1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

II. Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (536.22 KB, 94 trang )


Luận văn tốt nghiệp

tế Quốc dân



Trờng ĐH Kinh



Lời mở đầu

Chính sách đổi mới mở cửa nền kinh tế, xoá bỏ cơ chế tập trung quan

liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trờng đã làm cho nền kinh tế Việt Nam

chuyển biến mạnh mẽ. Trong điều kiện nớc ta hiện nay, khi mà nền kinh tế

hàng hoá ngày càng phát triển mạnh, sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt,

quyết liệt thì sự đứng vững và khẳng định vị thế của một doanh nghiệp trên thị

trờng là một điều cực kỳ khó khăn.

Bất cứ một doanh nghiệp nào khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh

doanh trong cơ chế thị trờng đều phải chịu tác động của các quy luật kinh tế

khách quan, trong đó có quy luật cạnh tranh. Theo quy luật này, mỗi doanh

nghiệp muốn tồn tại và phát triển đợc trên thị trờng thì phải không ngừng nỗ

lực áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lợng, giảm giá thành sản

phẩm Có nh vậy, doanh nghiệp mới thu hút đợc khách hàng đồng thời chiến

thắng đợc các đối thủ cạnh tranh trên thị trờng. Vì vậy, vấn đề nâng cao khả

năng cạnh tranh của doanh nghiệp đã trở thành một vấn đề quan trọng hàng

đầu mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm.

Với ý nghĩa đó và sau một thời gian thực tập tại công ty Bóng đèn Phích

nớc Rạng Đông, tôi đã chọn và hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình với

đề tài: Mt s bin phỏp nhm nõng cao kh nng cnh tranh ca cụng ty

Búng ốn Phớch nc Rng ụng.

Nội dung luận văn đợc chia làm 3 chơng:

Chơng 1: Những vấn đề cơ bản về khả năng cạnh tranh của một doanh

nghiệp trong nền kinh tế thị trờng.

Chơng 2: Thực trạng khả năng cạnh tranh của công ty Bóng đèn Phích

nớc Rạng Đông.

Chơng 3: Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng cạnh

tranh của công ty Bóng đèn Phích nớc Rạng Đông.

Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của TS. Phan Tố Uyên và các

cô chú, anh chị trong công ty Bóng đèn Phích nớc Rạng Đông đặc biệt là

Phòng thị trờng đã giúp đỡ tôi hoàn thành bài viết này.



Sinh viên: Lê Quốc Uy

Lớp: Thơng mại 42B



Luận văn tốt nghiệp

tế Quốc dân



Trờng ĐH Kinh



Chơng 1

Những vấn đề cơ bản về khả năng cạnh tranh của một

doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng



I. Cạnh tranh và vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân

1. Quan niêm về cạnh tranh

Bớc vào thời đại kinh tế tri thức, từ văn hoá tới t tởng của toàn thế giới

tất sẽ thay đổi lớn và sâu sắc cha từng thấy. Theo đó, lý luận về kinh tế cũng

có xu thế phát triển mới, đồng thời lý luận cạnh tranh cũng có bớc phát triển

mới.

Lý luận kinh tế truyền thống là cơ sở lý luận trong nền kinh tế công

nghiệp, do đó nó mang đặc điểm của thời đại kinh tế công nghiệp. Kinh tế

công nghiệp lấy sản xuất vật chất và năng lợng làm trọng tâm, các ngành phần

lớn là những ngành sử dụng nhiều t bản, là nền kinh tế công nghiệp gia công

có quy mô lớn và công nghiệp nặng.

Theo quan điểm của nhà kinh tế học nổi tiếng ngời Anh Alfred

Masshall, nền kinh tế thời đại này cân đối, ổn định, do đó mà có trật tự, có thể

dự đoán đợc. Trong nền kinh tế công nghiệp sản xuất có khuynh hớng lặp đi

lặp lại, cạnh tranh có nghĩa là phải làm cho sản phẩm có chất lợng cao, giá rẻ.

Do đó, phải cải tiến chất lợng, hạ giá thành, đi đến giới hạn cuối cùng là giá

thành tăng lên hoặc lợi nhuận giảm xuống.

