1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

2 Cơ sở lý thuyết của phân tích kỹ thuật

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (645.24 KB, 36 trang )


Chương III: Phân tích Kĩ thuật18



* Xu thế cấp 2:

Trên diễn biến của xu thế cấp 1 có điểm ngắt quãng đó là xu thế cấp 2. Xu thế này có thể đi

ngược chiều với xu thế cấp 1, nhưng nó là sự điều chỉnh của xu thế cấp 1. Có hai tiêu chí để

nhận định một xu thế cấp 2: Tất cả những chuyển động của giá ngược hướng với xu thế cấp

1 kéo dài ít nhất 3 tuần và kéo hoàn lại ít nhất 1/3 mức biến động thức của xu thế cấp 1 (tính

từ điểm kết thúc biến động cấp 2 trước đó đến biến động cấp 2 này, bỏ qua những dao động

nhỏ) thì được coi là thuộc loại trung gian hay còn gọi là biến động cấp 2. Mặc dù đã có những

tiêu chí để xác định một xu thế cấp 2 nhưng vẫn có những khó khăn trong việc xác định thời

điểm hình thành và thời gian tồn tại của xu thế.



.



* Xu thế cấp 3 hay còn gọi là xu thế nhỏ (Mirro)

Đây là những xu hướng ngắn hạn chỉ kéo dài vài giờ hoặc vài ngày. Theo lý thuyết của Dow

thì bản thân các xu thế này không mang nhiều ý nghĩa nhưng chúng góp lại thì góp phần tạo

nên các xu thế trung gian.

3.2.2 Lý thuyết lô lẻ:

Giao dịch lô lẻ là các giao dịch có khối lượng nhỏ hơn một đơn vị giao dịch. Lô lẻ thường

phát sinh do việc trả cổ tức bằng cổ phiếu, phát hành cổ phiếu thưởng, tách cổ phiếu hoặc

thực hiện quyền mua cổ phiếu…

Lý thuyết lô lẻ giả định các nhà đầu tư chứng khoán nhỏ là những người không chuyên

nghiệp, họ hạn chế về năng lực tài chính cũng như thông tin, khả năng xử lí thông tin dẫn đến

khó thực hiện chính xác thời cơ kinh doanh. Nếu thỉ lệ đặt mua theo lô lẻ càng cao thì thị

trường càng có nhiều khả năng giảm giá và nếu tỉ lệ những lệnh đặt bán theo lô lẻ càng cao

thì thị trường càng có xu hướng tăng giá.

Để đảm bỏa hiệu quả của thị trường các SỞ giao dịch Chứng khoán đều quy định đối với

những giao dịch lô lẻ. Các giao dịch này diễn ra trên Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị

trường OTC thông qua cơ chế giao dịch thương lượng và thỏa thuận giữa nhà đầu tư với công

ty chứng khoán. Giao dịch lô lẻ không được đưa vào so ghép lệnh trên hệ thông định giá của

thị trường tập trung.



Chương III: Phân tích Kĩ thuật19

Gía thực hiện trong các giao dịch lô lẻ có thể được xác định trên cơ sở lấy giá giao dịch của

loại chứng khoán đó trên Sở giao dịch chứng khoán chiết khấu theo một tỷ lệ thỏa thuận so

với thị giá hoặc do Công ty chứng khoán thỏa thuận với khách hàng.

Ở Việt Nam, trên HOSC và HASTC, theo quy định của Ủy Ban Chứng Khoán, giao dịch lô

lẻ có số lượng thường từ 1 đến 9 cổ phiếu(trường hợp lô chẵn là 10 cổ phiếu), từ 1 đên

99(trường hợp lô chẵn là 100 cổ phiếu) và chỉ có các Công ty chứng khoán mới được thực

hiện các giao dịch lô lẻ trực tiếp với khách hàng theo giá thỏa thuận.



3.2.3 Lý thuyết về hợp đồng bán khống

Hợp đồng bán khống ám chỉ số lượng cổ phiếu bán khống và chưa mua lại được lại. Vì vị thế

khống sẽ phải được trang trải bằng việc mua vào cổ phiếu, do vậy một số nhà phân tích tin

rằng vị thế khống sẽ tạo lên một áp lực làm giảm giá chứng khoán tăng lên.

Trên thị trường chứng khoán, hoạt động bán khống diễn ra như sau: các nhà đầu tư bán khống

cho rằng một cổ phiếu được định giá quá cao nào đó sẽ mất giá mạnh trong thời gian tới. Do

đó, họ mượn cổ phiếu này từ một công ty môi giới và bán ra luôn khi mức giá còn cao.

