1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

II. Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (536.22 KB, 94 trang )


Luận văn tốt nghiệp

tế Quốc dân



Trờng ĐH Kinh



cứu sâu về nền sản xuất hàng hoá TBCN và cạnh tranh TBCN, Mác đã phát

hiện ra quy luật cạnh tranh cơ bản là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận

bình quân giữa các ngành.

Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992) ở Anh: Cạnh tranh

trong cơ chế thị trờng đợc định nghĩa là sự ganh đua kình địch giữa các nhà

kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình.

Ngày nay trong nền kinh tế thị trờng cạnh tranh là một điều kiện và là

yếu tố kích thích kinh doanh, là môi trờng động lực thúc đẩy hoạt động sản

xuất kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động tạo sự phát triển của xã

hội nói chung.

Nh vậy cạnh tranh là quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá, là

nội dung cơ chế vận động của thị trờng. Sản xuất hàng hoá càng phát triển,

hàng hoá bán ra càng nhiều, số lợng nhà cung ứng càng đông thì cạnh tranh

càng gay gắt, kết quả cạnh tranh sẽ tự loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém

hiệu quả.

Nh vậy, hiểu theo một nghĩa chung nhất, cạnh tranh là sự ganh đua giữa

các chủ thể kinh doanh trong việc giành giật thị trờng và khách hàng.

1.2. Khái niệm về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà

doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên

thị trờng cạnh tranh, đảm bảo việc thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng

tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực

hiện đợc những mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra.

Nếu một doanh nghiệp tham gia thị trờng mà không có khả năng cạnh

tranh hay khả năng cạnh tranh yếu hơn các đối thủ của nó thì sẽ rất khó khăn

để tồn tại và phát triển đợc, quá trình duy trì sức mạnh của doanh nghiệp phải

là quá trình lâu dài và liên tục. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là cơ sở

để đảm bảo khả năng duy trì lâu dài sức mạnh cạnh tranh đó.

1.3. Các nhân tố tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đợc xác định dựa vào các u thế

cạnh tranh của nó. Ưu thế mạnh đợc hiểu là những đặc tính hoặc những thông

số của sản phẩm nhờ đó sản phẩm có đợc u việt, sự vợt trội hơn so với sản

phẩm của các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Các nhân tố tạo nên khả năng cạnh

tranh của doanh nghiệp bao gồm:



Sinh viên: Lê Quốc Uy

Lớp: Thơng mại 42B



Luận văn tốt nghiệp

tế Quốc dân



Trờng ĐH Kinh



Uy tín: Đánh giá sự tin tởng của khách hàng vào doanh nghiệp, tạo đợc

uy tín tốt đối với khách hàng là cơ sở tạo nên sự quan tâm của khách hàng đến

sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp.

Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu: ảnh hởng đến một loại sản phẩm với

nhãn hiệu cụ thể của doanh nghiệp.

Khả năng thích ứng: Là khả năng thích nghi với sự thay đổi của mô trờng kinh doanh của doanh nghiệp để đảm bảo sự tồn tại và phát triển.

Sự linh hoạt, nhạy bén của những ngời quản lý doanh nghiệp: Sự nhạy

bén của những ngời quản lý doanh nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho doanh

nghiệp nắm bắt đợc các cơ hội sản xuất kinh doanh, cơ hội phát triển trên thị

trờng.

Kinh nghiệm kinh doanh trên thơng trờng: Bao gồm những phơng pháp

chiến thuật, chiến lợc trong kinh doanh. Đây là một tài sản vô hình tạo nên lợi

thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Vị thế của doanh nghiệp trên thơng trờng: Đợc đánh giá trên cơ sở uy

tín, hình ảnh, thị phần Những doanh nghiệp có vị thế cao trên thơng trờng

rất thuận lợi trong cạnh tranh. Những công ty này có khả năng đa dạng hoá

sản phẩm, phát triển thị trờng để nâng cao khả năng cạnh tranh.

