1. Trang chủ >
  2. Khoa học xã hội >
  3. Văn hóa - Lịch sử >

MỘT SỐ GIẢI PHÁP XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CHO CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (511.84 KB, 91 trang )


cộng đồng, đem lại lợi ích ngày càng nhiều hơn cho người lao động, đời

sống vật chất và tinh thần được cải thiện theo mục tiêu ngày càng phát

triển”. Phương hướng này có điểm mấu chốt là phát triển sản xuất và thực

hiện công bằng xã hội. Tiếp đó, Đảng ta cũng chỉ rõ : “Thực hiện tốt

chương trình xoá đói giảm nghèo nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, và

đồng bào dân tộc thiểu số. Xây dựng và phát triển quỹ xoá đói giảm nghèo

bằng nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước, quản lý chặt chẽ đầu tư đúng

đối tượng và có hiệu quả. Tổ chức tốt đời sống xã hội trên từng địa bàn

trong điều kiện thu nhập bình quân đầu người còn thấp vẫn tạo một cuộc

sống khá hơn cho nhân dân. Mở rộng diện các xã có điện, đường, trường

học, trạm y tế, có nước sạch…”.

Như vậy, giải quyết đói nghèo, không chỉ đơn thuần trong kinh tế mà

phải liên kết kinh tế –xã hội. Xoá đói giảm nghèo không thể thụ động bằng

các biện pháp nhất thời hoặc thuần tuý cứu trợ. Về cơ bản phương hướng

xoá đói giảm nghèo phải tìm thấy ở sản xuất gốc rễ của xoá đói giảm nghèo

và phát triển bền vững. Mặt khác, đói nghèo ở nước ta lại xuất phát từ hai

nguyên nhân: nó vừa là hậu quả của nghèo nàn lạc hậu, lại vừa là hậu quả

của phân hoá trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nên các biện pháp xoá

đói giảm nghèo cũng cần phải đồng bộ để giải quyết triệt để đói nghèo.

2.



Mục tiêu

Để thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo cần phải thực hiện các mục



tiêu về phúc lợi xã hội vì các mục tiêu này đều có liên quan đến tình hình

nghèo đói ở nước ta.

Giải quyết các vấn đề xã hội luôn là mối quan tâm lớn của Đảng và

Nhà nước ta, mục tiêu tổng quát về xã hội đến năm 2020 là ở nước ta sẽ

không còn gia đình nào sống trong tình trạng nghèo khổ, mỗi người dân đều

có cuộc sống no đủ, có mức hưởng thụ khá về văn hoá và sánh vai với các

nước trong khu vực và trên thế giới. Để thực hiện mục tiêu tổng quát này

cần thực hiện các mục tiêu :

56



Một là, mục tiêu xoá đói giảm nghèo đến năm 2005, xoá cơ bản nạn

đói kinh niên, giảm tỷ lệ nghèo xuống dưới 10%, riêng miền núi con số này

nhỏ hơn 30%. Đối với vùng sâu, vùng cao, vùng xa là những nơi khó có cơ

hội để thoát ra cảnh nghèo đói thì mục tiêu đặt ra là 100% dân số định cư.

Nếu như có các hộ ở miền xuôi chủ yếu nghèo vì nguyên nhân thiếu tư liệu

sản xuất, thiếu vốn, tri thức làm ăn, thì các hộ nghèo ở miền núi còn bị chi

phối bởi diều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, địa hình phức tạp cản trở, cơ sở

hạ tầng kém phát triển, môi trường suy thoái …Do vậy, ở vùng cao, vùng

xa cần có những chương trình mục tiêu toàn diện lâu dài hơn. Đặc biệt tập

trung vào các xã đặc biệt khó khăn.