Lý luận kinh tế truyền thống cho rằng loài ngời sống trong một thế giới

khan hiếm tài nguyên, tính chất khan hiếm tài nguyên biểu hiện ở chỗ thù lao

giảm dần. Quy luật thù lao giảm dần khiến mọi ngời có quan điểm bi quan đối

với mong đợi kinh tế tăng trởng bền vững và liên tục. Trong nền kinh tế tri

thức thì thù lao tăng dần. Nhà kinh tế học ngời Mỹ W.B Arthur cho rằng thù

lao tăng dần phản ánh xu hớng sau: Dẫn đầu thì lại dẫn đầu hơn nữa, mất lợi

thế thì sẽ mất lợi thế hơn nữa.

Ông tổ của lý luận kinh tế phơng Tây, Adam Smith cho rằng cạnh tranh

có thể làm giảm chi phí và giá cả sản phẩm, từ đó khiến cho toàn bộ xã hội đ ợc lợi do năng suất của các doanh nghiệp tăng lên tạo ra. Hơn 200 năm sau

thời Adam Smith, quan điểm cho rằng cạnh tranh có thể nâng cao năng suất

làm cho xã hội đợc lợi ăn sâu vào toàn bộ lý luận kinh tế phơng Tây. Cạnh

tranh đợc coi là động lực giảm giá sản phẩm, cải tiến chất lợng sản phẩm và

sáng tạo ra sản phẩm mới. Trong nền kinh tế tri thức, tầm quan trọng của cạnh

tranh không thay đổi, hơn nữa còn quan trọng hơn rất nhiều.

Sinh viên: Lê Quốc Uy

Lớp: Thơng mại 42B



Luận văn tốt nghiệp

tế Quốc dân



Trờng ĐH Kinh



Có thể nói rằng, công nghiệp truyền thống thiên về thống nhất hoá, nền

nếp hoá và tổ chức hoá sản phẩm. Mỗi loại sản phẩm đều là một điểm của

không gian sản phẩm đa hệ. Trong tác phẩm lý luận tổ chức ngành của

mình, Taylor dùng khái niệm không gian sản phẩm để mô tả tính chất phong

phú của sự khác nhau của sản phẩm. Do đó, trong không gian đã định sẵn ấy,

cạnh tranh có nghĩa là làm cho hàng hoá lu thông nhanh, bằng cách làm thay

đổi những hàm số sản xuất tức là hoặc tích cực tăng đầu vào trong điều kiện

giá thành đã ấn định sẵn hoặc tận sức giảm giá thành trong điều kiện đầu ra đã

ấn định sẵn để tối đa hoá lợi nhuận.

Trong nền kinh tế tri thức, cạnh tranh không còn chỉ đơn thuần là thay

đổi hàm số sản xuất và mở rộng thị phần, mà là cạnh tranh mở rộng không

gian sinh tồn, là t bản hoá giá trị thời gian của các cá nhân ngời tiêu dùng

trong không gian thị trờng mới. Không gian này lấy tăng trởng bền vững,

chuyên môn hoá ở trình độ cao và sáng tạo ra hệ thống sinh thái con làm đặc

trng. Doanh nghiệp cạnh tranh không gian, cạnh tranh thị trờng là cạnh tranh

t bản.

Lý luận về kinh tế tri thức đợc xây dựng trên cơ sở lý luận sinh vật học,

cho rằng nền kinh tế tri thức mãi mãi ở bên lề thời gian, phát triển không

ngừng, kết cấu kinh tế thờng xuyên sắp xếp lại. Kinh tế tri thức lấy ngành

nghề kỹ thuật cao làm trụ cột. Do vậy, việc hiểu biết sản phẩm của mình thuộc

hệ sinh thái nào là việc hết sức quan trọng, thành công hay thất bại không chỉ

do bản thân doanh nghiệp quyết định mà còn do mạng lới của nó có thành

công hay không quyết định. Muốn có lợi thế cạnh tranh trong nền kinh tế thị

trờng, doanh nghiệp phải nắm bắt thời cơ và phơng pháp xây dựng hệ thống

sinh thái, có thể điều chỉnh hớng bay trong quá trình phát triển và cải tiến. Hệ

thống sinh thái mới đòi hỏi ngời lao động có khả năng vợt lên trên tổ chức

truyền thống và giới hạn văn hoá để hình thành quan điểm cạnh tranh vợt qua

giới hạn doanh nghiệp, ngành và quốc gia. (F. Moore)

2. Vai trò của cạnh tranh

Trong nền kinh tế thị trờng, cạnh tranh có vai trò vô cùng quan trọng,

nó đợc coi là động lực của sự phát triển không chỉ của mỗi cá nhân, mỗi

doanh nghiệp mà cả nền kinh tế nói chung.

