1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Y khoa - Dược >

Huyễn là hoa mắt, vựng là cảm giác tròng trành như ngồi trên thuyền, quay chuyển không yên [7].

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.91 MB, 101 trang )


23



- Yếu tố thất tình: tình chí là yếu tố chính gây ra chứng huyễn vựng. Tinh

thần căng thẳng lâu ngày, tình chí không th thái, hoặc lo nghĩ tức giận làm can

khí uất kết, uất lâu ngày hoá hoả, hoả thịnh thơng âm, làm can âm mất nuôi dỡng, can âm hao tổn. Âm không liễm đợc dơng can dơng nhiễu loạn lên trên

làm đau đầu mắt đỏ và xuất hiện những cơn bốc hoả. Can và thận có quan hệ

mật thiết với nhau, can hoả nung đốt phàn âm của can thận, dẫn tới can thận

âm h, can dơng vợng.

- ẩm thực bất điều: Do ăn uống nhiều chất bổ béo làm tổn thơng tỳ vị,

khiến chức năng vận hoá của tỳ suy giảm mà dẫn tới đàm thấp nội sinh nên

phát bệnh hoặc uống nhiều rợu làm thấp trọc sinh ra, lâu ngày hoá nhiệt, nhiệt

ung nấu tân dịch thành đàm. Đàm thấp lại làm rối loạn chức năng kiện vận

của tỳ vị, hậu quả sinh đàm thấp lai làm cho thanh dơng bất thăng, trọc âm bất

giáng mà gây ra chứng huyễn vựng.

- Nội thơng h tổn: Do lao thơng quá độ hoặc tuổi cao làm chức năng của

thận suy giảm, thận thuỷ bất túc, thuỷ không dỡng đợc mộc, can không đợc nuôi

dỡng dẫn đến can thận âm h, can hoả vợng mà sinh ra huyễn vựng.

1.2.2. Phân loại - Cơ chế bệnh sinh của các thể bệnh trong chứng huyễn

vựng

Theo YHCT, chứng huyễn vựng đợc chia làm 4 thể chính, mỗi thể có

những Biểu đồ hiện lâm sàng và cơ chế bệnh sinh khác nhau [70] [7]

1.2.2.1. Thể can dơng thợng cang

- Triệu chứng lâm sàng: nhức đầu, ngời bứt rứt, dễ cáu gắt, tai ù, mặt đỏ

mắt đỏ, họng khô, ngủ ít, rêu lỡi vàng, mạch huyền sác.

- Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh:

Trong điều kiện bình thờng can âm và can dơng cân bằng nhau, bất kỳ

lý do nào làm mất sự cân bằng này làm can dơng vợng lên đều gây ra chứng

huyễn vựng. Can âm h có thể gặp ở ngời có bẩm tố dơng mạnh, can dơng dễ

thăng lên trên mà phát thành huyễn vựng hoặc do ngời bệnh có quá trình căng



24



thẳng về mặt tinh thần làm rối loạn tình chí làm uất hoá hoả gây tổn thơng đến

can âm, phần âm bị tiêu hao đi phần dơng của can thăng động lên tạo thành

huyễn vựng hoặc do thận âm thơng tổn không nuôi dỡng đợc can mộc, can âm

không đủ can dơng thăng động mà gây ra huyễn vựng. Can hoả vợng làm cho

ngời bệnh căng váng đầu, hoa mắt mặt đỏ ù tai, ngời bứt dứt khó chịu, tính

tình nóng nảy, hay cáu giận. Can khai khiếu ra mắt khi can hoả vợng thì mắt

đỏ. Can nhiễu động tâm, đồng thời không nuôi dỡng đợc tâm huyết dẫn đến

mất ngủ, can đởm vợng làm miệng đắng, lỡi đỏ mạch huyền sác.

1.2.2.2. Thể thận tinh bất túc

- Triệu chứng lâm sàng: nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, hoảng hốt,

ngủ ít hay mê, lng gối mỏi yếu, miệng khô mặt đỏ, chất lỡi đỏ, mạch huyền tế

sác (nếu thiên về âm h).

Nếu thiên về dơng h thì sắc mặt trắng, lng gối mềm yếu, đi tiểu nhiều,

liệt dơng, di tinh, mạch trầm tế.