Hai là, mục tiêu công bằng xã hội, thu hẹp dần khoảng cách về trình

độ phát triển của mức sống dân cư giữa các vùng, các dân tộc, các tầng lớp

dân cư, đặc biệt giữa vùng nông thôn và thành thị. Để đảm bảo rút ngắn

khoảng cách về thu nhập, cần duy trì một tốc độ cao về kinh tế đô thị nhưng

đồng thời cần chú trọng đẩy nhanh tốc độ phát triển của nông thôn, nhất là

vùng nghèo để giải quyết vấn đề này cần thực thi một chiến lược công

nghiệp đi từ nông nghiệp nông thôn.

Ba là, mục tiêu của chương trình dinh dưỡng quốc gia từng bước nâng

cao thể trạng và tầm vóc của người Việt Nam. Giảm tỷ lệ suy sinh dưỡng ở

trẻ em dưới 5 tuổi năm 2005 xuống dưới 22-25%.

Bốn là, nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực

tạo điều kiện cho nhân dân có thể tiếp cận với các nguồn thông tin mới.

Năm là, mục tiêu tỷ lệ học sinh trung học cơ sở đi học trong tuổi đạt

80%, tỷ lệ học sinh phổ thông trung học đi học trong độ tuổi 45% vào năm

2005.

Tiếp tục củng cố và duy trì mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học. Thực

hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở.



57



3.



Quan điểm

Thứ nhất, Xoá đói giảm nghèo phải trở thành một bộ phận cấu thành



trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước, gắn với tăng trưởng

kinh tế. Đói nghèo là vấn đề xã hội, song nguyên nhân cơ bản lại bắt nguồn

từ kinh tế. Vì vậy, xoá đói giảm nghèo phải trên cơ sở phát triển kinh tế xã

hội của đốt nước và từng địa phương cơ sở. Hai nhân tố giúp Việt Nam

thành công trong cuộc giảm nghèo đói giai đoạn 1993-1998 là: Tăng trưởng

kinh tế mạnh và tác động lớn của tăng trưởng đối với nghèo đói. Ở nước ta

kết quả phân chia cho thấy nghèo đói đã được giảm đáng kể nhờ có tăng

trưỏng cao trong giai đoạn 1993-1998. Kể cả dù tình trạng bất bình đẳng

cũng đã tăng lên khá mạnh trong thời gian đó. Mặc dù vậy nhưng chúng ta

có được một cú huých mạnh cho tăng trưởng xét về mặt giảm nghèo đói.

Tuy nhiên không được quá đề cao tầm quan trọng của tăng trưởng kinh tế

trong cuộc nâng cao mức sống của người dân. Chúng ta xác định xoá đói

giảm nghèo là một bộ phận cấu thành trong chiến lược phát triển kinh tế xã

hội của đất nước và từng địa phương, nhằm mục tiêu “Dân giàu nước

mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Để từ đó có định hướng thích hợp

trong xoá đói giảm nghèo. Tăng trưởng kinh tế phải nhằm mục tiêu xoá đói

giảm nghèo, vì người nghèo, nếu không mối quan hệ hữu cơ đó sẽ tạo ra

khoảng cách chênh lệch giàu- nghèo và chênh lệch giữa các vùng trong cả

nước.

Thứ hai, xoá đói giảm nghèo phải thực hiện công bằng xã hội, phải

quan tâm và tập trung đầu tư cho vùng sâu, miền núi, hải đảo, để đồng bào

vùng này có điều kiện phát triển kinh tế, từng bước thoát khỏi nghèo đói,

hoà nhập xu thế đi lên của cộng đồng.

Một trong những nguyên nhân cơ bản gây nên sự đói nghèo là sự thiếu

vốn sản xuất và hệ thống kết cấu hạ tầng. Vì vậy cần có chính sách đầu tư

thoả đáng và giúp đỡ những người nghèo để họ có khả năng tiếp cận văn

hoá, kỹ thuật.

58



Trong cơ chế hiện nay tình trạng phân hoá giàu nghèo ngày càng một

tăng, để khắc phục tình trạng này, nghị quyết trung ương 4 khoá VIII đã

khẳng định: Phải phân hoá đối tượng lao động (đất đai, tài nguyên) tư liệu

sản xuất, kết quả lao động thế nào để đảm bảo công bằng xã hội. Khuyến

khích làm giàu hợp pháp nhưng phải chăm lo xoá đói giảm nghèo. Phát

triển kinh tế phải đi đôi với thực hiện công bằng xã hội, thu hẹp dần khoảng

cách giữa thành thị với nông thôn, giữa thành thị với thành thị, giữa nông

thôn với nông thôn, giữa các tầng lớp xã hội.

