1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Xuất nhập khẩu >

BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI VIỆT NAM.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (475.48 KB, 83 trang )


kinh tế khu vực và thế giới.Cĩ thể khái quát những kết quả đạt được trong hoạt

động xuất khẩu của nước ta thời gian qua như sau:

Trước hết, cơ cấu hàng xuất khẩu đã chuyển dịch theo hướng tăng đần

tỉ trọng của hàng cơng nghiệp, dịch vụ, hàng chế biến, giảm dần tỉ lệ hàng

xuất khẩu thơ, sơ chế. Nhiều sản phẩm đã đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ

USD như dầu thơ, dệt may, thủy sản, giày dép; lần đầu tiên các sản phẩm như

gỗ, hàng điện tử đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 1 tỉ USD.

Cơ cấu thị trường đã chuyển dịch theo hướng tích cực, trước đây tập

trung chủ yếu ở các nước ASEAN nay mở rộng sang các nước như Hoa Kỳ,

EU, Nhật Bản. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Châu Á từ

60,5% năm 2001 xuống cịn 47,7% năm 2004. Hiện nay, Hoa Kỳ là thị trường

chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

Nhờ cĩ cơ chế chính sách thương mại ngày càng thơng thống, đang

được bổ sung hồn thiện theo các quy định quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu

đã thu hút được đơng đảo các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế

tham gia; ngồi các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân trong

nước và nhất là các doanh nghiệp cĩ vốn đầu tư nước ngồi đã đĩng gĩp quan

trọng vào mức tăng trưởng xuất khẩu nĩi chung của cả nước.

Tại kì họp thứ 7, Quốc hội khĩa IX đã thơng qua Luật Thương mại (sửa

đổi), đảm bảo thể chế hĩa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về

phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, trong đĩ

xây dựng chính sách thương mại, pháp luật thương mại, tạo hành lang pháp lí

cho phát triển thị trường hàng hĩa và dịch vụ là vấn đề trọng tâm. Luật

Thương mại (sửa đổi) đã điều chỉnh các hoạt động thương mại theo 5 nguyên

tắc phù hợp với điều kiện mới của thương mại trong kinh tế thị trường và hội

nhập kinh tế quốc tế.



65



Thực hiện mục tiêu CNH-HĐH đất nước, Việt Nam xác định thực hiện

Chiến lược cơng nghiệp hĩa hướng về xuất khẩu trong điều kiện hội nhập kinh

tế quốc tế. Tuy nhiên, sự tăng trưởng của xuất khẩu trong hoạt động thương

mại của nước ta cịn bộc lộ một số khĩ khăn hạn chế như sau:

Thứ nhất: tỷ trọng xuất khẩu nguyên vật liệu, hành nơng sản, hàng

cơng nghiệp chế biến, gia cơng chiếm tỉ trọng cao, tỉ trọng hàng cơng nghiệp

chế biến, cơng nghệ cao tuy cĩ gia tăng nhưng vẫn ở mức thấp, hiện nay mới

chiếm 38%. Hơn nữa, tỉ lệ giá trị gia tăng trong tổng giá trị của hàng xuất

khẩu cịn thấp, điều này cho thấy nền kinh tế Việt Nam cịn phụ thuộc nhiều

vào cơng nhiệp phụ trợ vốn chưa được phát triển trong nước, cịn mang nặng

tính chất gia cơng chế biến, xuất khẩu nguyên vật liệu thơ là chư yếu. Đây là

một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm.

Thứ hai: xét về các tiêu chí cạnh tranh của sản phẩm như giá cả, chất

lượng, tổ chức tiêu thụ và thương hiệu của doanh nghiệp thì sức cạnh tranh

của hàng hĩa nước ta thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực và thế

giới. Nhiều sản phẩm và doanh nghiệp trong nước nhất là doanh nghiệp nhà

nước cịn tồn tại được là do dựa vào chính sách bảo hộ, trợ cấp của nhà nước.

