1. Trang chủ >
  2. Khoa học xã hội >
  3. Giáo dục học >

Tổ chức các trò chơi trong giờ học:

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (220.24 KB, 17 trang )


- Giáo viên hoặc trọng tài là HS nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của

từng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm.

- Trọng tài công bố kết quả chơi của từng đội, cá nhân và trao phần

thưởng cho đội đoạt giải.

- Một số học sinh nêu kiến thức, kỹ năng trong bài học mà trò chơi đã thể

hiện.

b.Một số trò chơi cụ thể:

* Trò chơi 1: Ong tìm chữ.

- Sử dụng trò chơi này trong bài: Unit Eight- Ages- Section A- lesson 1.

book 1.

- Mục đích: Củng cố và giúp học sinh ghi nhớ các số đếm từ 1 đến 10 và

vận dụng kỹ năng sử dụng mẫu câu hỏi tuổi .

- Chuẩn bị:

+ Hai bông hoa 5 cánh, mỗi bông một màu, trên mỗi cánh hoa ghi các số như

sau, mặt sau có gắn nam châm.

10



5



7



3



8



1



9



2

6



4



+ 10 chú ong trên mình có ghi các chữ sau, mặt sau có gắn

nam châm.

one



two

four



ten

seven

6



six



five

nine



eight

three



+ Phấn màu

+ Cách chơi: Chọn 2 đội, mỗi đội 5 em. Giáo viên chia bảng làm hai, mỗi

bên bảng một bông hoa và 5 chú ong ở bên dưới không theo thứ tự, đồng thời

giới thiệu tên trò chơi.

Cô giáo có 2 bông hoa, trên những cánh hoa là những con số, còn những

chú ong mang trên mình những chữ tương ứng, nhiệm vụ của các em là dẫn

đường đưa những chú ong về số phù hợp.

Hai đội xếp thành hàng, khi nghe hiệu lệnh ‘bắt đầu’ thì lần lượt từng bạn

đưa chú ong về với số thích hợp . Song bạn thứ nhất tiếp tục bạn thứ hai và cho

đến hết. Cuối cùng đội nào làm nhanh và đúng là đội đó chiến thắng.

* Trò chơi 2: Bingo:

- Mục đích: Trò chơi này được sử dụng nhiều trong phần củng cố từ vựng

cho các em trước khi vào bài học mới.

Ví dụ: Trước khi dạy –Unit 10 – The Weather – Section B – Lesson 1: Cho các

em chơi trò chơi này để ôn lại các từ đã học ở phần A. Để các em bắt đầu vào

học phần B một cách dễ dàng và hiệu quả.

- Cách chơi: Yêu cầu học sinh nhắc lại khoảng từ 10 - 20 từ các em đã học ở

phần A.

Ví dụ các từ sau: Cloudy, windy, sunny, rainy, weather, one, two, three, four,

five, seven, eight, nine, ten, how, today…

- Giáo viên viết các từ đó lên bảng.

- Mỗi em chọn bất kỳ 5 từ trên bảng.

7



- Giáo viên đọc các từ trên bảng nhưng không theo thứ tự.

- Học sinh đánh dấu vào các từ đã chọn khi giáo viên đọc từ đó.

- Học sinh có cả 5 từ đã được đánh dấu hô to “ Bingo”.

Giáo viên cùng cả lớp khen gợi học sinh đó bằng một tràng pháo tay.

* Trò chơi 3 : Kim’ game:

- Ví dụ: Unit 11 – Our Pets - Section A - Book 1.

- Hoạt động này nhằm rèn luyện khả năng nhớ từ mới của HS .HS nhớ từ

mới nhanh và tạo phong trào thi đua học tập ở mỗi nhóm trong giờ học.

Chia lớp thành 2 nhóm.

Giáo viên chuẩn bị sẵn 6-8 tranh vẽ .

Yêu cầu học sinh xem tranh trong vòng 20 giây.

Yêu cầu học sinh không được viết mà chỉ ghi nhớ.

Giáo viên cất tranh vẽ và yêu cầu đại diện 2 nhóm lên bảng viết lại tên các từ

phù hợp với các bức tranh.

Nhóm nào viết được nhiều từ và đúng sẽ chiến thắng.



*Trò chơi 4: Simon says:

Hoạt động này giúp hs củng cố lại các câu mệnh lệnh đơn giản qua các hành

động của giáo viên.

-Ví dụ: Unit 6- My classroom – section B – Book 1.

- Chia lớp thành 2 nhóm.

- GV hô to các câu mệnh lệnh. HS chỉ làm theo mệnh lệnh của GV nếu GV

bắt đầu bằng đoạn ngữ “Simon says”.

