1. Trang chủ >
  2. Khoa học xã hội >
  3. Giáo dục học >

LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.59 MB, 47 trang )


học trước quên sau, ghi chép theo lối

truyền thống làm các em nhàm chán,

biếng học, qua nhiều năm thực hiện tôi

nhận thấy kỹ thuật dạy học mới rất hay.

Để giúp học sinh ghi chép tốt, nhớ lâu,

hiểu kĩ từ lớp nền tảng tôi đúc kết kinh

nghiệm qua đề tài: “Một vài kinh nghiệm

về việc hướng dẫn bồi dưỡng học sinh

năng lực tự học bằng sử dụng sơ đồ tư

duy để học tốt chương I phần cơ học vật lí

lớp 6”.



3.THỰC TRẠNG:

- Dạy học theo lối đọc chép như trước đây rồi

cho học sinh học thuộc lòng học sinh không ghi

nhớ kĩ, học rồi quên rồi, môn vật lí yêu cầu phải

làm thí nghiệm rồi rút ra kết luận không thể học

theo lối học thuộc lòng được.

-Khi giáo viên giảng cho học sinh tự ghi bài

nhiều em không biết ghi, ghi bài không đầy đủ

dẫn đến khó học bài, không hiểu bài, ngán học

môn vật lí, mất căn bản.

- Lối học chép không phát triển tư duy lôgic,

không tạo cho học sinh biết phân tích tổng hợp

một vấn đề thành thói quen.



Cách chép bài theo truyền thống làm cho học

sinh nhàm chán không có tác dụng học sinh nhớ

lâu.

Dạy học sinh theo truyền thống không còn phù

hợp với thời đại ngày nay vì thông tin trên truyền

thông nhanh như vũ bão, không thể tích lũy thành

kiến thức để thực hành giúp người học nối kết

được kiến thức thành một bức tranh tổng thể tạo

cho học sinh nhớ lâu đầy đủ, rõ ràng

Dạy học theo truyền thống thầy ghi gì học sinh

chép nấy, giáo viên làm dùm học sinh, không phát

triển tư duy .Học sinh không tự học, không có thầy

học sinh học không được dẫn đến học sinh không

tự tin, cứ phải đi học thêm.



4. NỘI DUNG



A- Cơ sở khoa học:

Tôi trang bị cho mình kĩ về: kĩ thuật dạy học

Sơ đồ tư duy. Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ

chức tư duy, là con đường dễ nhất để chuyển

tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra

ngoài bộ não. Đồng thời là một phương tiện ghi

chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng

nghĩa của nó: “sắp xếp” ý nghĩ. Sơ đồ tư duy là

một hình thức ghi chép có thể sử dụng màu sắc

và hình ảnh, để mở rộng và đào sâu các ý

tưởng. Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý

tưởng được liên kết với nhau khiến sơ đồ tư

duy có thể bao quát được các ý tưởng trên một

phạm vi sâu rộng.



Tính hấp dẫn của hình ảnh, âm thanh,… gây ra

những kích thích rất mạnh lên hệ thống rìa (hệ thống

cổ áo) của não giúp cho việc ghi nhớ được lâu bền và

tạo ra những điều kiện thuận lợi để vỏ não phân tích,

xử lí, rút ra kết luận hoặc xây dựng mô hình về đối

tượng cần nghiên cứu.

* Mục tiêu: Sử dụng trong dạy và học mang lại hiệu

quả cao, phát triển tư duy lôgic, khả năng phân tích

tổng hợp, học sinh hiểu bài, nhớ lâu, thay cho ghi

nhớ dưới dạng thuộc lòng, học “vẹt”.

* Tác dụng đối với học sinh: Phù hợp với tâm

sinh lí học sinh, đơn giản dễ hiểu thay cho việc ghi

nhớ lí thuyết bằng ghi nhớ dưới dạng sơ đồ hóa

kiến thức.



