ngữ pháp chức năng, dựa trên tiêu chí hồn chỉnh về ngữ pháp và ngữ nghĩa, người viết đưa ra cách phân tích
bằng sơ đồ như sau: _ Cặp câu ca dao nếu hoàn chỉnh về ngữ pháp thì sẽ được gộp thành một dòng.
_ Cặp câu ca dao nếu khơng hồn chỉnh về ngữ pháp chỉ có quan hệ về mặt ngữ âm và ngữ nghĩa thì nó sẽ được tách ra làm hai câu.
91
Bao giờ cho chuối có cành, cho sung có nụ, cho hành có hoa. [12; tr.137]
đt t đt t đt t
ĐK T
1
T
2
T
3 92
Bao giờ chạch đẻ ngọn đa, sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình. [12; tr.137]
đt t đt t đt t đk t
1
t
2
ĐK T
93
Tưởng rằng trong đạo mẹ cha thì con trai, con gái cũng là một thương.
đt
1
đt
2
t đt t [12;tr.197]
ĐTh T
41
Trong ví dụ
93
, câu ca dao được cấu tạo bởi một cấu trúc đề thuyết, ngữ đoạn “Tưởng rằng” là phần đề tình thái của câu, phần còn lại là thuyết. Phần thuyết của
câu được phức tạp hoá theo quan hệ đối vị thành một cấu trúc đề thuyết bậc tiểu cú.
94
Hết gạo thì có Đồng Nai, hết củi thì có Tần Sài chở vơ. [12; tr.103]
ĐT T ĐT T C’
1
C’
2
Trong ví dụ này, câu ca dao là một câu ghép, được hình thành bằng cách ghép cấu trúc đề - thuyết theo quan hệ ngữ đoạn tạo thành hai cú. Mỗi cú là một cấu trúc đề -
thuyết.
95
Anh đi thì anh nhớ quê nhà, 0 nhớ canh rau muống, 0 nhớ cà dầm tương.
đt t đt t đt t đt t ĐT T
1
T
2
T
3
[12; tr.70]
96
Muốn về Hoà Đại, Hiệp Lng thì sợ khe nước nóng, sợ trng Ba Gò.
ĐT T
1
T
2
[12; tr.103] Trong những ví dụ trên, cặp câu ca dao hồn chỉnh cả về ngữ pháp lẫn ngữ nghĩa
nên được gộp lại thành một và được biểu diễn như sơ đồ trên.
97
a. Anh mà về thì cho em về theo, [14; tr.184] đt t đt t
ĐK T b. Anh mà về đến ngõ thì em theo đến nhà.
đt t đt t ĐK T
98
a. Anh đi thì em một ngó chừng, [14; tr.178]
42
đt t đt t ĐT T
b. 0 Ngó sơng thì sơng rộng, 0 ngó rừng thì rừng cao.
đt t đt t đt t đt t
ĐK T ĐK T C’
1
C’
2
Trong những ví dụ trên, cặp câu ca dao khơng hồn chỉnh về ngữ pháp nên được tách ra thành hai dòng như sơ đồ trên
3.2. Tiếp cận cấu trúc cú pháp của ca dao Việt Nam theo quan điểm ngữ pháp chức năng