Hệ thống đảm bảo nâng cao chất lợng sản phẩm, dịch vụ: Tiêu chuẩn

chất lợng mà doanh nghiệp áp dụng nhằm đảm bảo cho chất lợng sản phẩm

của mình. Qua việc áp dụng các tiêu chuẩn, hệ thống quản lý chất lợng sản

phẩm, dịch vụ làm cho khách hàng tin tởng khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ.

Lợi thế về vốn và chi phí: Đây là một nhân tố rất quan trọng khi sản

phẩm của các doanh nghiệp trên thị trờng là tơng đối đồng nhất thì việc giảm

giá bán là một biện pháp rất có hiệu quả để tăng khả năng cạnh tranh của

doanh nghiệp.

2. Các yếu tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong

nền kinh tế thị trờng

2.1. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp

2.1.1. Nguồn nhân lực

Nhân lực là yếu tố quyết định đến sản xuất kinh doanh, nó bao gồm

một số nội dung chủ yếu sau:

Ban giám đốc doanh nghiệp

Sinh viên: Lê Quốc Uy

Lớp: Thơng mại 42B



Luận văn tốt nghiệp

tế Quốc dân



Trờng ĐH Kinh



Là những cán bộ quản lý ở cấp cao nhất trong doanh nghiệp, những ngời vạch ra chiến lợc, trực tiếp điều hành, tổ chức thực hiện công việc kinh

doanh của doanh nghiệp. Đối với những công ty cổ phần, những tổng công ty

lớn, ngoài ban giám đốc còn có hội đồng quản trị là đại diện cho các chủ sở

hữu doanh nghiệp quyết định phơng hớng kinh doanh của công ty.

Các thành viên của ban giám đốc có ảnh hởng rất lớn đến kết quả hoạt

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu các thành viên có trình độ,

kinh nghiệm và khả năng đánh giá, năng động, có mối quan hệ tốt với bên

ngoài thì họ sẽ đem lại cho doanh nghiệp không chỉ những lợi ích trớc mắt nh:

tăng doanh thu, tăng lợi nhuận mà còn uy tín lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp.

Đây mới là yếu tố quan trọng tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh

nghiệp.

Đội ngũ cán bộ quản lý ở cấp doanh nghiệp

Là những ngời quản lý chủ chốt có kinh nghiệm công tác, phong cách

quản lý, khả năng ra quyết định, khả năng xây dựng ê kíp quản lý và hiểu biết

sâu rộng lĩnh vực kinh doanh sẽ là một lợi thế quan trọng cho doanh nghiệp.

Ngời quản lý làm việc trực tiếp với nhân viên cấp dới, với chuyên viên, vì vậy

trình độ hiểu biết của họ sẽ giúp họ nảy sinh những ý tởng mới, sáng tạo phù

hợp với sự phát triển và trởng thành của doanh nghiệp.

Các cán bộ quản lý ở cấp phân xởng, đốc công và công nhân

Trình độ tay nghề của công nhân và lòng hăng say nhiệt tình làm việc

của họ là yếu tố tác động rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Bởi khi tay nghề cao kết hợp với lòng hăng say nhiệt tình lao động thì nhất định

năng suất lao động sẽ tăng trong khi chất lợng sản phẩm đợc bảo đảm. Đây là

tiền đề để doanh nghiệp có thể tham gia và đứng vững trong cạnh tranh.

Muốn đảm bảo đợc điều này các doanh nghiệp phải tổ chức đào tạo và

đào tạo lại đội ngũ ngời lao động của mình, giáo dục cho họ lòng nhiệt tình

hăng say và tinh thần lao động tập thể.

2.1.2. Nguồn lực vật chất và tài chính

Khả năng tài chính của doanh nghiệp

Quyết định đến việc thực hiện hay không thực hiện bất cứ một hoạt

động đầu t, mua sắm hay phân phối của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có tiềm

lực về tài chính sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc đổi mới công nghệ,

đầu t trang thiết bị, đảm bảo nâng cao chất lợng, hạ giá thành nhằm duy trì và

nâng cao sức mạnh cạnh tranh, củng cố vị trí của mình trên thị trờng.