- Nguyên nhân cơ chế bệnh sinh:

Thận gồm hai phần thận âm và thận dơng hay thận thuỷ và thận hoả,

thận tinh và thận huyết. Khi thuỷ hoả mất cân bằng, hoả thời vợng lên, thận

âm bất túc không hoà hợp đợc với tâm hoả, hoả của thận và của tâm kết hợp

lại mà gây bệnh. Sách nội kinh viết: thận sinh tinh, tinh sinh tuỷ, tuỷ sinh

não, mà não lại là bể của tuỷ, Mọi chứng choáng váng chao đảo đều thuộc

can mộc, thận h thì đầu nặng, tuỷ thiếu thì ù tai. Lng là phủ của thận, chức

năng thận kém sẽ dẫn đến đau lng, mỏi gối. Do vậy khi bẩm tố thiên thiên

không đủ hoặc lao thơng quá độ làm tiêu hao thận tinh nên tinh không thể thợng xung lên não, bể tuỷ không đầy đủ gây ra chứng huyễn vựng.

1.2.2.3. Thể khí huyết lỡng h

- Triệu chứng lâm sàng: sắc mặt trắng, da khô, mệt mỏi, ngủ ít ăn kém,

hay đi phân lỏng, đầu choáng, hoa mắt, rêu lỡi nhạt, mạch huyền tế.

- Nguyên nhân cơ chế bệnh sinh:



25



ở những ngời mắc bệnh lâu ngày làm tổn thơng khí hoặc huyết kéo dài

hoặc cha kịp hồi phục do tỳ vị h nhợc làm mất khả năng sinh hoá làm cho khí

huyết bị tổn thơng. Khí h làm cho chất thanh không thăng đợc, chất trọc

không giáng, huyết h làm não kém đợc nuôi dỡng mà gây ra huyễn vựng hoặc

huyết h làm cho sự lu thông khí huyết bị ngừng trệ, huyết tắc lại lâu ngày hoá

hoả gây huyễn vựng.

Sách Tỳ vị luận của Lý Đông Viên nói: Tuổi từ 40 trở lên, nguyên khí

đã suy và do lo nghĩ phiền uất càng hại đến nguyên khí vì thế mà phát bệnh

thành huyễn vựng[7].

Hải Thợng Lãn Ông cho rằng: Âm huyết của hậu thiên h thì hoả động

lên, chân thuỷ của tiên thiên suy thì hoả bốc lên mà gây thành chứng huyễn

vựng[62].

Trên thực tế lâm sàng huyễn vựng do nguyên các nguyên nhân đơn lẻ

gây ra hoặc có thể do một vài nguyên nhân phối hợp gây ra.

1.2.2.4. Thể đàm trọc trung trở

- Triệu chứng lâm sàng ngời béo mập, ngực sờn đầy tức, hay lợm giọng,

buồn nôn, ăn ít ngủ kém, rêu lỡi trắng dính, mồm nhạt, mạch huyền hoạt.

- Nguyên nhân cơ chế bệnh sinh:

Thờng gặp ở những ngời có thể trạng mập phì do ăn nhiều đồ béo ngọt

trong thời gian dài làm tổn thơng đến tỳ vị, làm rối loạn đến chức năng kiện

vận của tỳ vị tạo nên đàm thấp, làm cho thanh dơng bất thăng và trọc âm bất

giáng mà gây ra huyễn vựng.



26



Sơ đồ tóm tắt cơ chế bệnh sinh chứng Huyễn vựng

Rối loạn

tình chí



Thận âm

thương

tổn



ẩm thực

thất điều



Can âm

tổn thư

ơng



Can âm

không đủ



Tổn thư

ơng tỳ vị



Can dơng thăng động



Đàm thấp



Huyễn vựng



Tổn thơng khí huyết



Bể tuỷ không đủ



Tinh tuỷ

thiếu



Tỳ vị

hư nhược



Tiêu hao

thận tinh



Mắc bệnh

lâu ngày



Tiên thiên

bất túc



Lao thư

ơng quá độ



27



1.2.3. Điều trị chứng huyễn vựng

Y học cổ truyền đã có nhiều phơng pháp điều trị chứng huyễn vựng.

1.2.3.1. Phơng pháp dùng thuốc

Cảnh Nhạc toàn th nói Nếu huyễn vựng do hoả nên thanh hoả, do đàm

nên thanh đàm, do khí nên thuận khí[89].