* Cơ sở sinh lí thần kinh:

Những thành tựu nghiên cứu trong những năm gần đây cho

thấy, bộ não không tư duy theo dạng tuyến tính mà bằng cách

tạo ra những kết nối, những nhánh thần kinh. Việc ghi chép

tuần tự theo lối truyền thống với bút và giấy có dòng kẻ đã

khiến cho con người cảm thấy nhàm chán. Từ trước đến nay,

đã có một số quan điểm cho rằng, con người không sử dụng

hết 100% công suất của bộ não, thậm chí có ý kiến cho rằng:

trong cuộc đời, mỗi người chỉ sử dụng 10% các tế bào não,

90% tế bào còn lại ở trạng thái ngủ yên vĩnh viễn. Những

nghiên cứu bằng ảnh cộng hưởng từ chức năng cho thấy, toàn

bộ não hoạt động một cách đồng bộ trong các hoạt động tinh

thần của con người và quá trình tư duy là sự kết hợp phức tạp

giữa ngôn ngữ, hình ảnh, khung cảnh, màu sắc, âm thanh, và

giai điệu. Tức là, quá trình tư duy đã sử dụng toàn bộ các phần

khác nhau trên bộ não.



Ví dụ: khi học sinh tiến hành thí nghiệm, não trái

đóng vai trò thu thập số liệu; còn não phải đóng

vai trò xây dựng sơ đồ thí nghiệm, bố trí các

dụng cụ đo, thu thập hình ảnh về đối tượng cần

nghiên cứu. Ngoài ra, tính hấp dẫn của hình ảnh,

âm thanh, kết quả bất ngờ của thí nghiệm,… gây

ra những kích thích rất mạnh lên hệ thống rìa

(hệ thống cổ áo) của não giúp cho việc ghi nhớ

được lâu bền và tạo ra những điều kiện thuận lợi

để vỏ não phân tích, xử lí, rút ra kết luận hoặc

xây dựng mô hình về đối tượng cần nghiên cứu.

* Cơ sở tâm lí học:



Trực giác đóng vai trò quan trọng trong sáng tạo.

Cơ sở của trực giác là trí tưởng tượng khoa học. Trí

tưởng tượng là khả năng tạo hình ảnh phản ánh đối

tượng cho trước ở trong óc. Trí tưởng tượng đóng

vai trò quan trọng trong sáng tạo bởi con người

tưởng tượng ra cái mới ở trong óc rồi mới biến nó

thành hiện thực.

Khi ta suy nghĩ về một vấn đề gì đó, thông tin

được tích lũy trong não một cách dần dần. Bằng trí

tưởng tượng của mình, con người xây dựng các sơ

đồ, mô hình và tiến hành thao tác với các “vật liệu”

ấy. Khi được những sự kiện mới làm nảy sinh, kích

thích, khơi gợi, những thông tin từ trong não bật ra

tự nhiên và dễ dàng, giúp con người phán đoán

nhanh và cái mới xuất hiện.



Những hình vẽ, kí hiệu, màu sắc đóng vai trò

quan trọng trong tưởng tượng ví chúng là những

“vật liệu neo thông tin”, nếu không có chúng thì

không thể tạo ra được sự liên kết giữa các ý

tưởng.

Với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động của

bộ não, sơ đồ tư duy có thể phục vụ một số mục

đích. Ba trong số những mục đích chính là làm

cho tư duy trở nên nhìn thấy được qua sơ đồ là:

Tìm hiểu hiểu những gì ta biết, giúp xác định

những khái niệm then chốt, thể hiện mối liên hệ

giữa các ý tưởng và lập nên một mẫu có nghĩa từ

những gì ta biết và hiểu, do đó giúp ghi nhớ một

cách bền vững.



Trợ giúp lập kế hoạch cho một hoạt động hoặc một dự

án thông qua tổ chức và tập hợp các ý tưởng và thể hiện

mối liên hệ giữa chúng.

Trợ giúp đánh giá kinh nghiệm hoặc kiến thức thông qua

quá trình suy nghĩ về những yếu tố chính trong những gì đã

biết hoặc đã làm.

Trong sơ đồ tư duy, học sinh được tự do phát triển các ý

tưởng, xây dựng mô hình và thiết kế mô hình vật chất hoặc

tinh thần để giải quyết những vấn đề thực tiễn. Từ đó, cùng

với việc hình thành được kiến thức, các kĩ năng tư duy (đặc

biệt kĩ năng tư duy bậc cao) của học sinh cũng được phát

triển.

Với việc lập sơ đồ tư duy, học sinh không chỉ là người

tiếp nhận thông tin mà còn cần phải suy nghĩ về các thông

tin đó, giải thích nó và kết nối nó với cách hiểu biết của

mình. Và điều quan trọng hơn là học sinh học được một

quá trình tổ chức thông tin, tổ chức các ý tưởng.



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.ppt) (47 trang)

×