1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế và bước đầu đã hoà nhập được với nền kinh tế thế giới. Sau một loạt những sự kiện quan trọng trong hợp tác phát triển như bình thường hoá quan hệ với Mỹ, gia nhập ASEAN, ký kết h

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (573.58 KB, 134 trang )


thuế nhập khẩu trung bình đối với các mặt hàng gạo của các thị trờng này

cao hơn rất nhiều so với Mỹ, nên khi Hiệp định Thơng mại đợc thi hành thì

xuất khẩu gạo Việt Nam sang thị trờng Mỹ sẽ có cơ hội tăng đáng kể. Giá trị

xuất khẩu gạo trên đầu ngời của Việt Nam vẫn còn thấp so với Thái Lan và

khả năng sản xuất vẫn còn mạnh, do đó tiềm năng xuất khẩu gạo của Việt

Nam vào thị trờng Mỹ còn rất lớn.

* Cơ hội

Tác động của hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ đến xuất khẩu gạo của

Việt Nam có thể thông qua các hớng sau:

- Thứ nhất, việc giảm hàng rào thuế quan và tiến tới loại bỏ các hàng

rào phi thuế quan của cả Mỹ và Việt Nam sẽ tạo điều kiện cho gạo tiếp cận

thị trờng dễ dàng hơn và do đó sẽ thúc đẩy thơng mại hai chiều.

- Thứ hai, khả năng tiếp cận thị trờng Mỹ dễ dàng hơn, cùng với những

điều kiện u đãi về đầu t vào sản xuất gạo sẽ làm tăng đầu t của Mỹ và các nớc khác vào ngành này của Việt Nam để xuất khẩu sang thị trờng Mỹ.

- Thứ ba, Hiệp định Thơng mại sẽ tạo điều kiện cho xuất khẩu gạo Việt

Nam phát triển hơn nữa theo chiến lợc mới: tăng khả năng cạnh tranh của

gạo Việt Nam, hình thành nền sản xuất hành hoá mạnh, giúp cho gạo Việt

Nam thay đổi cơ cấu theo hớng phát huy lợi thế so sánh trong thơng mại

quốc tế (trớc hết là đối với Mỹ), tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế

trong và ngoài nớc tham gia rộng rãi hơn vào các hoạt động sản xuất, kinh

doanh cũng nh xuất khẩu gạo.

* Thách thức

Bên cạnh những lợi ích tạo ra, việc thực thi Hiệp định Việt - Mỹ cũng

đem lại những thách thức lớn đối với Việt Nam. Các doanh nghiệp xuất khẩu

gạo trớc đây đợc hởng lợi từ sự bảo hộ của một nền kinh tế đóng thì nay sẽ

gặp nhiều khó khăn. Những thách thức mà các doanh nghiệp Việt Nam phải

đối mặt gồm có:

87



- Thứ nhất, Hiệp định Thơng mại Việt Mỹ sẽ mở cửa cho gạo của

Mỹ vào thị trờng Việt Nam. Đây không phải là lo lắng hàng đầu vì khả năng

tiêu dùng gạo Mỹ sẽ không nhiều, do giá cao và chỉ phù hợp với một bộ phận

nhỏ dân c cu trú tại các đô thị lớn. Tuy nhiên, số lợng các doanh nghiệp Mỹ

và các nớc khác đầu t vào thị trờng Việt Nam sẽ tăng lên nhằm xuất khẩu

gạo sang thị trờng Mỹ hay khai thác thị trờng nội địa, do đó sẽ gây áp lực tới

các doanh nghiệp sản xuất lúa gạo trong nớc. Nhà nớc ta đã cho phép các

doanh nghiệp có vốn đầu t xuất khẩu gạo nên các doanh nghiệp của Mỹ cũng

có thể tham gia. Nếu không có những chuẩn bị cần thiết thì các doanh nghiệp

trong nớc đặc biệt là các doanh nghiệp quốc doanh sẽ gặp phải nhiều khó

khăn trong cạnh tranh.