ở ngời trung niên trở lên, can dơng thợng nghịch hoá phong, nên thờng

là trong phong có huyễn. Nguyên tắc điều trị của YHCT đã nói rõ: cấp trị

tiêu, hoãn trị bản. Bệnh cấp thờng Biểu đồ hiện chứng thực, trớc hết phải trị

tiêu, pháp thờng chọn là: tức phong, tiềm dơng, thanh hoả, hoá đàm; Bệnh

hoãn thuộc h chứng khi điều trị phải tập trung vào gốc, pháp thờng dùng là bổ

khí huyết, ích can thận, kiện tỳ, hoá đàm. Nếu tiêu thực bản h cùng xuất hiện,

căn cứ vào diễn biến của từng bệnh nhân để chọn phơng pháp điều trị cụ thể

và thờng dùng Bình can tức phong, t âm tiềm dơng, trừ đàm hoá trọc, hoạt

huyết lợi thuỷ. Cụ thể: pháp điều trị thờng dùng ở các thể của chứng huyễn

vựng[70]:

- Thể can dơng thợng cang: pháp điều trị là T âm tiềm dơng với bài

Thiên ma câu đằng ẩm gia giảm.

- Thể đàm trọc trung trở: pháp điều trị là Kiện tỳ, hoá đàm với bài Bán

hạ bạch truật thiên ma thang.

- Thể thận tinh bất túc: pháp điều trị là Bổ thận t âm với bài Kỷ cúc địa

hoàng hoàn.

- Thể khí huyết đều h: pháp điều trị là Bổ tâm dỡng huyết kiện tỳ với

bài Quy tỳ thang.

1.2.3.2. Phơng pháp không dùng thuốc

Châm cứu, khí công, dỡng sinh đã dợc dùng để điều trị chứng huyễn

vựng từ lâu trong đó châm cứu đợc sử dụng khá nhiều.

+ Cơ chế châm cứu theo YHHĐ [11].



28



- Châm cứu là một kích thích gây ra một cung phản xạ mới: Các kích

thích ở da cơ tạo thành các luồng xung động truyền vào tuỷ lên não, từ não

xung động chuyển tới cơ quan đáp ứng hình thành cung phản xạ mới.

- Hiện tợng chiếm u thế của Utomsky: Trong cùng một thời gian, ở một

nơi nào đó của hệ thần kinh trung ơng (vỏ não), nếu hai luồng xung động của

hai kích thích khác nhau đa tới, kích thích nào có cờng độ mạnh hơn sẽ có tác

dụng kéo các xung động của kích thích kia về nó và kìm hãm, tiến tới dập tắt

kích thích kia.

- Sự phân chia tiết đoạn thần kinh và sự liên quan giữa các tạng phủ đối

với các vùng cơ thể do tiết đoạn chi phối: Thần kinh tuỷ sống có 31 đôi dây,

mỗi đôi chia ra làm 2 ngành trớc và sau chi phối vận động và cảm giác một

vùng cơ thể gọi là một tiết đoạn. Khi nội tạng có bệnh, ngời ta thấy có sự tăng

cờng cảm giác vùng da cùng tiết đoạn với nó, nh cảm giác đau, thay đổi điện

sinh vật Hiện tợng này xảy ra do những sợi thần kinh giao cảm bị kích

thích, xung động động dẫn truyền vào tuỷ sống, gây ra những thay đổi về cảm

giác ở vùng da. Mặt khác những kích thích giao cảm làm co mạch, sự cung

cấp máu ở vùng da ít đi và làm điện trở ở da giảm xuống gây ra những thay

đổi về điện sinh vật.

Trên cơ sở này Zankharin (Liên Xô) và Head (Anh) đã thiết lập đợc một

giản đồ về sự liên quan giữa vùng da và nội tạng và đây cũng là nguyên lý chế

tạo các máy do điện trở da và máy đo kinh lạc

Vai trò của thể dịch, nội tiết và các chất trung gian thần kinh: Từ năm

1973 nhiều thực nghiệm đã chứng minh đợc trong châm cứu và đỉnh cao của

nó là châm tê, ngoài vai trò của thần kinh còn có vai trò của thể dịch tham gia

trong quá trình giảm đau và nâng cao ngỡng chịu đau. Có nhiều thảo luận về

các chất này. Có thể là: Acetylcholin, Monomin (Cathecolamin, 5

hydroxyptamin các chất peptit các chất monoxit, morphinelike - quan trọng

nhất là Endorphine - chất giảm đau).