2.1. Đối với doanh nghiệp

Đối với mỗi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trờng, cạnh tranh có những vai trò sau:

Sinh viên: Lê Quốc Uy

Lớp: Thơng mại 42B



Luận văn tốt nghiệp

tế Quốc dân



Trờng ĐH Kinh



Cạnh tranh đợc coi nh là cái sàng để lựa chọn và đào thải những

doanh nghiệp. Vì vậy nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có vai

trò cực kỳ to lớn.

Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Cạnh

tranh tạo ra động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh

nghiệp tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển công tác marketing bắt

đầu từ việc nghiên cứu thị trờng để xác định đợc nhu cầu thị trờng từ đó ra các

quyết định sản xuất kinh doanh để đáp ứng các nhu cầu đó. Bên cạnh đó,

doanh nghiệp phải nâng cao các hoạt động dịch vụ cũng nh tăng cờng công

tác quảng cáo, khuyến mãi, bảo hành...

Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải đa ra các sản phẩm có chất lợng

cao hơn để đáp ứng đợc nhu cầu thờng xuyên thay đổi của ngời tiêu dùng.

Muốn vậy, các doanh nghiệp phải áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật

mới vào quá trình sản xuất kinh doanh, tăng cờng công tác quản lý, nâng cao

trình độ tay nghề của công nhân... từ đó làm cho doanh nghiệp ngày càng phát

triển hơn.

2.2. Đối với ngời tiêu dùng

Có cạnh tranh, hàng hoá sẽ có chất lợng ngày càng tốt hơn, mẫu mã

ngày càng đẹp, phong phú đa dạng hơn để đáp ứng các yêu cầu của ngời tiêu

dùng trong xã hội. Vì vậy, đối với ngời tiêu dùng, cạnh tranh có các vai trò

sau:

Ngời tiêu dùng có thể thoải mái, dễ dàng trong việc lựa chọn các sản

phẩm phù hợp với túi tiền và sở thích của mình.

Những lợi ích mà họ thu đợc từ hàng hoá ngày càng đợc nâng cao, thoả

mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của họ nhờ các dịch vụ kèm theo đợc quan

tâm nhiều hơn. Đó chính là những lợi ích mà ngời tiêu dùng có đợc từ việc

nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.

2.3. Đối với nền kinh tế

Cạnh tranh đợc coi nh là linh hồn của nền kinh tế, vai trò của cạnh

tranh đối với nền kinh tế quốc dân thể hiện ở những mặt sau:

Cạnh tranh là môi trờng, là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi

thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trờng, góp phần xoá bỏ những độc

quyền, bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh.

Sinh viên: Lê Quốc Uy

Lớp: Thơng mại 42B



Luận văn tốt nghiệp

tế Quốc dân



Trờng ĐH Kinh



Cạnh tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự

phân công lao động xã hội ngày càng xâu sắc.

Cạnh tranh thúc đẩy sự đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày

càng cao của xã hội, kích thích nhu cầu phát triển, làm nảy sinh những nhu

cầu mới, góp phần nâng cao chất lợng đời sống xã hội và phát triển nền kinh

tế.

Cạnh tranh làm nền kinh tế quốc dân vững mạnh, tạo khả năng cho

doanh nghiệp vơn ra thị trờng nớc ngoài.

Cạnh tranh giúp cho nền kinh tế có nhìn nhận đúng hơn về kinh tế thị

trờng, rút ra đợc những bài học thực tiễn bổ sung vào lý luận kinh tế thị trờng

của nớc ta.

Bên cạnh những tác dụng tích cực, cạnh tranh cũng làm xuất hiện những

hiện tợng tiêu cực nh làm hàng giả, buôn lậu trốn thuế gây nên sự bất ổn

trên thị trờng, làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nớc và của ngời tiêu dùng.

Phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của cạnh

tranh không chỉ là nhiệm vụ của nhà nớc, doanh nghiệp mà là nhiệm vụ chung

của toàn bộ cá nhân.



II. Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị

trờng

1. Khái niệm về cạnh tranh và khả năng của một doanh nghiệp

1.1. Khái niệm về cạnh tranh

Trong cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp - các hoạt động sản xuất

kinh doanh đều đợc chỉ đạo từ trung ơng, từ trên xuống dới. Quan hệ cung cầu

cũng nh tất cả các quy luật của kinh tế thị trờng không đợc tồn tại theo đúng

nghĩa của nó. Quan hệ giữa các đơn vị kinh tế hầu nh không có mâu thuẫn về

lợi ích. Chính vì vậy mà cạnh tranh không có chỗ đứng trong nền kinh tế.

Thời điểm đánh đấu công cuộc đổi mới kinh tế ở nớc ta bắt đầu từ đại

hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986). Từ đây cơ chế quản lý

kinh tế có bớc đổi mới cơ bản, nền kinh tế đã chuyển sang nền kinh tế thị trờng, cạnh tranh xuất hiện. Đặc biệt từ khi nớc ta tham gia hội nhập nền kinh tế

thế giới thì cạnh tranh đợc nhìn nhận theo hớng tích cực hơn. Môi trờng cạnh

tranh đợc mở rộng trên cả thị trờng nội địa và thị trờng quốc tế.

Theo Mác: Cạnh tranh t bản chủ nghĩa (TBCN) là sự ganh đua, sự

đấu tranh gay gắt giữa các nhà t bản nhằm giành giật các điều kiện thuận lợi

trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu đợc lợi nhuận siêu ngạch. Nghiên

Sinh viên: Lê Quốc Uy

Lớp: Thơng mại 42B



Luận văn tốt nghiệp

tế Quốc dân



Trờng ĐH Kinh



cứu sâu về nền sản xuất hàng hoá TBCN và cạnh tranh TBCN, Mác đã phát

hiện ra quy luật cạnh tranh cơ bản là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận

bình quân giữa các ngành.

Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992) ở Anh: Cạnh tranh

trong cơ chế thị trờng đợc định nghĩa là sự ganh đua kình địch giữa các nhà

kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình.

Ngày nay trong nền kinh tế thị trờng cạnh tranh là một điều kiện và là

yếu tố kích thích kinh doanh, là môi trờng động lực thúc đẩy hoạt động sản

xuất kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động tạo sự phát triển của xã

hội nói chung.

Nh vậy cạnh tranh là quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá, là

nội dung cơ chế vận động của thị trờng. Sản xuất hàng hoá càng phát triển,

hàng hoá bán ra càng nhiều, số lợng nhà cung ứng càng đông thì cạnh tranh

càng gay gắt, kết quả cạnh tranh sẽ tự loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém

hiệu quả.

Nh vậy, hiểu theo một nghĩa chung nhất, cạnh tranh là sự ganh đua giữa

các chủ thể kinh doanh trong việc giành giật thị trờng và khách hàng.

1.2. Khái niệm về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà

doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên

thị trờng cạnh tranh, đảm bảo việc thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng

tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực

hiện đợc những mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra.

Nếu một doanh nghiệp tham gia thị trờng mà không có khả năng cạnh

tranh hay khả năng cạnh tranh yếu hơn các đối thủ của nó thì sẽ rất khó khăn

để tồn tại và phát triển đợc, quá trình duy trì sức mạnh của doanh nghiệp phải

là quá trình lâu dài và liên tục. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là cơ sở

để đảm bảo khả năng duy trì lâu dài sức mạnh cạnh tranh đó.

1.3. Các nhân tố tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đợc xác định dựa vào các u thế

cạnh tranh của nó. Ưu thế mạnh đợc hiểu là những đặc tính hoặc những thông

số của sản phẩm nhờ đó sản phẩm có đợc u việt, sự vợt trội hơn so với sản

phẩm của các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Các nhân tố tạo nên khả năng cạnh

tranh của doanh nghiệp bao gồm:



Sinh viên: Lê Quốc Uy

Lớp: Thơng mại 42B



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (94 trang)

×