- Thứ hai, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo sẽ phải đối mặt với sự canh

tranh của các đối thủ trên thị trờng Mỹ. Chúng ta đã biết rằng Mỹ là một nớc xuất khẩu gạo lớn trên thế giới nên khi gạo Việt Nam thâm nhập vào Mỹ

sẽ vấp phải những rào cản về số lợng và chất lợng gạo của Mỹ. Hơn thế nữa,

mặc dù các doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiếp cận dễ dàng hơn với thị trờng Mỹ

so với trớc đây nhng lại có sự cạnh tranh gay gắt từ các nớc xuất khẩu gạo

truyền thống nh Thái Lan, nớc đã có chỗ đứng trên thị trờng Mỹ từ lâu hoặc

Trung Quốc, quốc gia đã ký Hiệp định với Mỹ năm 1999 và vừa gia nhập

WTO cũng sẽ là thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam.

- Thứ ba, muốn xuất khẩu gạo Việt Nam sang Mỹ, các doanh nghiệp

phải tìm hiểu những quy định về thơng mại và hải quan vốn rất phức tạp của

Mỹ. Luật pháp Mỹ quy định tất cả mọi vấn đề có liên quan đến việc nhập

khẩu hàng hoá từ nớc ngoài vào đều thuộc thẩm quyền của Chính phủ liên

bang. Bộ Thơng mại, văn phòng đại diện thơng mại, uỷ ban thơng mại quốc

tế và cụ thể nhất là Hải quan Mỹ là những cơ quan có trách nhiệm đối với

vấn đề này. Ngoài các thủ tục hải quan còn có các quy định thơng mại liên



88



quan đến luật nh chống độc quyền, chống bán phá giá trách nhiệm sản

phẩm, thơng mại thống nhất...

2.3.3.2. Tham gia khu vực tự do thơng mại ASEAN (AFTA)

Tham gia khu vực tự do thơng mại ASEAN là bớc khởi động đầu tiên,

có ý nghĩa đối với quyết định đối với quá trình hội nhập kinh tế khu vực và

toàn cầu của nền kinh tế Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam

nói riêng. Theo lộ trình gia nhập AFTA thì từ nay đến năm 2006, Việt Nam

phải từng bớc cắt giảm thuế xuống đối với các mặt hàng. Khi đó sự bảo hộ

thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hoá sản xuất trong nớc sẽ không còn

tác dụng, câu hỏi đặt ra là liệu gạo Việt Nam có thể cạnh tranh với gạo các

nớc khác tại thị trờng trong nớc lẫn thị trờng ASEAN đợc không?

Đối với sản xuất và xuất khẩu gạo, ảnh hởng lớn nhất trong bối cảnh

quốc tế hiện nay sẽ là quá trình tự do hoá thơng mại trong khuôn khổ AFTA

của Việt Nam và tác động của cắt giảm thuế quan, phi thuế quan tới khả

năng cạnh tranh của ngành gạo xuất khẩu. Sự tăng trởng sản xuất và xuất

khẩu gạo Việt Nam trong những năm qua cho thấy thế mạnh và tiềm năng có

thể tham gia vào thị trờng thế giới và khu vực các nớc ASEAN, kể cả các

trong các điều kiện thơng mại quốc tế có sự tự do hoá. Vì gạo là một mặt

hàng thiết yếu đối với nhu cầu tiêu dùng, đặc biệt là các nớc trong khu vực,

các đối thủ cạnh tranh trong xuất khẩu gạo của Việt Nam không nhiều, chủ

yếu là Thái Lan và một số nớc xuất khẩu tiềm năng có tác động tích cực đến

ngành sản xuất lúa gạo và ngành công nghiệp xay xát của nớc ta.