Sinh viên: Lê Quốc Uy

Lớp: Thơng mại 42B



Luận văn tốt nghiệp

tế Quốc dân



Trờng ĐH Kinh



Máy móc thiết bị và công nghệ

Tình trạng máy móc thiết bị và công nghệ có ảnh hởng một cách sâu

sắc đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nó là yếu tố vật chất quan

trọng bậc nhất thể hiện năng lực sản xuất của mỗi doanh nghiệp và tác động

trực tiếp đến chất lợng sản phẩm, đến giá thành và giá bán sản phẩm.

Có thể khẳng định rằng một doanh nghiệp với một hệ thống máy móc

thiết bị và công nghệ tiên tiến cộng với khả năng quản lý tốt sẽ làm ra sản

phẩm có chất lợng cao, giá thành hạ từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh. Ngợc lại không một doanh nghiệp nào mà đợc coi là có khả năng cạnh tranh cao

trong khi trong tay họ là cả một hệ thống máy móc thiết bị cũ kỹ với công

nghệ sản xuất lạc hậu.

Ngày nay việc trang bị máy móc thiết bị công nghệ có thể đợc thực hiện

dễ dàng, tuy nhiên doanh nghiệp cần phải biết sử dụng với quy mô hợp lý mới

đem lại hiệu quả cao.

Hệ thống mạng lới phân phối của doanh nghiệp

Mạng lới phân phối của doanh nghiệp đợc tổ chức, quản lý và điều hành

một cách hợp lý thì nó sẽ là một phơng tiện có hiệu quả để tiếp cận khách

hàng. Doanh nghiệp thu hút khách hàng bằng cách trinh phục (hình thức mua

bán, thanh toán, vận chuyển) hợp lý nhất.

2.2. Các nhân tố thuộc về môi trờng vĩ mô

2.2.1. Các nhân tố về chính trị pháp luật

Các nhân tố chính trị pháp luật có ảnh hởng mạnh mẽ tới khả năng cạnh

tranh của doanh nghiệp. Nó bao gồm hệ thống luật và các văn bản dới luật,

các công cụ chính sách của nhà nớc, tổ chức bộ máy điều hành của chính phủ

và các tổ chức chính trị xã hội.

Một thể chế chính trị ổn định, luật pháp rõ ràng, rộng mở sẽ là cơ sở

cho việc đảm bảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh

tranh có hiệu quả. Ví dụ các luật thuế có ảnh hởng rất lớn đến cạnh tranh, đảm

bảo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế khác

nhau và trên mọi lĩnh vực; thuế xuất nhập khẩu cũng ảnh hởng đến khả năng

cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất trong nớc.

Các yếu tố cơ bản của môi trờng thành phần này đợc lu ý là:

- Quan điểm, mục tiêu, định hớng phát triển xã hội và nền kinh tế của

Đảng cầm quyền.



Sinh viên: Lê Quốc Uy

Lớp: Thơng mại 42B



Luận văn tốt nghiệp

tế Quốc dân



Trờng ĐH Kinh



- Chơng trình, kế hoạch triển khai thực hiện các quan điểm, mục tiêu

của chính phủ và khả năng điều hành của chính phủ.

- Mức độ ổn định chính trị xã hội

- Thái độ và phản ứng của các tổ chức xã hội, của các nhà phê bình xã

hội.

- Thái độ phản ứng của dân chúng.

2.2.2. Các nhân tố về mặt kinh tế

Các nhân tố ảnh hởng chủ yếu là:

Tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng tiền trong nớc

Nhân tố này có tác động nhanh chóng và sâu sắc đối với từng quốc gia

nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng nhất là trong điều kiện trong nền

kinh tế mở. Nếu đồng nội tệ lên, giá cả của doanh nghiệp trong nớc giảm, khả

năng cạnh tranh ở nớc ngoài kém, khi đó giá bán của hàng hoá tính bằng đồng

ngoại tệ sẽ cao hơn của các đối thủ cạnh tranh. Hơn nữa, khi đồng nội tệ lên

giá khuyến khích nhập khẩu vì giá cả hàng nhập khẩu sẽ giảm và nh vậy khả

năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nớc sẽ bị giảm ngay trên thị trờng

trong nớc. Ngợc lại khi đồng nội tệ giảm giá, khả năng cạnh tranh của các

doanh nghiệp tăng cả trên thị trờng trong nớc và thị trờng nớc ngoài vì khi đó

giá bán hàng hoá sẽ giảm hơn so với các đối thủ cạnh tranh kinh doanh hàng

hoá do nớc khác sản xuất.