29



+ Cơ chế châm cứu theo học thuyết YHCT[11

Sự mất thăng bằng âm dơng sẽ phát sinh ra bệnh tật, châm cứu có tác dụng

điều hoà âm dơng.

Bệnh tật phát sinh làm rối loạn hoạt động bình thờng của hệ kinh lạc, châm

cứu cơ bản là điều hoà cơ năng hoạt động của hệ kinh lạc.

1.3. Khái niệm về huyệt, kinh lạc, điện sinh học tại huyệt [11][51]

1.3.1. Huyệt

Huyệt là nơi dinh khí, vệ khí vận hành qua lại vào ra nơi tạng phủ, kinh

lạc, phân bố khắp phía ngoài cơ thể, góp phần giữ gìn cho các hoạt động sinh

lý của cơ thể luôn ở trong trạng thái bình thờng

Huyệt là điểm đặc biệt đợc phân bố khắp phần ngoài cơ thể, là nơi thể

hiện phản ứng của cơ thể với bệnh tật. Huyệt cũng là cửa ngõ để tà khí lục

dâm xâm nhập vào cơ thể, đồng thời là nơi tiếp nhận các loại kích thích châm

cứu để phòng, chữa bệnh và châm tê.

Huyệt là nơi khí của tạng phủ đến và đi ra của cơ thể.

1.3.2. Kinh lạ c[11]

Kinh lạc là nơi tuần hoàn của khí huyết đi nuôi dỡng toàn thân, duy trì

hoạt động bình thờng của cơ thể. Đó cũng là nơi nhân tố gây bệnh xâm nhập

vào cơ thể, là nơi phản ánh tình trạng bệnh tật của cơ thể. Kinh lạc là đờng

dẫn truyền kích thích vào các tạng phủ để chữa bệnh.

1.3.3. Điện sinh học tại huyệt [1][50]

Điện trở da và độ thông điện qua da vùng huyệt là hai yếu tố đã đợc sử

dụng để phát hiện ra đặc tính điện sinh học của huyệt sớm nhất.

Việc nghiên cứu điện trở da và độ thông điện qua da đợc dựa trên cơ sở

đặt lên da một điện áp rồi đo cờng độ dòng điện phóng qua cơ thể hoặc đo

điện trở của da.

1.4. Các nghiên cứu đã có

1.4.1. Về điều trị tăng huyết áp theo YHCT



30



1.4.1.1. Nghiên cứu ở ngoài nớc

- Năm 1998, Vukolova Z.P, Oganova A.G và Sukhanova M.V đã điều

trị tăng huyết áp bằng châm cứu kết hợp với chế độ ăn giảm cân cho 137 bệnh

nhân tăng huyết áp đạt kết quả làm giảm huyết áp, giảm Cholesteron máu [80].

- Trơng Chí Cờng (Trung Quốc) cho rằng khi châm khỏi nhức đầu,

chóng mặt thì huyết áp hạ xuống, lợng NorAdrenalin trong nớc tiểu giảm đi.

Khi châm kim qua da làm điện trở da thay đổi, mạch máu giãn ra làm hạ

huyết áp. Châm kim qua da sẽ phá vỡ tổ chức giải phóng chất trung gian hoá

học làm giãn mạch hạ huyết áp. Châm còn có tác dụng điều hoà sự mất thăng

bằng sinh lý và sinh hoá trong cơ thể. Khi châm sẽ tạo một kích thích lên da

và vào tổ chức da, xung động này đi vào dây thần kinh hớng tâm đến sừng sau

tuỷ sống vào bó tuỷ đồi thị rồi đến vỏ não. Từ vỏ não xung động đợc phân tích

và trả lời bằng truyền tiếp xung động xuống bó tháp qua sừng bên và vào hệ

thống thần kinh thực vật, đến mạch máu nội tạng và do đó làm giãn mạch, hạ

huyết áp [18].

- Theo Vagralin và Kasil (Liên Xô) trong bệnh tăng huyết áp hệ giao

cảm hng phấn mạnh hơn. Trong máu thấy Adrenalin chứa ôxy hoá và một

số chất tơng tự lên cao, ngợc lại Acetylcholin và Histamin giảm hoặc ở mức

bình thờng, sau mỗi đợt châm cứu làm cho tơng quan này trở lại hoạt động

bình thờng, làm thăng bằng thần kinh giao cảm và phó giao cảm. Châm cứu

còn ảnh hởng chắc chắn tới hệ thần kinh trung ơng trong bệnh tăng huyết

áp [18].