Thứ ba, xoá đói giảm nghèo phải được xã hội hoá theo mô hình nhà

nước- nhân dân- các tổ chức đoàn thể cùng làm, theo phương châm: Người

nghèo tự vươn lên là chính, cộng với hỗ trợ một phần của Nhà nước, đóng

góp của nhân dân, của các doanh nghiệp, tổ chức đoàn thể tổ chức quốc tế

nhằm mục tiêu xoá đói giảm nghèo. Từ kết quả xoá đói giảm nghèo trong

những năm qua cho thấy cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, ngành,

đoàn thể từ trung ương đến địa phương, cơ sở và lồng ghép xoá đói giảm

nghèo với các chương trình phát triển kinh tế xã hội khác, tạo môi trường

thuận lợi cho người nghèo đảm bảo tính bền vững và là yếu tố quyết định

để mục tiêu xoá đói giảm nghèo đạt kết quả.

Phát huy nội lực là chính không ngừng mở rộng hợp tác đầu tư quốc tế

nhằm mục tiêu xoá đói giảm nghèo. Cần tranh thủ và sử dụng có hiệu quả

sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế về kỹ thuật tài chính, nhất là đầu tư cho

cơ sở hạ tầng và giáo dục- đào tạo để thực hiện mục tiêu đề ra.

Để thực hiện thành công xoá đói giảm nghèo cần phải phát huy vai trò

của các tổ chức đoàn thể trong triển khai thực hiện chương trình.

II.



MỘT SỐ GIẢI PHÁP XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CHO VÙNG MIỀN

NÚI PHÍA BẮC ĐẾN NĂM 2005.



Chính phủ đã nhận thấy rằng, nếu muốn tiếp tục giảm nghèo đói sẽ phải

có những hành động kiên quyết hơn trong nhiều lĩnh vực. Ngày càng có

nhiều bằng chứng ở Việt Nam và trên thế giới cho phép khẳng định rằng

59



thường phải có những hoạt động ở nhiều ngành thì mới đạt được những kết

quả tích cực trong việc cải thiện đời sống của nhân dân. Nghĩa là kể cả khi

có những khoản đầu tư lớn để phát triển con người với mục tiêu tạo nên một

xã hội khoẻ mạnh và có trình độ cũng không thể chống lại nghèo đói nếu

như quản lý kinh tế yếu kém và không làm tăng thu nhập do không tăng

trưởng và không có cơ hội tạo thêm thu nhập. Tuy nhiên, nói đấu tranh

chống nghèo đói trên tất cả các mặt trận không hề có nghĩa là chúng ta phải

thực hiện mọi công việc cùng một lúc. Để xác định thứ tự ưu tiên phải làm

rõ được những khâu ách tắc, những trở ngại trên đường thành công và đột

phá vào các ách tắc đó trước tiên. Và để đảm bảo rằng các ưu tiên trên được

lựa chọn phản ánh đúng mối quan tâm của người nghèo thì cần phải thu hút

họ vào quá trình lập kế hoạch có sự tham gia của người đó.

1.



Phát triển nông nghiệp nông thôn.

Phát triển nông nghiệp và nông thôn là một giải pháp quan trọng trong



công tác xoá đói giảm nghèo hiện nay ở nước ta, điều đó xuất phát từ hai lý

do sau:

- Việt Nam có nền kinh tế kém phát triển dựa chủ yếu vào sản xuất

nông nghiệp. Đặc biệt sản xuất nông nghiệp ở vùng sâu, vùng xa còn manh

mún, lạc hậu. Do vậy việc phát triển nông nghiệp và nông thôn sẽ là một

trọng tâm quan trọng trong chiến lược tăng trưởng. Đây là một quyết sách

nhất thiết phải có để vừa mang lợi cho quá trình tăng trưởng, vừa là điều

kiện cho sự phát triển của công bằng.