Khi Việt Nam thực hiện AFTA, thuế nhập khẩu hàng hoá vào nớc ta sẽ

giảm xuống đáng kể (5%). Trong trờng hợp thơng mại hoá hoàn toàn, gạo

Thái Lan nhập khẩu vào Việt Nam có thuế xuất bằng 0%. Tuy vậy, gạo Thái

Lan cũng không có khả năng chiếm lĩnh phần lớn thị trờng của Việt Nam do:

* Thứ nhất, gạo Thái Lan là mặt hàng có chất lợng cao nên giá cao. Khi

xâm nhập vào Việt Nam, gạo Thái Lan chỉ có thể tiêu thụ ở những khu vực

89



có mức sống và thu nhập của ngời dân cao nh ở các đô thị, khách sạn, nhà

hàng... Hiện nay trong các siêu thị Việt Nam đã có bán nhiều gạo Thái Lan

song doanh số không cao do ngời dân thành thị vẫn cha tiêu dùng loại gạo

mới này. ở các khu vực nông thôn, nơi có mức thu nhập thấp, giá gạo cao

không phù hợp với khả năng và nhu cầu của ngời dân. Khu vực này chiếm tới

80% dân số của cả nớc nên khả năng gạo Thái Lan chiếm lĩnh thị trờng là

gần nh khó có thể xảy ra. Nhìn chung, kể cả khi vào AFTA, Việt Nam vẫn

có lợi thế so sánh về sản xuất gạo hơn so với Thái Lan.

* Thứ hai, nh đã đề cập, những năm gần đây, sản lợng lơng thực đặc

biệt là lúa gạo của Việt Nam tăng dù bị ảnh hởng của thiên tai, đặc biệt là

bão lũ ở hai vùng đồng bằng sản xuất lúa chính. Khi vào thị trờng Việt Nam,

gạo Thái Lan chỉ có thể phát huy lợi thế một cách tối đa trong trờng hợp

cung gạo Việt Nam không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nớc. Tuy

nhiên, khả năng thiếu lơng thực trong những năm tới là không thể xảy ra, vì

sản xuất lúa đợc đảm bảo, diễn ra trên địa bàn khá rộng, nếu có mất mùa

cũng chỉ là cục bộ, không ảnh hởng lớn đến thu hoạch của cả nớc. Bên cạnh

đó, tính bền vững trong sản xuất lúa rất cao khi chúng ta đã đảm bảo đợc an

toàn lơng thực một cách vững chắc.

* Thứ ba, tác động trong ngân sách. Trong những năm tới khi tham gia

vào AFTA, chúng ta sẽ nhập khẩu gạo chất lợng từ Thái Lan để phục vụ nhu

cầu gạo của các tầng lớp dân c có mức sống cao. Vì khối lợng nhập loại gạo

này sẽ không nhiều do đặc tính tiêu dùng của ngời dân Việt Nam nên việc

cắt giảm thuế sẽ không ảnh hởng đến nguồn thu ngân sách. Hiện nay, chúng

ta đang tiến hành đặt lịch trình giảm thuế khẩn trơng đã chuẩn bị cho các bớc

thực hiện AFTA.

Qua các nguyên nhân trên, có thể khẳng định lịch trình cắt giảm thuế

quan nhập khẩu đối với mặt hàng gạo Việt Nam có sức cạnh tranh trên thị trờng khu vực ASEAN. Quá trình thực hiện AFTA sẽ giúp Việt Nam hạn chế

90



đợc sự bảo hộ gạo ở các nớc nhập khẩu gạo Việt Nam nh Inđônêxia,

Philippin, Malaixia. Việt Nam có thể cạnh tranh với Thái Lan trên thị trờng

này do yếu tố giá thấp hơn và chất lợng gạo đang dần đợc cải tiến. Mặt khác,

chúng ta đang áp dụng một cơ chế khuyến khích bảo hộ xuất khẩu, hạ thuế

suất xuống 0% khi giá quốc tế giảm để các doanh nghiệp duy trì xuất khẩu,

lúc bình thờng để 1% và khi giá gạo trên thị trờng thế giới tăng mạnh thì

thuế suất đợc điều chỉnh lên 3% để vừa tăng thu ngân sách quốc gia và hạn

chế việc xuất khẩu quá mức có thể làm ảnh hởng xấu đến tình hình cân đối

lúa gạo trong nớc. Việc giảm miễn thuế cũng đợc áp dụng cho từng nhóm

hàng, nh đầu năm 1996 thuế suất xuất khẩu gạo là 3%, đến giữa năm do gạo

cấp thấp chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu nguồn hàng và có nguy cơ bị ứ đọng