3.2.1. Cấu trúc đề - thuyết của ca dao Việt Nam


Như câu tiếng Việt nói chung, ca dao Việt Nam xét theo quan điểm ngữ pháp chức năng cũng có cấu trúc đề − thuyết. “Trong tiếng nói hàng ngày của chúng ta,
nếu không kể sự đối xứng và hiệp vần đặc thù của thơ, tục ngữ hay ca dao và những khuôn khổ nhiều khi rất nghiêm ngặt mà các thể loại này quy định, cũng hồn tồn
tn theo mơ hình cấu trúc đề - thuyết”. [3;tr.30] Để hiểu rõ về cấu trúc cú pháp của ca dao Việt Nam, bên cạnh việc dẫn ra ngữ
liệu và phân tích bằng sơ đồ IC
s
, trong những trường hợp cần thiết, chúng tôi sẽ diễn giải thêm.
99
Áo anh ai cắt, ai may, đường là ai dột, cửa tay ai viền? [14; tr88]
đt t đt t đt t đt t ĐT T
1
T
2
ĐT T ĐT T
C’
1
C’
2
C’
3 100
Dầu cho cha đón ngã đình, mẹ ngăn ngã chợ thì đơi mình cũng thương.
43
đt t đt t đt t
ĐK
1
ĐK
2
T [14;tr.46]
101
Ai làm cho vượn lìa cây, cho chim lìa tổ, cho mây lìa rồng. [14; tr176]
đt t đt t đt t
ĐT T
1
T
2
T
3 102
Thiếp mà bầu bạn với chàng thì cũng như cây ngọc có trổ lá vàng thêm xinh.
đt t đt t
ĐK T [14; tr.661]
103
a. Sao rua bảy chiếc tỏ năm, [14; tr.643]
đt t ĐT T
b. Trăng mà tròn thì chỉ có đêm rằm mà thôi.
đt t
ĐK T
104
Qua về bán ruộng cây đa, bán cả đất nhà mà 0 cưới chẳng đặng em.
đt t
1
t
2
đt t [14; tr.621]
C’
1
C’
2
105
Ra đi vừa gặp bạn hiền thì cũng bằng ăn quả đào tiên trên trời. [14; tr.626]
44
ĐT T
106
a. Tàu mà chìm thì còn nổi giàn mui, [14; tr.655]
đt t
ĐK T b. Anh liệu thương đặng mình tui thì tui chờ.
đt t đt t ĐK T
Ba tác tử “thì”, “mà”, “là” cũng là ba tác tử cú pháp chuyên dùng đề phân giới và đánh dấu đề − thuyết trong câu ca dao Việt Nam.
107
a. Có yêu thì nói rằng u. [12; tr.132]
ĐK T b. Chẳng u thì nói một điều cho xong.
ĐK T Trong câu ca dao này, “thì” là tác tử cú pháp chuyên dùng để phân giới và
đánh dấu đề - thuyết bậc câu.
108
a. Ớt nào là ớt chẳng cay, [12; tr.183]
đt t ĐT T
b. Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.
đt t ĐT T
Trong câu ca dao này, “là” là tác tử cú pháp dùng để phân giới và đánh dấu đề - thuyết bậc câu. “Là” thuộc phần thuyết.
109
a. Đừng có chết mất thì thơi. [12; tr.210]
45
ĐT TTh b. Sống thì có lúc no xơi chán chè.
ĐT T
110
Hèn mà làm bạn với sang thì chỗ ngồi chỗ đứng có ngang bao giờ.
đt t đt t ĐK T
[12; tr.268] Trong câu ca dao này, “thì” là tác tử cú pháp để phân giới đề - thuyết bậc câu.
“Mà” là tác tử cú pháp phân giới đề - thuyết của tiểu cú phần đề.
111
a. Chỉ đâu mà buộc ngang trời, [12; tr.241]
ĐT T b. Tay đâu mà bịt miệng người thế gian.
ĐT T
Nếu trong câu ca dao khơng có sẵn các tác tử cú pháp thì ta có thể lần lượt đưa các tác tử cú pháp “thì”, “mà”, “là” vào để kiểm tra.
112
a. Bướm vàng mà đậu đọt mù u, [14; tr.193]
ĐT T b. Lấy chồng mà càng sớm thì tiếng ru càng buồn.
đt t đt t ĐK T
113
a. Nghe đồn là cha mẹ anh hiền, [12; tr.201]
đt t
46
ĐTh T b. Cắn cơm thì khơng vỡ mà cắn tiền thì vỡ đơi.
ĐT T ĐT T C’
1
C’
2 114
a. Anh mà về thì cho em về theo, [14; tr.184]
đt t ĐK T
b. Anh mà về đến ngõ thì em theo đến nhà.
đt t đt t ĐK T
115
a. Cây bồ đề thì lá cũng bồ đề, [14; tr.248]
đt t ĐT T
b. Khi nào mà cho được ngã kề bên em
ĐK T