Điều này phản ánh ở chỉ tiêu chất lượng giá cả hàng hĩa. Theo lộ trình hội

nhập Việt Nam sẽ phải mở cửa mạnh hơn thị trường hàng hĩa dịch vụ cho các

doanh nghiệp nước ngồi, do đĩ, nếu khơng tổ chức cơ cấu lại để nâng cao sức

cạnh tranh, nhiều doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nguy cơ phá sản, giảm thị

phần ngay tại thị trường trong nước…

Thứ ba: khi gia nhập WTO, các hàng raịc nhập khẩu hàng hĩa và đầu tư

sẽ được hạ xuống hoặc bãi bỏ, tạo ra áp lực cạnh tranh với sản xuất kinh

doanh trong nước. Do vậy, nếu khơng nâng cao sức cạnh tranh của các doanh

nghiệp, chúng ta sẽ mất thị phần trong nước đối với nhiều loại hàng hĩa và

dịch vụ. Ngay cả mặt hàng được đánh giá là cĩ khả năng cạnh tranh như dệt

66



may thì sau ngày 01/01/2005 đang gặp phải sức ép rất lớn từ bên ngồi nhất là

từ Trung Quốc và Ấn Độ đối với cá+c thị trường như Mỹ và EU.

2.2. Các biện pháp hỗ trợ thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam

2.2.1. Những đổi mới cơ chế chính sách thương mại

Việt Nam đã chuyển hoạt động ngoại thương chủ yếu từ các doanh

nghiệp nhà nước sang các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ban

hành các văn bản quy định việc tham gia vào các hoạt động ngoại thương của

các cá nhân và doanh nghiệp, theo đĩ các thương nhân hoạt động thương mại

một cách độc lập thường xuyên và cĩ đăng kí kinh doanh được quyền hoạt

động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và

theo các phương thức mà pháp luật khơng cấm.

Nới lỏng các biện pháp quản lí hành chính của Nhà nước trong lĩnh vực

xuất nhập khẩu (được thể hiện tại Quyết định số 11QĐ-TTG tháng 1/1998,

của thủ tướng Chính phủ và nhiều quyết định khác ) .Theo đĩ, từ năm 1989,

quản lí nhà nước trong XNK được nới lỏng dần, cải tiến cấp hạn ngạch và quy

định chỉ tiêu đối với từng loại hàng, giấy phép chuyến và các quy chế khác.

Năm 1993, việc cấp phép XNK từng chuyến đã được chuyển sang 6 tháng

một lần. Từ năm 1994, chỉ cịn áp dụng đối với gạo, gỗ xẻ và xăng dầu. Việc

quản lí hạn ngạch đến nay đang dần được dỡ bỏ, ngồi ra, nhằm tạo điều kiện

hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong hoạt động XNK, Chính phủ cũng nới lỏng

việc kiểm sốt các dịch vụ viễn thơng, giao thơng, hàng hải, hàng khơng.

2.2.2. Ban hành luật thuế XNK và các loại thuế cĩ liên quan

Trước thời kì đổi mới, chế độ” thu quốc doanh” được áp dụng đối với

các cơng ty XNK của Nhà nước: thuế XNK chỉ áp dụng đối với hàng nhập

khẩu phi mậu dịch. Luật thuế XNK, cĩ hiệu lực từ ngày 1/1/1988, đã tạo lập

hệ thống thuế quan để quản lí hoạt động XNK.



67



Để thực hiện nguyên tắc đối xử quốc gia, Luật thuế XNK 1999 đã bổ

sung 3 loại thuế suất: thơng thường, ưu đãi và ưu đãi đặc biệt với danh mục

hàng hĩa theo hệ thống điều hịa mơ tả và mã hĩa ở cấp độ 6 chữ số.

Luật Hải quan trong năm 2001 quy định các phương pháp xác định trị

giá hải quan theo quy định của GATT, quyền kiểm tra sau thơng quan, cải

cách việc quản lí phi thuế quan theo hướng tạo thuận lợi cho các hoạt động

thương mại quốc tế nĩi chung và thúc đẩy xuất khẩu nĩi riêng.