nhiều nên Chính phủ đã miễn hoàn toàn thuế suất với loại gạo 25% tấm trở

lên trong khi vẫn giữ mức thuế suất 1% đối với loại gạo 5-20% tấm.

Những nhận định trên cho thấy, việc dỡ bỏ hàng rào thuế quan là cơ hội

tốt cho sản xuất lúa gạo Việt Nam tăng thêm sức cạnh tranh trên thị trờng.

Chính vì vậy, ta có thể khẳng định việc Việt Nam thực hiện AFTA nói chung

và tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế nh APEC, WTO trong thời gian tới là

những cơ hội lớn đối với việc phát triển và đẩy mạnh xuất khẩu gạo Việt

Nam. Chúng ta phải tận dụng những thuận lợi khách quan từ bên ngoài, phát

huy tối đa nội lực quốc gia để tạo đà cho ngành sản xuất và xuất khẩu gạo

ngày càng có những kết quả to lớn hơn nữa.



91



Chơng 3. Chiến lợc đẩy mạnh xuất khẩu gạo.

3.1. Định hớng và mục tiêu của sản xuất và xuất khẩu gạo.

3.1.1. Mục tiêu và định hớng sản xuất lúa gạo.

3.1.1.1. Mục tiêu

Sản xuất lơng thực nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng luôn là

ngành quan trọng bậc nhất của nông nghiệp nhằm thực hiện ba mục tiêu cơ

bản mà Đảng và Chính phủ đã vạch ra:

* Thứ nhất: Bảo đảm vững chắc và an toàn lơng thực quốc gia, tăng thêm

khối lợng dự trữ, thoả mãn nhu cầu lơng thực cho tiêu dùng trong bất cứ tình

huống nào.

* Thứ hai: Bảo đảm đủ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.

* Thứ ba: Tăng khối lợng xuất khẩu với hiệu quả cao.

Ba mục tiêu trên khẳng định sự cần thiết của ngành sản xuất lúa gạo là

phải bảo đảm an ninh lơng thực, vấn đề có tính quan trọng hàng đầu đối với

sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, đặc biệt với một nớc nông nghiệp

nh Việt Nam. Nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu cũng là

mục tiêu hớng tới, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi chúng ta có thể khẳng

định rằng đã và đang thực hiện tốt vấn đề an toàn lơng thực trên phạm vi toàn

quốc.

Phát triển ngành sản xuất lúa gạo thờng liên quan tới nhiều thành phần

khác nh nghiên cứu, triển khai, các yếu tố sản xuất (hệ sinh thái, luật pháp,

nhân công, vị trí địa lý, các yếu tố đầu vào và tài chính) và các yếu tố để thơng mại hóa sản phẩm (thị trờng tiêu thụ, hệ thống kho chứa, các phơng tiện

vận chuyển...). Những thay đổi lớn của Việt Nam trong những năm gần đây

đã có tác động trực tiếp tới sản xuất lúa của cả hai vùng đồng bằng sông

Hồng và sông Cửu Long đợc thể hiện trên 3 khía cạnh sau:



92



* Một là quá trình tự do hoá kinh tế đang tiến triển và ngày càng sâu sắc

của nền kinh tế Việt Nam. Hiện nay gần nh không còn những kiểm soát chặt

chẽ của Nhà nớc vì giá gạo sản xuất và các yếu tố đầu vào. Trên thị trờng

gạo, việc cân hàng và chuyển gạo từ vùng thừa gạo sang các khu vực thiếu

hụt cũng không gặp nhiều vớng mắc đáng kể. Năm 2001, Chính phủ bỏ đầu

mối xuất khẩu và hạn ngạch càng thể hiện việc giảm nhẹ những kiểm soát

gắt gao quá trình tự do thơng mại, tạo thế chủ động cho các nhà xuất khẩu.