- Đại đa số dân số Việt Nam, lực lượng lao động và người nghèo là ở

nông thôn. Có tới 90% người nghèo sống ở nông thôn, ở đó tình trạng đói

nghèo phổ biến trên 50%, cao gấp 2 lần ở thành thị đặc biệt là các vùng

nông thôn miền núi phía Bắc rất có ít cơ hội thoát khỏi cảnh nghèo đói.

Chiến lược xoá đói giảm nghèo của Chính phủ cần tập trung chủ yếu vào

khu vực nông thôn.



60



1.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động ở nông thôn theo hướng

giảm tỷ lệ thuần nông, tăng dần tỷ trọng lao động phi nông nghiệp trong các

đơn vị sản xuất quy mô nhỏ.

Tiến hành đa dạng hoá ngành nghề, thực hiện nguyên tắc ai giỏi việc gì

thì làm việc nấy, trên cơ sở giao đất ổn định cho các hộ gia đình, đồng thời

thông qua các cơ chế chính sách và các biện pháp cụ thể để từng bước tập

trung ruộng đất vào các hộ gia đình có khả năng sản xuất kinh doanh nông

sản với điều kiện họ phải thu hút thêm người nghèo vào làm việc. Tiến hành

khai hoang cải tạo đất, cố gắng khắc phục diện tích đất nông nghiệp thấp

như hiện nay. Đa dạng hoá việc làm và thu nhập cần trở thành một hình

thức phổ biến ở nông thôn.

Cần phát triển mạnh mẽ ngành nghề phi nông nghiệp, đây là xu hướng

cơ bản để phát triển nông thôn trong tương lai, trong đó chú trọng các

ngành nghề sử dụng nhiều lao động nhưng cần lượng vốn ít hướng tới làm

hàng xuất khẩu và có quy mô nhỏ như công nghiệp gia đình. Phát triển

mạng lưới dịch vụ kèm theo hỗ trợ các cơ sở sản xuất ấy, hệ thống dịch vụ

này ở nông thôn hiện nay đang ở trong tình trạng rất yếu kém, nếu phát

triển được nó thì tiềm năng thu hút lao động là khá lớn. Khôi phục các

ngành nghề truyền thống có giá trị cao, các hàng hoá và xí nghiệp nông

thôn sẽ gắn với quá trình đô thị hoá nông thôn.

Để thực hiện được mục tiêu phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp

thì nhà nước cần có những chính sách và cơ chế khuyến khích các hoạt

động này như về ưu đãi, tín dụng, giảm các loại thuế, giải quyết những

vướng mắc về thị trường.

Trong giai đoạn 1993-1998, sự đa dạng hoá các hoạt động phi nông

nghiệp diễn ra chậm hơn đáng kể so với đa dạng hoá trong nông nghiệp.

Mặc dù vẫn còn khả năng phát triển và đa dạng nông nghiệp nhưng trong 5

đến 10 năm tới đây, sự phát triển này sẽ đạt đến giới hạn của nó, và khi đó

61



những công việc và thu nhập của các hoạt động phi nông nghiệp sẽ đóng

một vai trò quan trọng hơn trong công cuộc giảm nghèo đói. Các nhà hoạch

định chính sách cần phải tìm cách khắc phục những trở ngại về mặt quan

điểm hành chính cũng như về tài chính đối với sự phát triển của các ngành

nghề phi nông nghiệp. Cần khuyến khích tăng trưởng và nhân rộng các

doanh nghiệp hộ gia đình hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hoặc chế biến

có sử dụng nhiều lao động.

1.2. Cung cấp tín dụng cho người nghèo

Vốn là một trong những điều kiện sản xuất cơ bản, theo số liệu điều tra

năm 1996 có tới 70% số hộ nghèo thiếu vốn hoặc không có vốn để sản xuất.