3.2.2. Ca dao: có cấu trúc là câu đơn


Ca dao có cấu trúc là câu đơn được chia làm hai dạng: Ca dao có cấu trúc là câu đơn đơn phần: chỉ có một phần đề hay chỉ có một phần
thuyết.
116
Thèm trầu mà chẳng dám xin, [12; tr.156] Thương em mà chẳng dám nhìn mặt em.
117
Trách cha, trách mẹ muôn phần, [12;tr.140] Ngồi bên đống bạc mà cân lấy chì.
118
Gánh cực mà đổ lên non, [12;tr.204] Còng lưng mà chay, cực còn chạy theo.
119
Vải Quang, húng Láng, ngổ Đầm, [12;tr.96]
47
Cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây. Ca dao có cấu trúc là câu đơn song phần: được cấu tạo bằng một cấu trúc đề -
thuyết.
120
a. Bé là con mẹ con cha, [14; tr.221]
ĐK T b. Lớn lên là con của nước nhà, chàng ơi
ĐK T
121
a. Bữa nay nhìn mặt cho tường, [14; tr.226]
ĐK T b. Đến mai dời gót nẻo đường xa xôi.
ĐK T
122
a. Cá rơ ăn móng trong lùm, [14; tr. 243]
ĐT T b. Biết đâu nhân hậu thì chỉ giùm cho em.
ĐK T
123
a. Cầm cân mà đi mua vàng, [14; tr.245]
T
1
T
2
b. Gặp em giữa đàng thì biết lượng làm sao.
ĐT T
124
a. Cây đa rụng lá đầy đình, [14; tr.249]
ĐT T b. Bao nhiêu lá rụng thì thương mình bấy nhiêu.
48
ĐT T
125
a. Chiều chiều ra đứng bờ sông.[14; tr.257]
ĐK T b. Muốn về quê mẹ mà khơng có đò.
T
1
T
2 126
a. Chỉ tơ quấn ống tre bơng, [14; tr.259]
ĐT T b. Gá dun khơng đặng thì xuống sơng trầm mình.
ĐT T
127
a. Chồng người vác giáo săn beo, [14; tr.267]
ĐT T b. Chồng em vác đũa săn mèo khắp mâm.
ĐT T
128
a. Còn duyên thì đi lọng về dù, [14; tr.273]
ĐT T b. Hết duyên thì
ngồi dựa cọc bù sầu riêng.
ĐT T
129
a. Mấy lâu ăn miếng cau già, [14; tr.517]
ĐK T b. Bây giờ được quả cau hoa thoả lòng.
49
ĐK T
130
Bạch Đằng giang là sông cửa ải, [12;tr.84]
ĐT T Tổng Hà Nam là Bãi chiến trường.
ĐT T Những câu ca dao trên là những câu đơn: chỉ có một cấu trúc đề - thuyết.

