1. Trang chủ >
  2. Giáo Dục - Đào Tạo >
  3. Cao đẳng - Đại học >

b) Phuong châm chi?n lu?c dánh lâu dà

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.8 MB, 136 trang )


hoàng hơn, to đẹp hơn!.

Tự lực cánh sinh cũng là một phương châm chiến lược rất quan trọng, nhằm phát

huy cao độ nguồn sức mạnh chủ quan, tránh tư tưởng bị động trông chờ vào sự giúp đỡ

bên ngoài. Trong tác phẩm Đường kách mệnh, Người chỉ rõ: muốn người ta giúp cho thì

trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã. Tháng Tám (1945) khi thời cơ tổng khởi nghĩa

xuất hiện, Hồ Chí Minh kêu gọi Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy, đem sức ta mà tự giải

phóng cho ta.

Tại Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất (tháng 6-1952), Người nói, muốn

thắng lợi phải trường kỳ gian khổ, muốn trường kỳ phải tự lực cánh sinh.

Mặc dù rất coi trọng sự giúp đỡ quốc tế nhưng Hồ Chí Minh luôn đề cao sức

mạnh bên trong, phát huy đến mức cao nhất mọi nỗ lực của dân tộc, đề cao tinh thần

độc lập tự chủ. Người nói: "Kháng chiến trường kỳ gian khổ đồng thời lại phải tự lực

cánh sinh. Trông vào sức mình... Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng,

nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác"1.

Độc lập tự chủ, tự lực tự cường kết hợp với tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế là một

quan điểm nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong hai cuộc kháng chiến chống

Pháp và chống Mỹ, Người đã động viên sức mạnh của toàn dân tộc, đồng thời ra sức

vận động, tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế to lớn và có hiệu quả, cả về vật chất và tinh thần,

kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để kháng chiến thắng lợi.



III. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc

và cách mạng giải phóng dân tộc trong công cuộc đổi

mới hiện nay

1. Khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc,

nguồn động lực mạnh mẽ để xây dựng và bảo vệ đất nước

Trong sự nghiệp đổi mới, càng phải xác định rõ các nguồn lực và phải phát huy

tối đa các nguồn nội lực (bao gồm con người, trí tuệ, truyền thống dân tộc, truyền thống

cách mạng, đất đai, tài nguyên, vốn liếng...), trong đó yếu tố quan trọng nhất, quyết định

nhất vẫn là nguồn lực con người với tất cả sức mạnh thể chất và tinh thần của nó.

Con người Việt Nam vốn có nhiều truyền thống tốt đẹp. Trong công cuộc đổi mới,

xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, truyền thống quý báu ấy cần được tiếp tục khơi

dậy mạnh mẽ, biến nó thành một nguồn nội lực vô tận để đưa đất nước vượt qua mọi

nguy cơ, thử thách, vững bước tiến lên.



2. Nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trên quan điểm giai cấp

Hồ Chí Minh giải quyết vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong mối quan hệ

thống nhất biện chứng. Trong khi rất coi trọng vấn đề dân tộc, đề cao sức mạnh của chủ

1. Sđd, t.6, tr. 522.



26



nghĩa yêu nước, thì Người cũng luôn luôn đứng vững trên quan điểm giai cấp để nhận

thức và giải quyết vấn đề dân tộc.

Mục tiêu của cách mạng do Hồ Chí Minh và Đảng ta nêu lên thể hiện kết hợp vấn

đề dân tộc và vấn đề giai cấp. Nó chứng tỏ ở Việt Nam chỉ có Đảng Cộng sản và giai

cấp công nhân mới là lực lượng đại biểu trung thành cho lợi ích của dân tộc, mới xây

dựng được mặt trận đại đoàn kết dân tộc để thực hiện được mục tiêu trên.

Vì vậy, đi đôi với tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, cần làm cho tư

tưởng Hồ Chí Minh về sự kết hợp dân tộc và giai cấp, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa

quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được quán triệt sâu sắc trong toàn Đảng,

toàn dân, lấy đó làm định hướng cho việc nhận thức và giải quyết các vấn đề của dân

tộc và của thời đại hiện nay.



27



Chương III

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội

và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở

Việt Nam

I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất và mục tiêu của

chủ nghĩa xã hội

1. Con đường hình thành tư duy Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở

Việt Nam

Hồ Chí Minh tiếp thu những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ

nghĩa xã hội, đã vận dụng và phát triển một cách sáng tạo, đưa ra nhiều kiến giải mới

nhằm bổ sung vào lý luận Mác - Lênin, phù hợp với thực tế Việt Nam.

Trước hết, Hồ Chí Minh luận giải sự ra đời và bản chất của chủ nghĩa xã hội từ

phương diện kinh tế, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Người cho rằng, sự hình

thành, phát triển và chín muồi của chủ nghĩa xã hội là một tất yếu mà nguyên nhân sâu

xa chính là do sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. Trên cơ sở một nền tảng kinh

tế mới, chủ nghĩa xã hội sẽ xác lập một hệ thống, các giá trị đặc thù mang tính nhân bản

thấm sâu vào mỗi quan hệ và lĩnh vực xã hội. Sự thống nhất giữa tính khoa học và tính

giá trị thể hiện rất rõ trong nhận thức của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.