2.2.3. Tích cực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngồi phục vụ cho mục tiêu

thúc đẩy xuất khẩu

Các doanh nghiệp cĩ vốn đâu tư nước ngồi giữ một vị trí rất quan trọng

trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Tính riêng trong năm 2005, tổng

giá trị kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp cĩ vốn đầu tư trực tiếp nước

ngồi là 18,517 tỷ USD chiếm 57.28% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Xuất phát từ đặc điểm của các doanh nghiệp cĩ vốn đầu tư trực tiếp nước là

các doanh nghiệp cĩ cơng nghệ hiện đại, nguồn vốn lớn, tiếp thu kinh nghiệm

quản lí tiên tiến của nước ngồi. Hàng hĩa do các doanh nghiệp cĩ vồn đầu tư

trực tiếp nước ngồi sản xuất ra thường cĩ chất lượng tốt, cĩ sức cạnh tranh trên

thị trường nội địa và quốc tế. Xuất phát từ quan điểm này Đảng và Nhà nước

ta đã tạo mọi điều kiện để thu hút các nhà đầu tư nước ngồi đến đầu tư tại

Việt Nam bằng một loạt các biện pháp như: Ban hành luật đầu tư trực tiếp

nước ngồi, thực hiện các biện pháp khuyến khích đầu tư: nhà đầu tư nước

ngồi được tự chủ trong kinh doanh, tiếp cận nguồn lực đầu tư, XNK, quảng

cáo, mua ngoại tệ.

Ngồi ra, mỗi địa phương bằng những biện pháp riêng của mình thu hút

các nhà đầu tư đến đầu tư tại địa phương như: miễn giảm thuế sử dụng đất,

đào tạo lao động, xây dựng cơ sở hạ tầng…Từ đĩ đã tạo ra được sức hấp dẫn

các nhà đầu tư, kết quả là tính đến hết ngày 20/10/2004 cả nước cĩ 4965 dự án

68



FDI cịn hiệu lực, với tổng vốn đấu tư đăng kí là 44,796 tỷ USD trong đĩ vốn

thực hiện là 25,929 tỷ USD.

2.2.4. Các hoạt động hỗ trợ xúc tiến thương mại phục vụ cho mục tiêu thúc

đẩy xuất khẩu

Nước ta đã xây dựng được hệ thống chính sách khá tồn diện, tạo điều

kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu , xĩa bỏ các rào cản về thủ tục

hành chính, kinh doanh tạo điều kiện thơng thống cho doanh nghiệp, nhất là

trong việc tiếp cận các nguồn vốn, xây dựng quỹ bảo hiểm xuất khẩu hàng

hĩa, quỹ xúc tiến thương mại. Chú trọng xây dựng hệ thống phân phối của các

doanh nghiệp trong phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế. Đẩy mạnh xúc tiến

thương mại ở cấp Chính phủ cho các loại hình doanh nghiệp, xây dựng các tổ

chức xúc tiến cĩ hiệu quả ở các thị trường trọng điểm như: Hoa Kỳ EU Nhật

Bản…Chú trọng thị trường truyền thống và phát triển thị trường mới. Chính

phủ và các tổ chức chuyên trách ( Bộ Thương mại, Cục xúc tiến thương mại

và đầu tư, Viện nghiên cứu Thương mại, Các Thương vụ Việt Nam ở nước

ngồi…) đã cung cấp thơng tin về thị trường cho các doanh nghiệp, đặc biệt là

việc nghiên cứu, phổ biến cho các doanh nghiệp về luật pháp, chính sách

trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hĩa và dịch vụ ở những thị trường chủ

yếu. Cơng tác nghiên cứu hỗ trợ các doanh nghiệp đã được quan tâm đích

đáng, vai trị của hiệp hội trong các vụ tranh chấp thương mại đã được nâng

cao.