3.2.3. Ca dao: mở rộng cấu trúc đề - thuyết theo quan hệ ngữ đoạn


Trong kho tàng ca dao của dân tộc Việt Nam, có những câu ca dao đã được mở rộng cấu trúc cú pháp bằng cách thêm vào một hay nhiều phần đề, một hay nhiều
phần thuyết hay nhiều cấu trúc đề − thuyết theo quan hệ ngữ đoạn. Việc mở rộng này dựa trên trật tự tuyến tính hay kết từ. Việc mở rộng cả cấu trúc đề - thuyết cho ta kết
quả là câu được cấu tạo bởi hai hay nhiều cú. Ca dao có cấu trúc câu ghép là những câu ca dao có phần đề, phần thuyết hay cả
phần đề lẫn phần thuyết được mở rộng cấu trúc cú pháp theo quan hệ ngữ đoạn bằng cách ghép một hay nhiều phần đề, một hay nhiều phần thuyết hay nhiều cấu trúc đề −
thuyết. Việc mở rộng này dựa trên trật tự tuyến tính hay kết từ. Ca dao có dạng ghép đề là những câu ca dao có hai phần đề trở lên và các phần đề
có vai trò ngang nhau về chức năng cú pháp.
131
a. Chẳng chè, chẳng chén sao say, [12; tr.129]
ĐT
1
ĐT
2
T b. Chẳng thương chẳng nhớ sao hay đi tìm?
ĐT
1
ĐT
2
T
132
a. Ăn đư ợc
, ngủ được là tiên, [12; tr.242]
ĐT
1
ĐT
2
T b. Khơng ăn, khơng ngủ thì mất tiền thêm lo.
50
ĐT
1
ĐT
2
T
1
T
2 133
a. Chồng già, vợ trẻ là tiên, [12; tr.]
ĐT
1
ĐT
2
T b. Vợ già, chồng trẻ là duyên ba đời.
ĐT
1
ĐT
2
T Những câu ca dao trên, phần đề được mở rộng theo quan hệ ngữ đoạn.
Ca dao có dạng ghép thuyết là những câu ca dao có hai phần thuyết trở lên và các phần thuyết có vai trò ngang nhau về chức năng cú pháp.
134
Đời vua Thái Tổ, Thái Tơng thì con bế, con dắt, con bồng, con mang.
ĐK T
1
T
2
T
3
T
4
[12; tr.85]
135
Bình Định có núi Vọng Phu, có đầm Thị Nại, có cù lao Xanh. [12; tr.102]
ĐT T
1
T
2
T
3 136
Mẹ em tham thúng xôi rền, tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng.[12; tr.175]
ĐT T
1
T
2
T
3 137
Hoa hồi vừa đắng vừa gây, vừa mặn như muối, vừa cay như gừng. [12; tr.189]
ĐT T
1
T
2
T
3
T
4 138
Mẹ già như chuối ba hương, như xôi nếp một, như đường mía lau. [12; tr.198]
ĐT T
1
T
2
T
3 139
Đôi ta như lửa mới nhen, như trăng mới mọc, như đèn mới khêu. [12; tr.105]
ĐT T
1
T
2
T
3 140
Vạn Phúc có cội cây đề, có sơng uốn khúc, có nghề quay tơ. [12; tr.95]
51
ĐT T
1
T
2
T
3
Trong hai câu ca dao
139
,
140
, phần thuyết đựơc mở rộng theo quan hệ ngữ đoạn, tạo thành ba thuyết. Những bài ca dao trên có thuyết ghép.
Ca dao có dạng ghép đề − thuyết ghép cú là loại câu ghép có hai cấu trúc đề − thuyết hai cú trở lên và các cú này được ghép lại với nhau bằng trật tự tuyến tính
hay kết từ. Ca dao có dạng ghép này còn được chia ra làm hai loại: ghép đẳng lập và ghép chính phụ.
141
Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì là tu chợ, thứ ba là tu chùa. [12; tr.258]
ĐT T ĐT T ĐT T
C’
1
C’
2
C’
3 142
Tháng ba thì đi bán vải thâm, tháng tư thì đi gặt, tháng năm trở về. [12;tr.64]
ĐK T ĐK T ĐK T
C’
1
C’
2
C’
3 142
Thứ nhất là vợ dại trong nhà, thứ nhì là trâu trậm, thứ ba là rựa cùn.
ĐT T ĐT T ĐT T C’
1
C’
2
C’
3
[12; tr.186]
143
Cha chài, mẹ lưới, con câu, [12; tr.71]
đt t đt t đt t C’
1
C’
2
C’
3
Con trai tát nước, nàng dâu đi mò.
đt t đt t C’
4
C’
5 144
Một chờ, hai đợi, ba trông, [14; tr.524]
52
ĐT T ĐT T ĐT T
C’
1
C’
2
C’
3
Bốn thương, năm nhớ,
ĐT T ĐT T C’
1
C’
2
Bảy tám chín mong, mười tìm.
ĐT
1
ĐT
2
ĐT
3
T ĐT T
C’
1
C’
2 145
Khi lên bộ, khi xuống thuyền, khi chung một gối, khi liền một chăn. [14; tr.428]
ĐK T ĐK T ĐK T ĐK T C’
1
C’
2
C’
3
C’
4
Trong trường hợp này, ranh giới câu – cú chỉ tương đối. Những câu ca dao trên, cả cấu trúc đề - thuyết được mở rộng theo quan hệ ngữ
đoạn, tạo thành nhiều cú.