Tốc độ tăng trởng

Tốc độ tăng trởng cao làm cho thu nhập của dân c tăng, khả năng thanh

toán của họ tăng dẫn đến sức mua tăng. Đây là cơ hội tốt cho các nhà doanh

nghiệp, nếu nhà doanh nghiệp nào nắm bắt đợc điều này và có khả năng đáp

ứng đợc nhu cầu khách hàng (về mặt số lợng, giá bán, chất lợng, mẫu mã) thì

chắc chắn doanh nghiệp đó sẽ thành công và có khả năng cạnh tranh cao.

Lãi suất cho vay của các ngân hàng

Nhân tố này cũng có ảnh hởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của

doanh nghiệp bởi vì vốn vay trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp là không thể

thiếu. Khi lãi suất cho vay của ngân hàng cao dẫn đến chi phí của các doanh

nghiệp tăng lên do phải trả tiền vay lớn hơn, khả năng cạnh tranh của doanh

nghiệp kém đi nhất là khi các đối thủ cạnh tranh có tiềm lực mạnh về vốn.

2.2.3. Môi trờng kinh tế và công nghệ



Sinh viên: Lê Quốc Uy

Lớp: Thơng mại 42B



Luận văn tốt nghiệp

tế Quốc dân



Trờng ĐH Kinh



Nhóm các yếu tố này ngày càng quan trọng và có ý nghĩa quyết định

đến môi trờng cạnh tranh, tác động một cách quyết định đến hai yếu tố cơ bản

nhất tạo nên khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trờng đó là chất lợng

và giá bán. Khoa học công nghệ tác động đến chi phí cá biệt của các doanh

nghiệp, qua đó tạo nên khả năng cạnh tranh của sản phẩm nói riêng và khả

năng cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung. Hiện nay trên thế giới đã

chuyển từ cạnh tranh về giá sang cạnh tranh về chất lợng, cạnh tranh giữa các

sản phẩm và dịch vụ có hàm lợng khoa học công nghệ cao.

Kỹ thuật và công nghệ mới sẽ giúp các cơ sở sản xuất trong nớc tạo ra

đợc những thế hệ kỹ thuật và công nghệ tiếp theo nhằm trang bị và tái trang bị

toàn bộ cơ sở sản xuất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân, đây là tiền đề để các

doanh nghiệp ổn định và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.

Các yếu tố quan trọng của môi trờng này bao gồm:

Tiềm năng của nền kinh tế: Là một yếu tố tổng quát phản ánh nguồn lực

có thể huy động và chất lợng của nó. Bao gồm: tài nguyên con ngời, vị trí địa

lý, dự trữ quốc gia

Hoạt động ngoại thơng, xu hớng đóng mở của nền kinh tế: Tác động

mạnh mẽ đến các cơ hội phát triển của doanh nghiệp, các điều kiện của cạnh

tranh, khả năng sử dụng u thế quốc gia và thế giới về công nghệ, nguồn vốn,

hàng hoá, mở rộng quy mô hoạt động.

Hệ thống thuế, mức độ hoàn thiện và thực thi: Liên quan đến sự công

bằng trong cạnh tranh, thể hiện u thế phát triển trong nền kinh tế và cần đợc

xem xét khi đánh giá cơ hội kinh doanh.

Trình độ trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ của ngành, của nền kinh tế

ảnh hởng đến khả năng sản xuất sản phẩm với các cấp chất lợng, năng suất lao

động, khả năng cạnh tranh.