Nếu giá sụt giảm, họ sẽ mua lại cổ phiếu này và trả lại cho công ty môi giới và thu lời. Còn

trong trường hợp giá cổ phiếu đó tăng, họ vẫn phải mua lại cổ phiếu để trả cho công ty môi

giới, nhưng phải chịu lỗ.

Lý thuyết về bán khống giải thích rằng nếu khối lượng của lệnh bán khống càng nhiều thì số

lượng chứng khoán phải mua vào trong tương lai càng lớn. Do đó giá của chứng khoán càng

có xu hướng tăng giá trong tương lai. Đối với mỗi loại chứng khoán, số lượng chứng khoán

càng cao thì triển vọng tăng giá sau đó càng lớn.

3.2.4 Lý thuyết chỉ số tin cậy

Chỉ số tin cậy Barron là tỷ lệ so sánh về lợi suất giữa các trái phiếu thứ hạng cao và trái phiếu

thứ hạng thấp. Nếu chỉ số tin cậy tăng, các nhà đầu tư sẵn sàng chấp thuận rủi ro và đầu tư

vào những cổ phiếu có thứ hng định mức tín nhiệm thấp hơn nhưng có lãi suất cao hơn.



Chương III: Phân tích Kĩ thuật20

3.3 Vai trò và vị trí của phân tích kỹ thuật trong phân tích đầu tư chứng khoán

- Thứ nhất .Phân tích kỹ thuật là dựa vào dữ liệu quá khứ của giá để dự đoán xu hướng tương

lai của giá. Đó là định nghĩa cơ bản nhất, ngắn gọn nhất về phân tích kỹ thuật.

Như vậy chúng ta thấy cái được nghiên cứu ở đây là giá. Chúng ta phải luôn bám sát giá

(Price). Giá chính là cái chúng ta nghiên cứu, cũng như kết quả phân tích kỹ thuật phải trả lời

được câu hỏi giá sẽ thế nào .



.



- Thứ hai, phân tích kỹ thuật dự báo xu hướng tương lai của giá. Xu hướng (trend) rất quan

trọng trong phân tích kỹ thuật, nhất là xu hướng của giá trong quá khứ



.



- Thứ ba, chúng ta thấy được phân tích kỹ thuật là dự báo. Giá không nhất thiết phải đi theo

đúng phân tích kỹ thuật mà cũng có thể có sai lệch, những dự báo của chúng ta đưa ra không

đúng với những gì xảy ra. Phân tích kỹ thuật sẽ là căn cứ để chúng ta đưa ra các quyết định

của xem nên đầu tư vào loại trái phiếu nào. Dự báo bị sai (trong trường hợp đã sử dụng đúng

phân tích kỹ thuật) cũng là một điểm rất quan trọng, chứa đựng những thông tin quý giá.

Để dự báo xu hướng của giá, người ta sử dụng các kỹ thuật phân tích và công cụ phân tích

Các kỹ thuật phân tích có thể là đồ thị giá (Price Chart, Volume Chart, Point and Figure

Chart,...), các dạng biểu đồ (Chart Formation, Candlestick...). Các công cụ có thể là các chỉ số

(Indicator), các công thức (Formula), các đường (Line), các hình (Form)..



.



Trên đây, chúng ta đã bàn về những khái niệm cơ bản nhất của phân tích kỹ thuật. Đó là sử

dụng các kỹ thuật và công cụ phân tích dữ liệu giá quá khứ để dự báo xu hướng tương lai của

giá.

3.4 Các loại biểu đồ:

Hiện nay trên Thị trường chứng khoán có loại biểu đồ được các chuyên viên phân tích dùng

ba loại biểu đồ: Biểu đồ dạng đường( Line Chart), biểu đồ dạng then chắn(Bar chart), biểu đồ

dạng ống(Candlestick chart).

Biểu đồ dạng đường (Line chart)

Biểu đồ dạng đường thường được dùng trên thị trường chứng khoán mới đi vào hoạt động

trong thời gian ngắn, khớp lệnh theo định kỳ theo từng phiên hoặc nhiều lần trong một phiên



Chương III: Phân tích Kĩ thuật21

nhưng mức độ giao dịch chưa thể đạt được như thị trường chứng khoán dùng phương thức

khớp lệnh liên tục.