* Hai là, sức tăng trởng nhanh của nền kinh tế Việt Nam. Sản phẩm

quốc nội và các chỉ tiêu khác về phát triển không ngừng tăng trong những

năm qua. Mức tăng trởng bao gồm cả sản xuất nông nghiệp (trung bình

5,8%/năm kể từ những năm đầu thập kỷ 90), nhanh hơn khu vực công công

nghiệp và dịch vụ.

* Ba là, việc sử dụng đất trồng và nhân công bị hạn chế do những vấn

đề về nhân khẩu học. Việc tăng dân số không ngừng dẫn tới phải giảm đáng

kể diện tích đất trồng do mở rộng làng xã, xây dựng cơ sở hạ tầng và đô thị

hoá.

3.1.1.2. Định hớng

Xuất phát từ thực trạng và mục tiêu trên, chúng ta cần lu ý phát triển

sản xuất lúa gạo theo một số định hớng sau đây:

* Thứ nhất: tăng cờng thâm canh tăng năng suất lúa gạo, kết hợp khai

hoang, tăng vụ ở những nơi có điều kiện trong đó tập trung vào định hớng có

tính chiến lợc lâu dài là thâm canh tăng năng suất lúa. Đây là một định hớng

đề cập trong tất cả các đại hội Đảng thời gian gần đây vì nó xuyên suốt quá

trình phát triển nền kinh tế gắn với nông nghiệp của nớc ta và sẽ là kế hoạch

phát triển cho tơng lai. Định hớng này cho phép chúng ta bảo đảm mục tiêu

lớn nhất là an ninh lơng thực quốc gia, tăng sản lợng gạo đồng thời có thể

chuyển các loại lúa canh tác trong thời vụ hiệu quả nhằm đem lại năng suất

cao nhất.

93



* Thứ hai: đa dạng hoá trong sản xuất lúa gạo bao gồm chủng loại gạo,

phẩm chất các giống lúa gạo và ngời sản xuất lúa gạo cho xuất khẩu. Theo

định hớng này thì đa dạng hoá phải căn cứ vào nhu cầu của thị trờng trên cơ

sở nhu cầu và biến động của thị trờng quốc tế để sản xuất. Cụ thể là chủng

loại gạo bao gồm gạo thờng, gạo đặc sản phẩm cấp các loại gạo đợc cung

cấp phong phú với cùng một mặt hàng lúa gạo nhng có nhiều giống thuần

chủng và siêu thuần chủng, nguồn sản xuất đợc định hớng theo quy mô lớn,

nhỏ khác nhau.

* Thứ ba: tích cực ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất

để vừa tăng năng suất và sản lợng lúa gạo cho tiêu dùng và cho xuất khẩu,

vừa không ngừng nâng cao chất lợng gạo xuất khẩu đồng thời bảo vệ đợc

môi trờng sinh thái. Yêu cầu bảo vệ môi trờng sinh thái khi áp dụng khoa

học kỹ thuật là hoàn toàn cần thiết vì nếu không tính đến yếu tố này sẽ rất dễ

gây nên tình trạng ứng dụng không hợp lý các thành tựu công nghệ hiện đại,

tăng cao năng suất lúa nhng phá hoại môi sinh môi trờng, ảnh hởng nghiêm

trọng đến đời sống của con ngời, nhất là trong tơng lai. Vì vậy Chính phủ cần

có những quy định cụ thể và chi tiết hơn.