Khả năng nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nền

kinh tế: Phản ánh tiềm năng phát triển và đổi mới công nghệ sản xuất, công

nghệ quản lýliên quan đến đổi mới sản phẩm, chu kỳ sống của sản phẩm,

khả năng cạnh tranh có tính tiên phong.

2.2.4. Môi trờng cạnh tranh

Cạnh tranh đợc xác định là động lực thúc đẩy sự phát triển của nề kinh

tế thị trờng với nguyên tắc ai hoàn thiện hơn, ai thoả mãn tốt hơn nhu cầu,

hiệu quả tốt hơn thì ngời đó sẽ thắng, tồn tại và phát triển. Duy trì cạnh tranh

bình đẳng và đúng pháp luật là nhiệm vụ của chính phủ. Trong điều kiện đó

Sinh viên: Lê Quốc Uy

Lớp: Thơng mại 42B



Luận văn tốt nghiệp

tế Quốc dân



Trờng ĐH Kinh



vừa mở ra các cơ hội để doanh nghiệp kiến tạo hoạt động của mình vừa yêu

cầu các doanh nghiệp phải luôn vơn lên phía trớc vợt qua đối thủ. Điều kiện

để cạnh tranh và các thành phần tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh

để vợt lên phía trớc tạo ra môi trờng cạnh tranh trong nền kinh tế. Các

doanh nghiệp cần xác định cho mình một chiến lợc cạnh tranh hoàn hảo.

Chiến lợc cạnh tranh cần phản ánh đợc các yếu tố ảnh hởng của môi trờng

cạnh tranh bao quanh doanh nghiệp.

Các nhân tố của môi trờng cạnh tranh bao gồm:

o Điều kiện chung về cạnh tranh trên thị trờng

Các quan điểm khuyến khích hay hạn chế cạnh tranh, vai trò và khả

năng của chính phủ trong việc điều khiển cạnh tranh, các quy định về cạnh

tranh và ảnh hởng của nó trong thực tiễn sản xuất kinh doanh có liên quan

đến quá trình đánh giá cơ hội kinh doanh và lựa chọn giải pháp cạnh tranh.

o Số lợng đối thủ

Số lợng đối thủ cạnh tranh bao gồm:

+ Các đối thủ cạnh tranh sơ cấp: Cùng tiêu thụ một loại sản phẩm đồng nhất

+ Các đối thủ cạnh tranh thứ cấp: sản xuất và tiêu thụ những sản phẩm

có khả năng thay thế.

Đây là cơ sở để xác định mức độ khốc liệt của cạnh tranh trên thị trờng

thông qua đánh giá trạng thái cạnh tranh của thị trờng mà doanh nghiệp tham

gia.

Có 4 trạng thái cạnh tranh cơ bản của thị trờng đó là:

- Trạng thái thị trờng cạnh tranh thuần tuý

Có rất nhiều đối thủ có quy mô nhỏ và có sản phẩm đồng nhất. Doanh

nghiệp định giá theo giá thị trờng và không có khả năng tự đặt giá.

- Thị trờng cạnh tranh hỗn tạp

Có một số đối thủ có quy mô lớn hơn so với quy mô của thị trờng đa ra

bán sản phẩm đồng nhất cơ bản. Giá đợc xác định theo giá thị trờng, đôi khi

có thể có khả năng điều chỉnh giá của doanh nghiệp.

- Thị trờng cạnh tranh độc quyền

Có một số ít đối thủ có quy mô lớn đa ra bán các sản phẩm khác nhau.

Doanh nghiệp có khả năng tự điều chỉnh giá nhng không hoàn toàn tuỳ ý mình

bởi tuy cố gắng kiểm soát độc một thị trờng nhỏ song có khả năng thay thế.