- Năm 2000, Jacobson và cộng sự nghiên cứu điện châm ở 12 bệnh

nhân tăng huyết áp, thu đợc kết quả: Sau 4 tuần điều trị huyết áp tâm thu giảm

trung bình giảm 6,3 mmHg (p < 0,05), huyết áp tâm trơng trung bình giảm 3,7

mmHg (p < 0,05). Nhịp tim trung bình không thay đổi. Mức giảm huyết áp

không thay đổi sau 1 tuần điều trị [78].



31



- Tác giả Chiu. YJ, ChiA Đài Loan nghiên cứu trên 50 bệnh nhân tăng

huyết áp cho biết sau 30 phút huyết áp tâm thu giảm từ 169 mmHg xuống 151

mmHg huyết áp tâm trơng giảm từ 107 mmHg xuống 96 mmHg và nhịp tim

giảm từ 77 xuống 72 nhịp/phút [18].

1.4.1.2. Nghiên cứu trong nớc

Dựa vào lý luận của YHCT và kinh nghiệm thực tế trong nhiều phác đồ

huyệt đã đợc áp dụng để điều trị tăng huyết áp.

- Trần Thuý và Trần Quang Đạt đã sử dụng các huyệt trên loa tai: Điểm

hạ áp, giao cảm, thần môn, tâm. Châm đắc khí, lu kim 15 phút, châm từ 7 - 10

lần huyết áp sẽ hạ [55].

Kiều Xuân Dũng dùng nhĩ châm: Rãnh hạ áp, Điểm thần môn điều trị

cắt cơn tăng huyết áp cho 40 bệnh nhân sau 25 phút trung bình cộng của huyết

áp giảm 12,7% (p < 0.01)[10].

Nguyễn Bá Quang cũng đã dùng điện châm điều trị trên 100 bệnh nhân

tăng huyết áp thể can hoả vợng với phác đồ huyệt: Phong trì, Thái xung, Thái

dơng, Bách hội, Thợng tinh(châm tả) và huyệt Tam âm giao (châm bổ), sau

điều trị thấy 40% số bệnh nhân có huyết áp trở về bình thờng, 60% số bệnh

nhân có huyết áp tăng ở độ I, không còn trờng hợp nào ở độ II (p < 0,05)[44].

Từ những năm 1960, Nguyễn Tài Thu đã dùng thuỷ châm vào các huyệt

Phong trì, Khúc trì, Túc tam lý điều trị bệnh tăng huyết áp có hiệu quả [18].

Trần Thị Lan khi nghiêm cứu điều trị bằng phơng pháp khí công dỡng

sinh trên 18 bệnh nhân thấy sau diều trị huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trơng đều giảm, trong đó huyết áp tâm thu giảm nhiều hơn huyết áp tâm trơng

(p < 0.01)[35].

Trần Thuý, Kiều Đình Khoan, Nguyên Thị Minh Tâm và cộng sự

(2002) đã nhiên cứu tác dụng điều trị của chè hạ áp cho thấy chè hạ áp có tác

dụng tốt với bệnh nhân tăng huyết áp độ I, II, kết quả hạ huyết áp ở mức 1, 2



32



là 88,33%, trong đó huyết áp tâm thu hạ nhiều hơn huyết áp tâm trơng (p <

0.01) [56].

Trần Thị Hồng Thuý khi mghiên cứu tác dụng điều trị tăng huyết nguyên

phát của Địa long trên 97 bệnh nhân cho thấy sau điều trị huyết áp giảm ở

89,7% số bệnh nhân với huyết áp tâm thu, 70,1% số bệnh nhân với huyết tâm

trơng, 88,7% số bệnh nhân với huyết áp trung bình (p < 0.01; 0,05) [59].