Theo số liệu của bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, mục tiêu và

định hớng sản xuất lúa gạo năm 2000 đợc khái quát nh bảng sau:



Bảng 3.1. Mục tiêu cụ thể của sản xuất gạo năm 2010

Chỉ tiêu

Năm 2010

Diện tích đất

4,1 4,2 triệu ha

Diện tích đất trồng

7,5 triệu ha

Năng suất

50 55 tạ/ha

Sản xuất (quy thóc)

38 40 triệu tấn

Xuất khẩu (quy gạo)

4 4,5 triệu tấn

Nguồn: Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn



94



3.1.2. Định hớng và mục tiêu xuất khẩu gạo

3.1.2.1. Cơ chế mới

Theo quyết định 46/QĐ - TTg của Thủ tớng Chính phủ mới ban hành về

cơ chế xuất nhập khẩu các mặt hàng trong năm năm 2001 2002 có một số

thay đổi liên quan đến gạo xuất khẩu, cụ thể là:

- Chính phủ quyết định chính thức bãi bỏ cơ chế giao hạn ngạch xuất khẩu

gạo và việc quy định doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xuất khẩu. Doanh

nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đợc xuất khẩu gạo nếu có đăng ký kinh

doanh ngành hàng lơng thực hoặc nông sản.

- Những hợp đồng xuất khẩu gạo sang một số thị trờng có sự thoả thuận

của Chính phủ ta với Chính phủ các nớc (hợp đồng Chính phủ), sau khi trao

đổi với Hiệp hội lơng thực Việt nam đợc giao cho Bộ Thơng mại chỉ định và

chỉ đạo doanh nghiệp làm đại diện giao dịch, kí kết hợp đồng.

- Việc xuất khẩu theo kế hoạch trả nợ, viện trợ của Chính phủ, thực hiện

theo cơ chế đấu thầu hoặc quyết định riêng của Thủ tớng chính phủ.

- Để đảm bảo lợi ích nông dân, ổn định sản xuất nông nghiệp và thị trờng

trong nớc, giảm bớt khó khăn đối với hoạt động sản xuất, lu thông lúa gạo và

phân bón khi thị trờng trong ngoài nớc có biến động, Thủ tớng Chính phủ sẽ

xem xét, quyết định các biện pháp can thiệp có hiệu quả vào thị trờng lúa

gạo.

Quy định trên của Thủ tớng Chính phủ đã mở rộng hớng đi cho các nhà

xuất khẩu. Không còn các đầu mối nên mọi thành phần kinh tế đều có thể tự

do ký kết hợp đồng với đối tác nớc ngoài sau khi đã đăng ký kinh doanh. Cơ

chế mới đã thông thoáng hơn rất nhiều so với cơ chế ban hành trớc đây song

cũng đặt ra nhiều vấn đề bức xúc, đòi hỏi một sự quản lý chặt chẽ, thờng

xuyên của các ngành, các cấp, tránh tình trạng tranh mua, tranh bán, ép giá

của các doanh nghiệp nhằm thao túng thị trờng và thu lợi cao nhất.

31.2.2. Định hớng và mục tiêu xuất khẩu gạo

95



Cơ chế mới ban hành trong thời điểm chúng ta bớc sang thế kỷ mới với

những cơ hội và thách thức mới là một công cụ để thực hiện các mục tiêu đặt

ra với sản xuất gạo, tăng lợng gạo xuất khẩu, mở rộng thị trờng và nâng cao

chất lợng đảm bảo hiệu quả hơn trong xuất khẩu. Thực chất mục tiêu này hớng vào tăng số lợng, cải thiện chất lợng có nghĩa là tăng tổng kim ngạch

gạo xuất khẩu. Bên cạnh đó việc mở rộng thị trờng cũng đợc các nhà hoạch

định chiến lợc coi trọng vì thị trờng là cái đích mà các nhà xuất khẩu hớng

đến. Ba mục tiêu trên đợc tiến hành song song đảm bảo cho gạo sản xuất ra

có thể xuất khẩu tạo thành một quá trình thông suốt đồng thời phù hợp với

các mục tiêu của sản xuất lúa và xu thế phát triển chung của nền kinh tế thị

trờng trong giai đoạn mới.