- Thị trờng độc quyền

Sinh viên: Lê Quốc Uy

Lớp: Thơng mại 42B



Luận văn tốt nghiệp

tế Quốc dân



Trờng ĐH Kinh



Chỉ có một doanh nghiệp đa ra bán sản phẩm trên thị trờng, không có

đối thủ cạnh tranh, hoàn toàn có quyền đặt giá.

o Điểm mạnh, điểm yếu của các đối thủ cạnh tranh

Liên quan đến sức mạnh cụ thể của từng đối thủ trên thị trờng: Quy mô,

thị phần, tiềm lực tài chính, kỹ thuật công nghệ, tổ chức quản lý, lợi thế cạnh

tranh qua đó xác định đợc vị thế của đối thủ cạnh tranh trên thị trờng.

o Chiến lợc sản xuất kinh doanh của các đôi thủ

Liên quan đến mục tiêu, giải pháp cách thức cạnh tranh của từng doanh

nghiệp trên thị trờng, mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn chiến lợc kinh doanh

đợc xây dựng theo vị thế của doanh nghiệp trên thị trờng.

2.2.5. Các nhân tố tự nhiên

Các nhân tố tự nhiên bao gồm tài nguyên thiên nhiên của đất nớc, vị trí

địa lý, phân bố địa lý của các tổ chức kinh doanh. Các nhân tố này tạo ra

những điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn ban đầu cho quá trình kinh doanh

của doanh nghiệp. Nếu tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lý thuận

lợi sẽ giúp cho các doanh nghiệp tiết kiệm đợc các chi phí (nguyên vật liệu,

chi phí vận chuyển) do đó tăng khả năng cạnh tranh. Hơn nữa vị trí địa lý

thuận lợi tạo điều kiện cho doanh nghiệp khuyếch trơng sản phẩm, mở rộng

thị trờng. Ngợc lại những nhân tố tự nhiên không thuận lợi sẽ tạo ra khó khăn

ban đầu cho doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp tất sẽ bị

thuyên giảm.

2.3. Các nhân tố thuộc môi trờng ngành

Môi trờng ngành (môi trờng tác nghiệp) là môi trờng phức tạp nhất và

cũng ảnh hởng nhiều nhất đến cạnh tranh. Sự thay đổi có thể diễn ra thờng

xuyên và khó sự báo chính xác đợc, khác với môi trờng vĩ mô, môi trờng

ngành không đợc tổng hợp từ những quy định, quy luật mà nó đậm tính thời

điểm nhất định.

Micheal Porter đã đa ra khái niêm cạnh tranh mở rộng, theo đó cạnh

tranh trong một ngành phụ thuộc vào 5 lực lợng: Các đối thủ tiềm năng, sản

phẩm thay thế, ngời cung ứng, khách hàng và những đối thủ cạnh tranh hiện

tại trong ngành. Bốn lực lợng đầu đợc xem nh là các lực lợng bên ngoài và

cuộc cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh trong một ngành đợc xem là cạnh

tranh quyết liệt nhất.

Sơ đồ 1: Các lực lợng điều khiển cuộc cạnh tranh trong ngành

Các đối thủ tiềm năng



Sinh viên: Lê Quốc Uy

Lớp: Thơng mại 42B



Luận văn tốt nghiệp

tế Quốc dân



Ngời

cung

ứng



Quyền lực

thơng lợng



Trờng ĐH Kinh



Nguy cơ đe dọa từ những ngời

mới vào cuộc

Quyền lực

Các đối thủ cạnh tranh trong ngành

thơng lợng



của ngời

Cuộc cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại

cung ứng

Nguy cơ đe doạ từ các sản phẩm

thay thế



của

ngời mua



Ngời

mua

(khách

hàng)



Sản phẩm thay thế



Năm lực lợng cạnh tranh này kết hợp với nhau xác định cờng độ cạnh

tranh và mức lợi nhuận ngành. Lực lợng nào mạnh nhất sẽ thống trị và trở

thành trọng yếu theo quan điểm xây dựng chiến lợc.

2.3.1. Các đối thủ tiềm năng

Việc gia nhập thị trờng của các doanh nghiệp mới trực tiếp làm giảm

tính chất quy mô cạnh tranh do tăng năng lực sản xuất và khối lợng sản xuất

trong ngành. Sự xuất hiện của các đối thủ mới có khả năng gây ra những cú

sốc mạnh cho các doanh nghiệp hiện tại vì thông thờng những ngời đi sau thờng có nhiều căn cứ cho việc ra quyết định và những chiêu bài của họ thờng

có tính bất ngờ.