69



2.3. Bài học kinh nghiệm trong chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hĩa

của Trung Quốc đối với Việt Nam

2.3.1. Bài học trong việc xây dựng và thực hiện chính sách thúc đẩy xuất

khẩu phù hợp với hồn cảnh cụ thể của đất nước, cĩ sự điều chỉnh nhất

định trước những thay đổi trong từng giai đoạn

Trung Quốc đã chọn phương pháp cải cách kinh tế xã hội và trong đĩ cĩ

cải cách chính sách thúc đẩy xuất khẩu theo phương pháp cải cách tiệm tiến,

đĩ là phương pháp cải cách được các nhà nghiên cứu nhận định là cĩ tính khoa

học trong hồn cảnh cụ thể của Trung Quốc. Việc xây dựng và thực hiện chiến

lược thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc luơn được nghiên cứu và thực hiện

dựa trên mối quan hệ chặt chẽ của tất cả các yếu tố trong nền kinh tế xã hội,

điều này đã giúp Trung Quốc giảm thiểu được những mâu thuẫn giữa các đối

tượng, các thành phần trong nền kinh tế.

Việt Nam cũng đã tiến hành cơng cuộc cải cách trong tồn bộ nền kinh

tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành cơng đã đạt được thì quá trình cải cách

của nước ta vẫn cịn tồn tại nhiều bất cập. Đặc biệt là trong chính sách thúc

đẩy xuất khẩu. Việc xây dựng và thực hiện chính sách cịn gặp nhiều khĩ khăn

như: vẫn cịn tồn tại một khoảng cách khá lớn giữa việc đưa ra chính sách với

việc thực hiện nĩ, chưa đánh giá một cách tồn diện tác động của một chính

sách lên tồn bộ nền kinh tế gây ra tình trạng xung đột lợi ích làm cho việc

thực hiện gặp nhiều khĩ khăn.

Vì vậy, Việt Nam cần chú trọng hơn nữa trong việc xây dựng chính

sách thúc đẩy xuất khẩu ở các phương diện sau:

Một là: nghiên cứu kĩ lưỡng hơn, tồn diện hơn các tác động tích cực

cũng như các mặt tiêu cực của một chính sách trước khi áp dụng vào thực

tiễn. Một chính sách, một cơng cụ hay một biện pháp đưa ra cĩ thể tạo ra

những tác động trái ngược nhau đối với các ngành, các thành phần kinh tế

70



khác nhau vì vậy khi xây dựng chính sách cần xác định rõ mục tiêu đạt được

là gì, ích lợi và thiệt hại cho các ngành, các thành phần kinh tế ra sao để đưa

ra chính sách cho hợp lí.

Hai là: các chính sách, cơng cụ và biện pháp khi đã được đưa vào thực

tiễn cần phải tiếp tục nghiên cứu hồn thiện hơn nữa vì nhiều vấn đề khi

nghiên cứu khơng lường trước được mà nĩ phát sinh trong quá trình thực hiện.

Tuy nhiên, việc điều chỉnh một chính sách, cơng cụ hay biện pháp cần phải

được minh bạch hĩa và hướng dẫn thực hiện một cách kĩ lưỡng giúp các

doanh nghiệp dễ dang trong quá trình thực hiện.



71



2.3.2. Bài học kinh nghiệm trong việc khai thác vai trị của FDI thực hiện

mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu

Trung Quốc đã đạt được những thành cơng đáng kể trong việc khai

thác nguồn vốn FDI thực hiện mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu. Các biện pháp mà

Trung Quốc tiến hành cĩ sự thay đổi rõ rệt trong từng giai đoạn, từng thời kì.