Cũng nh trong sản xuất lúa gạo, trong xuất khẩu để thực hiện các mục

tiêu đã đặt ra cần có các định hớng. Cụ thể là:

- Thứ nhất: đa dạng hoá chủng loại gạo cấp cao nhập khẩu đáp ứng nhu

cầu đa dạng của thị trờng thế giới.

- Thứ hai: đa phơng hoá thị trờng tiêu thụ gạo trong đó tập trung vào

những thị trờng tơng đối ổn định về số lợng và chất lợng.

- Thứ ba: đa dạng hoá hình thức tổ chức tham gia xuất khẩu gạo để có thể

đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và phức tạp của khách hàng.

3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu gạo

3.2.1. Nhóm giải pháp vĩ mô

3.2.1.1. Các giải pháp hoàn thiện hệ thống tổ chức xuất khẩu

Những năm gần đây, gạo Việt Nam đã có mặt trên 80 nớc và Việt Nam

là nớc xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới sau Thái Lan. Tuy nhiên, sản xuất

lúa gạo xuất khẩu còn thiếu quy hoạch, cha đa dạng hoá chủng loại hàng, hệ

thống chế biến, bảo quản phục vụ xuất khẩu còn nhiều yếu kém, lại phân bổ

không hợp lý. Hệ thống nhà máy xay xát, đánh bóng còn ít, tập trung chủ



96



yếu tại TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Mỹ Tho. Đầu mối xuất khẩu bó hẹp trong

khu vực TP Hồ Chí Minh, làm tăng chi phí vận chuyển và các chi phí trung

gian. Bên cạnh đó, chúng ta vẫn cha xác định đợc chiến lợc về thị trờng và

chiến lợc sản phẩm rõ ràng, cha thiết lập đợc hệ thống thị trờng, bạn hàng

lớn ổn định và vẫn còn tình trạng bán qua trung gian, tranh mua, tranh bán ở

thị trờng nớc ngoài. Khâu điều hành xuất khẩu tầm vĩ mô còn nhiều lúng

túng, không kịp thời, gây khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu về nguồn

hàng và ký kết hợp đồng.

Để nâng cao khả năng cạnh tranh của gạo Việt Nam trên thị trờng thế

giới thì vấn đề đặt ra hiện nay chính là hoàn thiện hệ thống tổ chức xuất khẩu

gạo. Năm 2001, với cơ chế bãi bỏ hạn ngạch và đầu mối xuất khẩu có thể tạo

điều kiện cho doanh nghiệp phát huy đợc u thế của mình, giải quyết đợc

những vớng mắc trong vấn đề quản lý, tránh tình trạng độc quyền nhng cũng

gây nhiều khó khăn mới cho các cơ quan chức năng về kiểm soát lợng gạo

xuất khẩu, đảm bảo an ninh lơng thực quốc gia.

Vì vậy, cùng với quyết định này cần đa ra các giải pháp đồng bộ để

ngăn chặn những vớng mắc mới phát sinh. Cụ thể là:

* Thứ nhất: khi bãi bỏ đầu mối hạn ngạch các cơ quan có trách nhiệm

cần đánh giá sản lợng thóc để định hớng và công bố ngay tổng mức dự định

sẽ xuất khẩu ở năm sau từ cuối năm trớc để doanh nghiệp dựa vào đó xác

định thời gian và tiến độ, chủ động điều tiết các hoạt động của mình cho phù

hợp với hoàn cảnh cụ thể. Chính phủ chỉ đạo giao cho Uỷ ban nhân dân các

tỉnh và các ngành có liên quan theo dõi, tạo điều kiện hỗ trợ về vốn, tổ chức

tốt hơn nữa việc mua lúa cho nông dân vào đúng thời điểm thu hoạch nhằm

có những biện pháp bảo quản hàng hoá tốt và ngăn chặn không cho giá

xuống.

* Thứ hai: vì không còn hạn ngạch và đầu mối, số lợng doanh nghiệp

tham gia xuất khẩu sẽ tăng. Nhà nớc cần có biện pháp sắp xếp một cách hợp

97



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (134 trang)

×