Đối thủ tiềm năng là những ngời mà ý tởng nhảy vào cuộc của họ đợc

hình thành trong quá trình theo dõi, chứng kiến, phân tích và đi đến những

nhận định cuộc cạnh tranh hiện đại. Tính không hiện diện nh là một bức bình

phong che chắn cho hớng suy tính và hành động của đối thủ tiềm năng.

Để chống lại các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, các doanh nghiệp thờng

thực hiện các chiến lợc phân biệt sản phẩm, nâng cao chất lợng, bổ sung thêm

những đặc điểm mới của sản phẩm, không ngừng cải tiến, hoàn thiện sản

phẩm nhằm làm cho sản phẩm của mình có những đặc điểm khác biệt hoặc

nổi trội trên thị trờng, hoặc phấn đấu giảm chi phí sản xuất, tiêu thụ.

2.3.2. Sức ép của ngời cung ứng

Với vai trò là ngời cung cấp các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất,

quyền lực của nhà cung ứng đợc thể hiện thông qua sức ép về giá nguyên vật

liệu. Một số những đặc điểm sau của nhà cung ứng có ảnh hởng rất lớn đến

cuộc cạnh tranh trong ngành:

Sinh viên: Lê Quốc Uy

Lớp: Thơng mại 42B



Luận văn tốt nghiệp

tế Quốc dân



Trờng ĐH Kinh



- Số lợng ngời cung ứng: Thể hiện mức cung nguyên vật liệu và mức độ

lựa chọn nhà cung ứng của các doanh nghiệp cao hay thấp. Nhiều nhà cung

ứng tạo ra sự cạnh tranh trên thị trờng nguyên vật liệu, nó có tác dụng làm

giảm chi phí đầu vào cho các nhà sản xuất.

- Tính độc quyền của nhà cung ứng: Tạo ra cho họ những điều kiện để ép

giá các nhà sản xuất, gây ra những khó khăn trong việc cạnh tranh bằng giá cả.

- Mối liên hệ giữa các nhà cung ứng và nhà sản xuất: Khi mà cung ứng

đồng thời là một đơn vị sản xuất kinh doanh trong cùng một tổ chức với nhà

sản xuất thì tính liên kết nội bộ đợc phát huy tạo cho các nhà sản xuất có điều

kiện thực hiện cạnh tranh bằng giá.

Để giảm bớt các ảnh hởng xấu từ phía các nhà cung ứng, các doanh

nghiệp cần phải có mối quan hệ tốt với họ, hoặc mua của nhiều ngời trong đó

chọn ra ngời cung cấp chính đồng thời tích cực nghiên cứu tìm nguyên vật liệu

thay thế, dự trữ nguyên vật liệu hợp lý.

2.3.3. Sức ép của ngời mua

Ngời mua tranh đua với ngành bằng cách bắt ép giá giảm xuống, mặc

cả để có chất lợng tốt hơn và đợc phục vụ nhiều hơn đồng thời còn làm cho

các đối thủ chống lại nhau. Tất cả đều làm tổn hao mức lợi nhuận của ngành

nói chung và của doanh nghiệp nói riêng. Quyền lực của mỗi nhóm khách

hàng của doanh nghiệp phụ thuộc vào một loạt các đặc điểm về tình hình thị

trờng của nhóm và tầm quan trọng của các hàng hoá mà khách hàng mua của

doanh nghiệp. Nhóm khách hàng là mạnh nếu có các điều kiện sau:

- Nhóm tập trung hoặc mua với khối lợng hàng hoá lớn so với lợng bán ra

của ngời bán.

- Những hàng hoá mà nhóm mua của ngành chiếm một tỷ lệ đáng kể

quan trọng trong các chi phí hoặc trong số hàng hoá phải mua của nhóm.

Khách hàng sẽ có xu hớng chi tiêu hợp lý các nguồn lực dùng để mua hàng

của mình, đặc biệt về lý do giá cả mà sẽ mua một cách có chọn lựa.