Đó là một lí do quan trọng làm cho các hộ nghèo không vượt lên khỏi cảnh

nghèo đói được. Trong thời gian qua nhà nước đã cố gắng cải thiện sự phục

vụ tín dụng như lập ngân hàng người nghèo, các quỹ tín dụng nhân dân, tận

dụng nguồn vốn cho người nghèo trong các dự án của nước ngoài…. Sử

dụng các mức lãi suất ưu đãi cùng những điều kiện thuận lợi cho người

nghèo vay vốn. Tuy nhiên trên thực tế nông dân nghèo vẫn rất khó tiếp cận

được với tín dụng chính quy và chỉ có được phần lớn tín dụng phi chính quy

với lãi suất cao hơn nhiều so với lãi suất của khu vực chính quy mà họ

không tiếp cận được. Sự tiếp cận yếu kém này rõ ràng là một trở ngại lớn

cho công tác xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, đặc biệt là ở vùng cao, vùng

sâu. Vì vậy để tăng khả năng tiếp cận của các hộ gia đình nghèo với tín

dụng cũng như tăng hiệu quả của các khoản vay cần có những đổi mới thiết

thực trong các lĩnh vực huy động vốn, phương thức vay vốn, cơ cấu lãi suất.

Tín dụng cho người nghèo phải thể hiện rõ nét tính ưu đãi của nó cho

người nghèo như vay không cần thế chấp, vay với lãi suất thấp nhưng đồng

thời cũng phải nhận thức được rằng không phải là tiền cứu trợ nhân đạo.

Trong cơ chế thị trường hiện nay, ta cần phải xây dựng một cơ chế tín dụng

thế nào để vừa đảm bảo cho hỗ trợ xã hội, vừa kích thích cho người nghèo

tổ chức sản xuất làm ăn phù hợp với những yêu cầu của thị trường.

62



Những giải pháp cụ thể để cải thiện mức độ phục vụ tín dụng cho

người nghèo là:

Một là, lãi suất của ngân hàng người nghèo đang được áp dụng một

mức thống nhất trên phạm vi cả nước. Đây là một điều bất hợp lý. Mức lãi

suất tiền vay hiện nay được tính bằng: Lãi suất huy động vốn (tiền gửi) +

chi phí giao dịch quản lý + chi phí phòng ngừa rủi ro của hoạt động tín

dụng. Qua cách xác định lãi suất tiền vay, có thể nhận thấy nó xa vời với

thực tế làm ăn sản xuất kinh doanh của người nghèo vì mức độ sinh lợi trên

một đồng vốn giữa các địa phương khác nhau. Người dân ở khu vực có kinh

tế phát triển thì ắt có cơ hội để thoát khỏi cảnh nghèo đói do có nhiều ưu đãi

về kinh tế, về xã hội hơn so với người dân ở các vùng nghèo. Do đó, để

thực hiện đúng với tinh thần của tín dụng, xoá đói giảm nghèo cần nghiên

cứu đặt ra những mức lãi suất ưu đãi đối với các khu vực khó khăn.

Hai là, miễn lãi suất cho một số hộ. Những gia đình thuộc diện đói

nghèo là những người có cuộc sống khó khăn nhất trong xã hội, khả năng

sản xuất kinh doanh rất thấp dễ bị tổn thương trước những rủi ro bất ngờ

trong cuộc sống. Do vậy, những gia đình này cần có sự quan tâm giúp đỡ

nhiều hơn nữa. Trong vấn đề cung cấp tín dụng sự hỗ trợ đặc biệt này có thể

được áp dụng bằng nhiều cách miễn toàn bộ lãi suất các khoản tiền vay của

họ. Việc xoá bỏ lãi suất tiền vay cho các gia đình thuộc diện đó hết sức có ý

nghĩa, nó sẽ khuyến khích các hộ này mạnh dạn vay vốn hơn, khoản tiền lãi

không phải trả tuy không lớn nhưng cũng rất cần thiết để họ có thể mở rộng

sản xuất kinh doanh hay đối phó với những rủi ro bất ngờ.