Trong thời gian đầu Trung Quốc thu hút FDI chủ yếu dựa vào lợi thế so sánh

của quốc gia như lao động dồi dào giá rẻ, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong

phú, tuy nhiên, theo thời gian các yếu tố này khơng cịn hấp dẫn các nhà đầu

tư nữa đặc biệt là các nhà đầu tư đến từ các nước cĩ cơng nghệ nguồn, đầu tư

vào các lĩnh vực sử dụng cơng nghệ hiện đại - các đối tượng mà Trung Quốc

đang muơn thu hút đầu tư. Nắm bắt được điều này, Trung Quốc đã chuyển

sang thu hút các nhà đầu tư bằng việc tạo lập một mơi trường pháp lí thơng

thống, đơn giản hĩa các thủ tục hành chính, xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo

lao động. Điều này đã thực sự đem lại hiệu quả thiết thực trong quá trình thu

hút FDI của Trung Quốc và đặc biệt Trung Quốc đã thành cơng trong việc thu

hút FDI vào các ngành định hướng xuất khẩu.

Hiện nay, mơi trường đầu tư của Việt Nam được đánh giá là khá hấp

dẫn nhưng lựng các nhà đầu tư đến Việt Nam chưa thực sự tương xứng với

tiềm năng và với những gì mà Việt Nam mong đợi, cĩ tình trạng như vậy là do

vẫn cịn tồn tại một số vấn đề trong chính sách thu hút FDI của Việt Nam như:

hệ thống luật pháp và chính sách chưa thực sự minh bạch tạo tâm lí bất an cho

các nhà đầu tư, thủ tục xét duyệt và cấp giấy phép đầu tư cịn rườm rà nặng về

thủ tục hành chính. Sự thiếu thống nhất trong quá trình thu hút đầu tư của các

địa phương trong cả nước và sự coi trọng quá mức vai trị của tài nguyên thiên

nhiên và nguồn nhân cơng rẻ trong quá trình thu hút đầu tư.



72



Để thực hiện mục tiêu CNH-HĐH đất nước Việt Nam cần thay đổi

quan điểm về thu hút FDI, cần tập trung vào việc hồn thiện hơn nữa hệ thống

luật pháp và chính sách, đơn giản hĩa các thủ tục hành chính, ngồi ra cần phải

đưa ra các quy định cụ thể hướng dẫn các địa phương trong việc thu hút FDI

tránh tình trạng lộn xộn như hiện nay tại các địa phương. Tập trung thu hút

đầu tư vào các ngành định hướng xuất khẩu thơng qua việc xây dựng hệ thống

cơ sở hạ tầng, đào tạo lao động, tuyên truyền quảng cáo về mơi trường đầu tư

Việt Nam tới các nhà đầu tư nước ngồi.

2.3.3. Bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng các tổ chức và thực hiện

cơng tác xúc tiến thương mại

Xét về quy mơ kinh tế Việt Nam khơng cĩ đủ điều kiện để tiến hành các

hoạt động xúc tiến thương mại rầm rộ như Trung Quốc được nhưng trong

điều kiện hiện tại chúng ta cần chú trọng vào cơng tác xúc tiến thương theo

hướng nâng cao vai trị của các tổ chức chuyên trách, phục vụ các doanh

nghiệp xuất khẩu trong việc cung cấp thơng tin về thị trường nước ngồi, tạo

điều kiện cho doanh nghiệp trong việc giới thiệu sản phẩm tới khách hàng

nước ngồi thơng qua việc tham gia vào các hơi trợ triển lãm quốc tế cũng như

tổ chức các hội trợ triển lãm trong nước để giới thiệu sản phẩm tới khách

hàng nước ngồi.

Ngồi ra, Trung Quốc cịn rất thành cơng trong việc giúp đỡ các doanh

nghiệp trong việc giúp đỡ các doanh nghiẹp trong việc quảng cáo sản phẩm

thơng qua mạng Internet, các đối tác cĩ thể dễ dàng tìm thấy sản phẩm của

Trung Quốc mà họ muốn mua thơng qua mạng Internet, điều này cũng giúp

ích rất nhiều trong việc gia tăng quy mơ xuất khẩu của Trung Quốc mà Việt

Nam cần phải học hỏi.

2.3.4. Bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện cơng tác kiểm sốt chất

lượng hàng hĩa xuất khẩu, hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc xây dựng hệ

thống quản lí chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế

73



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (83 trang)

×