3.2.4. Ca dao: phức tạp hoá cấu trúc đề thuyết theo quan hệ đối vị


Trong kho tàng ca dao của dân tộc Việt Nam, có những câu được phức tạp hoá với phần đề, phần thuyết hay cả cấu trúc đề − thuyết được cấu tạo tạo bằng cấu trúc
đề − thuyết dưới bậc theo quan hệ đối vị. Kết quả của việc phức tạp hoá này cho ta kết quả là tiểu cú.
146
a. Bướm mà xa hoa thì bướm lại dật dờ. [14; tr.228]
đt t đt t
ĐT T b. Anh mà xa em bậu thì đêm chờ, ngày mong.
53
đt t
ĐT T
147
Bao giờ cầu nọ hết quay thì qua với bậu mới đứt dây cang thường. [14; tr.217]
đt t đt t đk t
ĐK T
148
Bao giờ Ngàn Hống hết cây, sơng Rum hết nước thì em đây hết tình.
đt t đt t đt t đk t
1
t
2
ĐK T [14; tr.217]
Ca dao có cấu trúc cú pháp phức là những câu ca dao có phần đề, phần thuyết hay cấu trúc đề − thuyết được phức tạp hoá theo quan h

đối vị - được cấu tạo bằng tiểu cú; hay thành phần phụ trong đề, trong thuyết hay trong cả trong đề và thuyết được
cấu tạo bằng tiểu cú. Ca dao có dạng phức tạp hố đề là những câu ca dao có phần đề được cấu tạo
bằng cấu trúc đề − thuyết dưới bậc, được gọi là tiểu cú.
149
Cá lý ngư mà sầu tư thì biếng lội, [14; tr.243]
đt t ĐK T
Chim phượng hồng mà sầu cội thì biếng bay.
đt t
54
ĐK T
150
Cha mẹ ni con thì như biển hồ lai láng, [14; tr.251]
đt t
ĐT T Con nuôi cha mẹ thì tính tháng tính ngày.
đt t ĐT T
151
Chàng đà phụ thiếp thì thôi, [14; tr.251]
đt t
ĐT TTh Dù chàng xuống ngựa lên xe mặc chàng.
đt t
ĐT T
152
Nước mà đục thì đã có phèn, [14; tr.574]
đt t ĐK T
Chanh mà chua thì có muối,
đt t ĐK T
Em mà hèn thì có anh.
đt t ĐK T
55
Ca dao có dạng phức tạp hoá thuyết là những câu ca dao có phần thuyết được cấu tạo bởi một cấu trúc đề − thuyết dưới bậc, được gọi là tiểu cú.
153
Gặp anh thì em nở nụ cười, [14; tr.436]
đt t
ĐT T Vắng anh thì em lại giọt vơi, giọt đầy.
đt t
ĐT T
154
Khi đi thì bóng đang dài, [14; tr.483]
đt t ĐK T
Khi về bóng đã nghe ai bóng tròn.
đt t đt t ĐK T
1
T
2 155
Chửa trưa thì bóng chưa tròn, [14; tr.268]
đt t ĐK T
Chửa trơng thấy mặt lòng còn ước ao.
đt t ĐK T
156
Hết mạ thì ta lại quẩy lên, [12; tr.69]
đt t ĐK T
56
Hết lúa thì ta lại mang tiền đi đong.
đt t ĐK T
157
Bóng trăng em tưởng bóng đèn, [12; tr.144]
đt t ĐT T
Bóng cây em tưởng bóng thuyền anh sang.
đt t ĐT T
Ca dao có dạng phức tạp hố cấu trúc đề − thuyết là những câu ca dao có cả phần đề lẫn phần thuyết được phức tạp hoá bằng cấu trúc đề − thuyết dưới bậc, được
gọi là tiểu cú.
158
Anh mà không lấy được em, anh về đóng cửa cài rèm đi tu. [14; tr.180]
đt t đt t
1
t
2
t
3
ĐK T
159
Trầu mà khơng ăn vơi thì ắt là trầu nhạt, [12; tr.113]
đt t đth t ĐK T
Cau mà khơng hạt thì ắt là miếng cau già.
đt t đth t ĐK T
160
Mình mà khơng lấy ta thì ắt là mình thiệt, [12; tr.113]
đt t đt t đth t
57
ĐK T Ta mà khơng lấy mình thì ta biết lấy ai?
đt t đt t ĐK T
161
Nhà em mả táng hàm rồng thì em mới lấy được chồng thợ khay.[12; tr.82]
đt t đt t đt t
ĐK T
162
Chim mà khơn thì chưa bắt là đã bay, [14; tr.258]
đt t đt t
ĐK T Người mà khơn thì chưa nắm lấy tay là đã cười.
đt t đt t ĐT T
163
Chồng giận thì vợ bớt lời, [12; tr.181]
đt t đt t ĐT T
Cơm sơi mà nhỏ lửa thì một đời khơng khê.
đt t đk t đt t
ĐK T
164
Đó ngọc thì đây cũng ngà, [14; tr.367]
đt t đt t
58
ĐT T Đó là hoa thiên lý, đây là mẫu đơn.
đt t đt t
ĐT T
165
Cha mẹ mà giàu thì con thong thả, [12;tr.80]
đt t đt t
ĐK T Cha mẹ mà nghèo thì con vất vả gian nan.
đt t đt t
1
t
2
ĐK T
166
Chồng mà khơn thì vợ được đi hài, [12;tr.190]
đt t đt t ĐK T
Vợ mà khơn thì chồng được nhiều bài cậy trông. đt t đt t
ĐK T
167
Canh b ầu
nấu với cá trê, [14; tr.245]
đt t Anh ăn cho béo thì anh mê con nào?
đt t đt t
ĐT T
59
Trong những câu ca dao trên, cả phần đề và phần thuyết đều được phức tạp hoá theo quan hệ đối vị, tạo thành tiểu cú.