- Những sản phẩm mà nhóm mua của doanh nghiệp là theo đúng tiêu

chuẩn phổ biến và không có gì khác biệt. Ngời mua chắc chắn có thể tìm đợc

nhà cung cấp khác và sẽ có khả năng đẩy doanh nghiệp này chống lại doanh

nghiệp khác.

- Nhóm chỉ kiếm đợc mức lợi nhuận thấp: Lợi nhuận thúc đẩy hạ thấp chi

phí mua hàng. Còn đối với nhóm khách hàng có lợi nhuận cao nhìn chung ít

Sinh viên: Lê Quốc Uy

Lớp: Thơng mại 42B



Luận văn tốt nghiệp

tế Quốc dân



Trờng ĐH Kinh



để ý đến giá cả hơn (tất nhiên trong điều kiện hàng hoá đó không chiếm tỷ

trọng lớn trong tổng chi phí)

2.3.4. Sự xuất hiện của các sản phẩm thay thế

Sự ra đời của các sản phẩm thay thế là một tất yếu nhằm đáp ứng sự

biến động của nhu cầu thị trờng theo hớng ngày càng đa dạng hơn, phong phú

và cao cấp hơn và chính đó lại làm giảm khả năng cạnh tranh của các sản

phẩm thay thế.

Các sản phẩm đợc thay thế đáng quan tâm nhất là: Những sản phẩm

thuộc về xu thế cải thiện việc đánh đổi tình hình giá cả của chung lấy của

ngành và hai là do ngành có lợi nhuận cao. Trong trờng hợp sau, các sản phẩm

thay thế sẽ ồ ạt nhảy vào cuộc nếu sự phát triển trong bản thân ngành do làm

tăng cờng độ cạnh tranh trong nội bộ ngành và đòi hỏi giảm giá hoặc cải thiện

tình hình hoạt động.

Sản phẩm thay thế thờng có sức cạnh tranh cao hơn do đợc sản xuất

trên những dây truyền sản xuất tiên tiến hơn. Mặc dù phải chịu sự chống trả

của các sản phẩm bị thay thế nhng các sản phẩm thay thế có nhiều u thế hơn,

do đó sẽ dần dần thu hẹp thị trờng của các sản phẩm bị thay thế (đặc biệt là

các sản phẩm mà nhu cầu thị trờng xã hội bị chặn). Sản phẩm thay thế phát

triển sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm bị thay thế. Cách khắc

phục của doanh nghiệp này là hớng tới sản phẩm mới hay các khách hàng tìm

kiếm độ thoả dụng mới.

2.3.5. Sức ép của các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành

Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành là một trong

những yếu tố phản ánh bản chất của môi trờng này. Sự có mặt của các đối thủ

cạnh tranh chính trên thị trờng và tình hình hoạt động của chúng là lực lợng

tác động trực tiếp mạnh mẽ, tức thì tới quá trình hoạt động của các doanh

nghiệp. Trong một ngành bao giờ cũng gồm nhiều doanh nghiệp khác nhau,

nhng thờng trong đó chỉ có một số đóng vai trò chủ chốt nh những đối thủ

cạnh tranh chính có khả năng chi phối khống chế thị trờng.

Các ngành mà có một hoặc một vài doanh nghiệp thống lĩnh thị trờng

thì cờng độ cạnh tranh ít hơn bởi doanh nghiệp thống lĩnh đóng vai trò chỉ đạo

giá. Trong trờng hợp này nếu doanh nghiệp không phải là ngời thống lĩnh thì

khả năng cạnh tranh rất kém cỏi. Nhng nếu ngành mà chỉ bao gồm một số

doanh nghiệp và các doanh nghiệp này lại có quy mô, thế lực tơng đơng nhau

thì cờng độ cạnh tranh sẽ cao để giành vị trí thống lĩnh. Khi đó khả năng cạnh

tranh của doanh nghiệp hoặc là cao hơn (khi nó có lợi thế về giá cả, chất lợng

Sinh viên: Lê Quốc Uy

Lớp: Thơng mại 42B



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (94 trang)

×