Ba là, cho vay bằng hiện vật đối với những người nghèo ở vùng sâu,

vùng xa. Một khó khăn lớn trong việc phát huy hiệu quả các khoản tiền vay

là do các đối tượng vay đã không biết cách làm ăn mà cụ thể là họ không

biết dùng khoản tiền vay vào việc gì. Tình trạng này diễn ra khá nhiều tại

các vùng sâu, vùng xa, miền núi nơi có tỷ lệ nghèo đói cao nhất. Việc giúp

đỡ để giải quyết sự lúng túng của người nghèo sau khi vay có thể giao trực

63



tiếp một công cụ sản xuất cần thiết tương ứng với số tiền mà họ đã vay.

Điều kiện giao lưu mua bán của các vùng này rất khó khăn, nguồn thông tin

mà người dân tiếp cận rất hạn hẹp mà ở đây chủ yếu là đồng bào dân tộc

không quen với việc mua bán nên để ngân hàng đứng ra kết hợp với các

đoàn thể, chính quyền địa phương để giải quyết.

Bên cạnh đó cần quy định:

- Đối tượng vay vốn: cần ưu tiên cho hộ chính sách trong diện đói nghèo

vay trước đến hộ đói nghèo có sức lao động. Hộ đói nghèo mà không có

sức lao động thì không thể cho vay vốn mà cần có chính sách bảo trợ xã

hội khác.

- Nguồn vốn: Coi trọng nguồn vốn tại chỗ như:

+ Trích từ ngân sách xã, huyện, tỉnh.

+ Từ ngân hàng: Ngân hàng nhà nước, ngân hàng Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn.

+ Từ các tổ chức đoàn thể xã hội.

+ Từ sự hỗ trợ hợp tác quốc tế tuy đây không phải là nguồn vốn chính

song cần thiết.

- Mức vay: Tuỳ vào yêu cầu sản xuất kinh doanh mà cho các hộ vay với

mức nhiều ít khác nhau. Song bình quân từ 1,5 – 5 triệu đồng cho một hộ

sản xuất là hợp lý với các dự án nhỏ tạo việc làm tại chỗ, mức vay có thể

lớn hơn dành cho các hộ nghèo góp vốn hình thành tổ sản xuất đánh bắt

thuỷ sản, hợp tác xã thủ công mỹ nghệ ….thời gian không quá 3 năm.

1.3. Về chính sách đất đai:

Đất đai là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc nâng cao sản lượng

sản xuất nông nghiệp. Những vấn đề nổi cộm trong việc sử dụng đất nông

nghiệp ở vùng núi phía Bắc là: đất nông nghiệp bình quân / người = 1182m 2

(so với bình quân toàn quốc mới bằng 96,2%, toàn quốc bằng

1229m2/người). Luật đất đai năm 1993 quy định rõ năm quyền của người

chủ là chuyển nhượng, trao đổi, cho thuê, thừa kế và thế chấp. Những quy

64



định khắt khe về đất này cũng là một nguyên nhân làm cho thị trường tín

dụng ở nông thôn chưa được mở rộng. Vì vậy cần có những giải pháp về

vấn đề này.

Phải tăng cường mở rộng nông nghiệp tái định cư có sự cân nhắc cẩn

thận về môi trường và hỗ trợ tích cực của Nhà nước. Chủ trương đưa dân đi

khai hoang đã từ lâu nhưng kết quả còn hạn chế vì đất đai cằn cỗi, địa hình

dốc, sinh thái bị ăn mòn, tăng áp lực dân số và thực hiện những biện pháp

canh tác không thích hợp sẽ nhanh chóng phá hoại môi trường, tác động xấu

đến sản xuất nông nghiệp. Cho nên trước khi tiến hành di dân cần có nghiên

cứu cẩn thận về vùng sắp được khai hoang và có các biện pháp hướng dẫn

kỹ thuật canh tác mới phù hợp với vùng cho những người sắp chuyển đến.