1.4.2. Nghiên cứu về điện sinh học tại huyệt

1.4.2.1. Nghiên cứu ngoài nớc

Ionetscu- Tirgoviste (1983) cho rằng ở trạng thái bệnh lý điện trở giảm,

độ thông điện tăng tạo thành ô cửa sổ nhỏ. Trong quá trình điều trị nếu bệnh

đợc thuyên giảm ô cửa sổ này sẽ đợc bịt kín cùng với sự tăng vọt của điện

trở và sự suy giảm của độ thông điện tại vùng huyệt châm cứu. Ngời ta còn

nhận thấy rằng khi chức năng của hệ giao cảm bị giảm sút, thì điện trở của

huyệt tăng lên và độ thông điện giảm xuống [75]

Anne Jean Blanc [42] cho rằng tính điện trở thấp ở các huyệt vị là do

hàm lợng oxy khuếch tán ở các mô trong vùng huyệt tăng.

Niboyet J.E.H [76] khi nghiên cứu các tính chất điện trở của vùng da đã

xác nhận điện trở da tại huyệt thấp hơn nhiều so với vùng da xung quanh. Liên

quan tới tính chất này mà tính dẫn điện vùng da tại huyệt cũng cao hơn so với

vùng da xung quanh nó.

Ngời ta nhận thấy, điện trở da và độ thông điện qua da vùng huyệt so

với vùng quanh huyệt có sự khác biệt rõ. Da vùng huyệt có điện trở thấp và độ

thông điện cao hơn da vùng xung quanh huyệt [42].

Ngời ta còn nhận thấy rằng, khi chức năng hệ thần kinh giao cảm bị

giảm sút thì điện trở của huyệt tăng lên và điện thế giảm xuống [74].

E.V. Popov cho rằng: huyệt là vùng da nhạy cảm hơn với đau, là nơi

tăng hấp thụ oxy, tăng mức độ chuyển hoá và có hiện tợng điện. Đặc biệt ở

đây điện trở da thấp [73][75].



33



Niboyet và cộng sự (1973, 1975) cho biết ĐTĐ qua da của động vật thí

nghiệm cũng có những vùng điện trở thấp và ĐTĐ cao nh ở ngời [73],[76].

1.4.2.2. Nghiên cứu ở trong nớc

Lê Minh nghiên cứu điện trở của 99 huyệt trên 25 30 nam giới khoẻ

mạnh thấy rằng: ở những huyệt gần trung khu thần kinh và tim có điện trở

thấp hơn, nhất là ở vùng gần đỉnh đầu. Điện trở vùng huyệt không giống nhau.

Điện trở cao hay thấp không phụ thuộc vào huyệt đầu kinh hay cuối kinh. Hai

huyệt cùng nằm trên một kinh thì huyệt ở vùng thân trên có điện trở thấp hơn

ở vùng thân dới. Trên cùng một chi thì các huyệt ở vùng thân trên có điện trở

thấp hơn ở vùng thân dới. Trên cùng một chi thì các huyệt ở kinh âm có điện

trở thấp hơn ở kinh dơng, ở ngời nhiều tuổi điện trở huyệt có xu hớng tăng lên

[69].

Vũ Thờng Sơn đã nghiên cứu ĐTĐ, ĐTD ở 10 huyệt điều trị phục hồi

vận động cho 50 bệnh nhân liệt nửa ngời do tai biến mạch máu não do tăng

huyết áp thấy rằng. Sau khi điện châm ĐTĐ ở đa số các huyệt tăng lên rõ rệt

so với trớc điện châm, ĐTĐ dao động theo các hớng khác nhau tuỳ từng

huyệt. Nhìn chung sau điện châm có tác dụng điều trị phục hồi vận động tốt

và có sự ổn định của ĐTĐ, ĐTD tại các huyệt về mức bình thờng [46].

Phan Thị Nhung sau khi điện châm 30 bệnh nhân liệt nửa ngời do tăng

huyết áp kết luận: Điện châm có tác dụng phục hồi tốt cho bệnh nhân di

chứng nhồi máu não, số bệnh nhân có cải thiện độ liệt là 76%. Điện châm

điều trị di chứng nhồi máu não gây biến đổi một số chỉ số sinh học theo hớng

giảm ĐTĐ sau 1 tháng điều trị. ĐTĐ ở các huyệt bên sau 1 tháng trở về gần

mức ĐTĐ các huyệt bên lành [42].

Nguyễn Thị Vân Thái (2002) nghiên cứu 20 bệnh nhân bị viêm quanh

khớp vai đợc điều trị bằng phơng pháp tác động cột sống thấy: Độ thông điện

giảm 15 - 30% và điện trở da tăng gấp 1,5 lần so với trớc điều trị [49].



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (101 trang)

×