3.2.5. Ca dao: vừa được mở rộng vừa được phức tạp hố


Ca dao có cấu trúc dạng ghép − phức là những câu ca dao có phần đề, phần thuyết hay cả phần đề và phần thuyết vừa được mở rộng theo quan hệ ngữ đoạn vừa
được phức tạp hoá theo quan hệ đối vị.
168
Một mai thiếp có xa chàng thì đôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp xin.
đt t đt t đt t đk t đt t đt t
ĐK T
1
T
2
[14; tr.525]
169
Những lời mình nói với ta thì năm canh cũng gãy, ngàn hoa cũng sầu.
đt t đk t đt t [14; tr.571]
ĐT T
1
T
2 170
Tình cờ mà gặp nhau đây thì một là duyên kỳ ngộ, hai là trời xoay đất vần
đt t đt t đt t
ĐK T
1
T
2
[14; tr.674]
171
Miếng trầu ai rọc ai têm, miếng cau ai bổ mà nên vợ chồng? [14; tr.520]
đt t đt t đt t đt t
1
t
2
đt t
ĐT
1
ĐT
2
T
172
Chiều chiều ông Lữ đi câu, bà Lữ đi xúc, con dâu đi mò. [14; tr.260]
60
đt t đt t đt t ĐK T
1
T
2
T
3 173
Cơn buồn nguồi nguội chưa khuây, cơn mưa chưa đến, thì cơn mây lại ùn. đt t
1
t
2
đt t đt t ĐT
1
ĐT
2
T [14; tr.279]
174
Một niềm vàng đá khăng khăng, ba thu cũng đợi, chín trăng cũng chờ.
đk t đk t [14;tr.524] ĐK
T
1
T
2 175
Còn trời, còn nước, còn non, còn câu quan họ thì em còn say sưa. [12; tr.92]
đt t
ĐT
1
ĐT
2
ĐT
3
ĐT
4
T
176
a. Con mày thì mày ấp, mày yêu, [14; tr.273]
đt t đt t ĐT T
1
T
2
b. Con tao thì mày bỏ vào niêu, mày xào.
đt t đt t ĐT T
1
T
2 177
Cơ ba, cơ bảy mà có chồng thì xe hơi chạy trước, ngựa hồng chạy sau.
đt
1
đt
2
t đt t đt t ĐT T
1
T
2
[14; tr.276]
61
Trong ví dụ này, bài ca dao được gộp lại thành một dòng. Trong bài ca dao, phần thuyết vừa được mở rộng theo quan hệ ngữ đoạn, vừa được phức tạp hoá theo
quan hệ đối vị.
178
a. Núi Trồi thì ai đắp mà 0 cao, [12; tr.101]
đt t ĐT T ĐT T
C’
1
C’
2
b. Sông Gianh ai bới, ai đào mà 0 sâu.
đt t đt t ĐT T ĐT T
1
T
2
C’
1
C’
2

3.3. Nhận định chung


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (65 trang)

×