Ví dụ về dạng biểu đồ dạng đường (line chart):



Chương III: Phân tích Kĩ thuật22



Ưu điểm: Của loại biểu đồ này là dễ sử dụng, khi nhìn vào dạng biểu đồ này các nhà phân

tích có thể dễ dàng xác định xu hướng biến động giá.

Nhược điểm: Biểu đồ dạng đường không mang lại hiệu quả cao với các thị trường mang

tính phức tạp và mức độ dao động trong thời gian ngắn với độ lệch khá cao.

Biểu đồ dạng then chắn (Bar chart)

Ví dụ về dạng biểu đồ dạng then chắn (Bar chart):



Các kí hiệu mà dạng biểu đồ này sử dụng đó là:



Ưu điểm: Loại biểu đồ này phản ánh khá trung thực và đầy đủ biến động giá của thị

trường .Loại biểu đồ này thường được áp dụng để phân tích trên các Thị trường chứng khoán



Chương III: Phân tích Kĩ thuật23

hiện đại khớp lệnh theo hình thức khớp lệnh liên tục, độ dao động của giá chứng khoán trong

một phiên giao dịch là tương đối lớn.

Nhược điểm: Biểu đồ dạng thanh chắn thường khó sử dụng khó nhìn đặc biệt là với người

mới tiếp xúc phân tích kĩ thuật.

Biểu đồ dạng ống (Candlestick chart)

Ví dụ về dạng biểu đồ dạng ống (Candlestick chart)



Đây là dạng biểu đồ cải tiến của biểu đồ dạng then chắn (Bar chart), nó được người Nhật Bản

khám phá và áp dụng trên Thị trường chứng khoán của họ đầu tiên. Hiện nay dạng biểu đồ

candlestick đang dần được phổ biến hầu hết trên các Thị trường chứng khoán hiện đại trên

toàn thế giới. Dạng biểu đồ này phản ánh rõ nét nhất về sự biến động của giá chứng khoán

trên thị trường chứng khoán khớp lệnh theo hình thức khớp lệnh định kỳ.

Các kí hiệu mà loại biểu đồ này sử dụng là:



Ghi chú: Trong khi sử dụng biểu đồ dạng candlestick một ngày được coi là tăng giá (white

body)nếu giá đóng cửa cao hơn giá mở cửa, một ngày được coi là giảm giá (black body) khi

giá đóng cửa thấp hơn giá mở cửa.



Chương III: Phân tích Kĩ thuật24

Ưu điểm: Biểu đồ dạng ống không những cho ta thấy biến động giá cổ phiếu trong ngày mà

còn chỉ rõ ra ngày đó là ngày tăng giá hay giảm giá nhờ đó mà các biến động giá trở nên dễ lý

giải và phân tích hơn. Bên cạnh đó biểu đồ này còn có một số mô hình áp dụng trong dự báo

xu hướng biến động giá chứng khoán.

Nhược điểm: Biểu đồ dạng ống khá phức tạp và đối với những người mới tiếp cận Phân tích

kĩ thuật. Ngoài ra nếu các nhà đầu tư chưa nắm vững các nguyên lý cơ bản của Phân tích kĩ

thuật mà đã vội áp dụng các mô hình dự báo xu hướng của dạng biểu đồ candlestick thì sẽ dễ

mắc sai lầm.

3. 4 Nguồn thông tin:

- Thông tin về các chỉ số chứng khoán, có thể dễ dàng tìm được trên các trang web của công

ty chứng khoán. Ví dụ :http://priceboard.fpts.com.vn/user/stock/thong-ke/



Chương III: Phân tích Kĩ thuật25



Chương III: Phân tích Kĩ thuật26

Nguồn thông tin này là cơ sở để chúng ta áp dụng các phương pháp phân tích kĩ thuật. Dưới

đây là xu thế giá của ACB trong 1 tháng



Chương IV: Học thuyết kì vọng hợp lý – Rational Expectation27



IV Họchuyết kì vọng hợp lý



4.1. Thị trường xác định giá cổ phiếu như thế nào ?

Khi cân nhắc mua một chứng khoán, chúng ta phải xem xét về dòng tiền tương lai của chứng

khoán này. Trong khi đó có nhiều yếu tố ta không biêt chắc chắn. Người mua với thông tin

tốt nhất về dòng tiền sẽ chiết khấu dòng tiền với tỉ lệ lãi suất thấp hơn người có thông tin

không chắc chắn.