Nét sáng tạo của Hồ Chí Minh trước hết là ở chỗ, Người đến với chủ nghĩa xã hội,

luận giải nó từ khát vọng giải phóng dân tộc và nhu cầu giải phóng con người một cách

triệt để.

Hồ Chí Minh còn tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ văn hóa, đã đưa văn hóa thâm nhập

vào bên trong của chính trị và kinh tế, tạo nên một sự thống nhất biện chứng giữa văn

hóa và chính trị, kinh tế, giữa các mục tiêu phát triển xã hội. Điều này cho thấy, ở Hồ

Chí Minh, chủ nghĩa xã hội chính là một hình thái phát triển của văn hóa, một đỉnh cao

của nền văn minh nhân loại. Do đó, quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã

hội lại càng phải gắn với văn hóa, và chỉ có đứng trên đỉnh cao của văn hóa, chủ nghĩa

xã hội mới có thể phát triển theo đúng quy luật xã hội khách quan, phù hợp với tiến

trình phát triển chung của nhân loại.

Tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ phương diện đạo đức, Hồ Chí Minh cho rằng: chủ

nghĩa xã hội đối lập, xa lạ với chủ nghĩa cá nhân, nhưng không hề phủ nhận cá nhân,

trái lại, đề cao, tôn trọng con người cá nhân, các giá trị cá nhân, phát triển mọi năng lực

28



cá nhân vì phát triển xã hội và hạnh phúc con người. Chủ nghĩa xã hội tạo mọi điều kiện

cho sự phát triển hài hòa giữa cá nhân và xã hội. Xã hội tôn trọng mọi cá nhân, đồng

thời cá nhân biết đề cao lợi ích xã hội, có thể hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích xã hội.

Hồ Chí Minh luận giải tính tất yếu và bản chất của chủ nghĩa xã hội trên cơ sở kế

thừa và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, của phương

Đông. Từ việc phân tích một cách khoa học truyền thống tư tưởng - văn hóa, điều kiện

kinh tế - xã hội của Việt Nam, các nước phương Đông, sự tàn bạo của chế độ thuộc địa

tại các nước đó, Hồ Chí Minh đi đến một nhận thức mới lạ: Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa

cộng sản không những thích ứng được ở châu á, phương Đông mà còn thích ứng dễ hơn

ở châu Âu.

Hồ Chí Minh đã nhận thức tính tất yếu và bản chất của chủ nghĩa xã hội như là kết

quả tác động tổng hợp của các nhân tố: truyền thống và hiện tại; dân tộc và quốc tế;

kinh tế, chính trị, đạo đức, văn hóa. Người không tuyệt đối hóa một mặt nào và đánh giá

đúng vị trí của chúng. Như vậy, Hồ Chí Minh đã làm phong phú cách tiếp cận về chủ

nghĩa xã hội, có những cống hiến xuất sắc vào việc phát triển lý luận Mác - Lênin.



2. Quan niệm của Hồ Chí Minh về đặc trưng bản chất của chủ nghĩa

xã hội

C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, ngay trong điều kiện của xã hội xã hội chủ

nghĩa, nhờ công cuộc cải tạo mang tính cách mạng mà xã hội đã đạt được một trạng thái

phát triển mới về chất: làm cho tất cả mọi tư liệu sản xuất trở thành tài sản chung của

toàn xã hội, qua đó tạo điều kiện để phát triển kinh tế theo một kế hoạch thống nhất, bảo

đảm tính chất xã hội của lao động; theo nguyên tắc "làm theo năng lực, hưởng theo lao

động"...

V.I. Lênin đã phát triển học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen, Người cho rằng,

trong xã hội xã hội chủ nghĩa, một mặt, có chế độ sở hữu nhà nước về tư liệu sản xuất

quan trọng, mặt khác, có các xí nghiệp hợp tác (nghĩa là xí nghiệp không phải của toàn

dân), xã viên hợp tác xã. Như vậy họ cũng như công nhân đều là những người đại biểu

cho phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa. Theo V.I. Lênin, việc tiến lên chủ nghĩa

xã hội không loại trừ nền sản xuất hàng hóa do giai cấp công nhân tổ chức. V.I.

Lênin đề ra việc sử dụng các quan hệ hàng hóa - tiền tệ và những phạm trù liên quan tới

chúng như hàng hóa, giá cả, lợi nhuận, hạch toán kinh tế. Đồng thời, việc phân phối

phải được xây dựng nhờ các quan hệ hàng hóa - tiền tệ, thương nghiệp, chứ không phải

xây dựng trên việc cung cấp trực tiếp từ nguồn dự trữ của xã hội, trên việc trao đổi sản

phẩm trực tiếp.

Từ những điểm đã trình bày ở trên, có thể rút ra một số kết luận: Một là, thực tiễn

sinh động là cơ sở xây dựng quan điểm về các đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội.

Hai là, các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội được các nhà kinh điển đưa ra có ý nghĩa

trong cuộc đấu tranh chống lại tư tưởng, học thuyết phi mácxít nhằm giành thắng lợi

29



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (136 trang)

×