Phải thay đổi các quy định không phù hợp. Nới lỏng những quy định

khắt khe về chuyển nhượng và sử dụng đất, trong vấn đề này cần có những

biện pháp ngăn chặn sự chiếm đoạt đất nhưng để cho người dân được quyền

tự do bỏ đất nếu họ cảm thấy cần thiết. Chính phủ đang đặc biệt hạn chế

việc chuyển đổi đất trồng lúa sang sử dụng mục đích khác. Do vậy sự hạn

chế này sẽ làm chậm lại quá trình đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, làm

suy giảm khả năng chống lại những rủi ro về giá cả, thị trường của người

nông dân. Ngoài ra, cần tiến hành hướng dẫn năm quyền sử dụng đất cho

nông dân để họ hiểu đầy đủ quyền hạn của mình, qua đó sẽ thúc đẩy thị

trường đất đai, tín dụng ở nông thôn và sự kết hợp đất canh tác, giải quyết

tình trạng đất đai manh mún. Đối với tình trạng nông dân không có đất thì

tạo các cơ hội mới cho cuộc sống bằng sức lao động của mình. Đối với

những hộ nông dân mất đất vì các lí do rủi ro bất ngờ mà có năng lực làm

ăn thì có thể nên có cơ chế nào đó để mua lại đất mới cho họ. Còn với

những hộ làm ăn yếu kém thì việc mất đất của họ là điều khó tránh khỏi.

Nên tạo điều kiện cho họ có thể chuyển sang ngành nghề khác hay đi làm

thuê cho các chủ đất lớn. Cần khai thác các hộ làm ăn tốt như đầu tư vốn,



65



kỹ thuật để họ mở rộng sản xuất với điêù kiện phải thu hút người nghèo

không có ruộng.

1.4 Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật

Áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật có ý nghĩa rất to lớn trong

việc nâng cao sản lượng và năng suất nông nghiệp và cũng là một hướng đi

rất cơ bản để cải tạo nông nghiệp tự cấp tự túc, thành nền nông nghiệp hiện

đại, năng suất cao mang tính hàng hoá rộng rãi. Nó cũng là cơ sở để tận

dụng triệt để tiềm năng đất đai, lao động ở nông thôn. Trong hoàn cảnh hiện

nay thuỷ lợi và cải tiến, đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi là yêu cầu cấp thiết

nhất. Sự hỗ trợ của nhà nước vẫn là phần có ý nghĩa quan trọng nhưng cần

phải kêu gọi sự đóng góp của nhân dân như xây dựng hệ thống thuỷ lợi, tổ

chức mô hình tổ sản xuất kết hợp giữa các hộ có vốn với các hộ có sức lao

động.Về mặt cơ chế, cần phải tự do hóa hơn thị trường đầu vào hiện nay vì

chủ yếu việc cung cấp là do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện nên tạo

sự độc quyền và kém hiệu qủa.

1.5 Phải tiến hành công tác khuyến nông

Khuyến nông có vai trò quan trọng nhờ vào việc nó giúp người nông

dân có các quyết định tối ưu về sử dụng các yếu tố sản xuất, cung cấp các

thông tin về vấn đề giá cả, dung lượng thị trường, thị hiếu người tiêu dùng,

các thông tin về giống cây trồng, phân bón và phương pháp sản xuất.

Các vấn đề cần giải quyết trong công tác khuyến nông hiện nay là:

- Thiếu kinh phí để cho các cơ quan thực hiện công tác khuyến nông

- Các dịch vụ khuyến nông vẫn còn rất yếu kém ở vùng sâu, vùng xa,

vùng cao, các chính sách hầu như thiên lệch về gạo ở đồng bằng.

- Trong việc nghiên cứu cần quan tâm đến những tập quán canh tác ở

vùng cao để hướng dẫn kỹ thuật sản xuất mới dễ chấp nhận đối với đồng

bào và không ảnh hưởng đến môi trường.

- Hệ thống thông tin khuyến nông cần thể hiện tính đa dạng, tiện nghi

hơn nữa, không chỉ truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài,

66



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (91 trang)

×