Giả định chúng ta cân nhắc mua một chứng khoán với mong đợi nó sẽ trả cổ tức 2$ vào năm

tới. Những nhà phân tích thị trường mong đợi hãng sẽ có tốc độ phát triển với tỉ lệ 3%. Nếu

bạn là người không chắc chắn về cả dòng cổ tức trả hàng năm cũng như sự chính xác của tốc

độ phát triển, bạn phải bù đắp cái rủi ro đó và đòi hỏi tỉ lệ triết khấu hay tỉ lệ thu nhập đòi hỏi

là 15%.

Giả định cô Giang, một nhà đầu tư khác, đã có thông tin từ một gián điệp công nghiệp

(industry insiders) và cảm thấy tự tin về dòng tiền. Chính vì thế, rủi ro dự đoán của cô Giang

thấp hơn rủi ro của bạn, cô đưa ra tỉ lệ chiết khấu thấp hơn – 12%.

Thầy Hùng, mặt khác có quan hệ thân thiết với CEO của công ty. Thầy biết chắc chắn hơn về

tương lai của hãng, và vì thế chỉ đòi hỏi tỉ lệ thu nhập đòi hỏi là 10%.

Ứng dụng mẫu định giá cổ phiếu: P0 = D1/(k-g) , chúng ta biết được giá mà mỗi người xác

định cho cổ phiếu.

Nhà đầu tư



Tỉ lệ triết khấu



Giá cổ phiếu



Bạn



15%



$16,67



Cô Giang



12%



$22,22



Thầy Hùng



10%



$28,57



Ví dụ. P0 = 2/(12%-3%) = 22,22 $

Bạn sẵn sàng trả giá 16,67$, cô Giang sẵn sàng trả giá 22,33$, thầy Hùng sẵn sàng trả giá

28,57$. Nếu trên thị trường chỉ có 3 người, giá thị trường sẽ ở giá 22,22$ và 28,57$.



Chương IV: Học thuyết kì vọng hợp lý – Rational Expectation28

Từ đây chúng ta có thể thấy rằng, trên thị trường, mỗi nhà đầu tư đánh giá chứng khoán một

cách khác nhau. Khi có một thông tin mới được tiết lộ về hãng, kì vọng thay đổi và với họ

giá thay đổi. Thông tin mới có thể ảnh hưởng đến cổ tức kì vọng trong tương lai hay rủi ro

của những chứng khoán đó. Bởi vì người tham gia thị trường không ngừng nhận được những

thông tin mới và từ đó xem lại kì vọng của họ. Nó là hợp lý khi cho rằng giá chứng khoán

cũng thường xuyên thay đổi.

Chính sách tiền tệ và giá chứng khoán.

Giả định Ngân hàng nhà nước thông báo sẽ giảm lãi suất cơ bản. Từ đây chi phí cơ hội của

việc đầu tư vào chứng khoán hay lãi suất các ngân hàng thương mại giảm, dẫn đến các nhà

đầu tư sẽ giảm tỉ lệ triết khấu hay giảm k. Đồng thời giảm lãi xuất có xu hướng kích thích nền

kinh tế và tốc độ tăng trưởng g của hãng có xu hướng tăng lên. Ảnh hưởng tăng g giảm k là

cho mẫu số của phương trình (1) giảm và làm giá cổ phiếu tăng lên.



4.2. Học thuyết kì vọng hợp lý.

Phân tích về định giá chứng khoán ở trên tùy thuộc vào kì vọng của mỗi nhà đầu tư, đặc biệt

là kì vọng vào dòng tiền. Đó là lý do tại sao việc kiểm tra cái kì vọng được thành lập như thế

nào là rất quan trọng.

Trong những năm 50,60 của thế kỉ 20, các nhà kinh tế thành lập kì vọng của họ chủ yếu vào

những dữ liệu thống kê trong quá khứ. Trên thực tế, nhà đầu tư thành lập kì vọng dựa trên cả

thông tin hiện tại và tương lai như chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, họ thường xuyên

thay đổi kì vọng của họ dựa trên những thông tin mới có được. Và học thuyết kì vọng hợp lý

ra đời.

“ Kì vọng sẽ bằng với dự đoán tốt nhất sử dụng tất cả những thông tin có được ”

Xe = Xof



X: biến được dự đoán

Xe kì vọng về biến đó

Xof dự đoán tốt nhất sử dụng tất cả những thông tin có được



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (36 trang)

×