-VD: Nếu GV nói “ Simon says: Stand up”. HS sẽ phải đứng dậy. “Simon

says: Close your book”. HS sẽ gấp sách lại.

Simon says: Stand up



Simon says: close your book

8



Nếu GV chỉ nói “ Stand up” hoặc “ Sit down” HS không làm theo mệnh lệnh

đó.



Stand up.



Sit down



- Nhóm nào có ít HS phạm lỗi nhất là nhóm chiến thắng.

* Trò chơi 5:Gap fill:

- Trò chơi này dùng để củng cố nội dung bài đọc. Cũng có thể dùng trong

nhiều loại bài như: Bài nghe, bài đọc, bài giới thiệu ngữ liệu hay bài thực

hành…

- Ví dụ: Unit 9 – My house – Section B – Book 1.

- GV viết lên bảng một đoạn văn ngắn hay một số câu còn để vài khoảng

trống. Khoảng trống có thể là từ vựng hay ngữ pháp hay cũng có thể là phối hợp,

đoạn văn càng nhiều khoảng trống thì bài tập cành khó đối với HS yếu, GV có

thể cho trước những từ cần điền.

VD: Điền từ còn thiếu trong đoạn văn sau. Dựa vào từ gợi ý( small, big, desk,

bed, is).

This is my house.It is (1)……..This (2)… …my bedroom. It is(3) .... There is

a (4)….. and a chair in the room. There is a (5)…… in the room too.

HS làm việc cá nhân sau đó so sánh với bạn bè cùng cặp, hoặc trong nhóm.

- Gọi HS lên bảng để điền vào chỗ trống.

- Tuyên dương HS làm đúng bằng những tràng pháo tay…

*Trò chơi 6: Survey:

- Kỷ thuật này thường được dùng trong phần Post reading nhằm để củng

cố bài hoc.

- Ví dụ : Unit Seven: Family members – Section B – Book 1

9



- GV nêu chủ điểm hoặc cho những bức tranh theo chủ đề.

- HS làm việc theo từng cặp, lần lượt một em hỏi, một em trả lời sau đó

đổi vai. Vừa hỏi các em vừa ghi chú các thông tin về bạn mình.

- Sau khi HS phỏng vấn xong, GV khuyến khích một số HS tường thuật

lại cho cả lớp nghe những thông tin mà các em đã biết về bạn mình hoặc yêu cầu

các em viết thành câu hoàn chỉnh vào vở.

- VD: GV cho những bức tranh theo chủ đề gia đình:

Picture 1



( VD tranh 1):

+ HS 1: Hello! My name is Lan. What’ your name?

+ HS 2: Hi ! Lan. My name is Nam. Who’ that?

+HS 1: That is my father. His name is Hung.



Picture 2



+ HS 2: And who’ that?

+ HS1: That’s my mother. Her name is Huong.

That’ s my brother. His name is Tung. And me.



p



* Trò chơi 7: Noughts and crosses.

- VD : Unit six- My school – Section A – Lesson 1 - Book 1

Giáo viên giải thích cho học sinh trò chơi này giống như trò chơi "ca rô" ở

Việt Nam nhưng chỉ cần 3 "O" hoặc ba "X" trên một hàng ngang, dọc hay chéo

là thắng. Giáo viên kẻ 9 ô vuông trên bảng. Mỗi ô có chứa một từ hoặc một

tranh vẽ. Giáo viên chia học sinh ra làm 2 nhóm. Một nhóm là " noughts" và một

nhóm là " crosses" (X) . Hai nhóm lần lượt chọn từ trong ô và đặt câu. Nhóm

nào đặt câu đúng sẽ được một (O) hay một (X). ( Giáo viên có thể làm một câu

mẫu, sử dụng một tranh bất kì trong ô).

0

x



Nhóm nào có 3 O hoặc 3 X trên một hàng ngang,dọc hoặc chéo sẽ chiến thắng.

10



- VD: This is my school.



.

* Ngoài việc sử dụng trò chơi trong các bài học . Sử dụng trò chơi trong phần ôn

tập không những giúp Hs củng cố các kiến thức đã học ở chương đó theo chủ

điểm mà còn tạo không khí hào hứng sôi nổi trong học tập và không bao giờ bị

nhằm chán.

Ví dụ trò chơi : Hái hoa dân chủ

Sử dụng trò chơi này trong phần ôn tập chương 1: Theme one: You and me.

(Self- check- one)- book 1

- Mục đích:Trả lời hoặc nói được một số mẫu câu đơn giản đã học ở

chương I. Theo chủ điểm bạn và tôi.

- - Chuẩn bị : Cho các em chơi trong lớp , bông hoa bằng giấy màu trong

Cách chơi: Một cây cảnh trên có gắn các

lần lượt ghi một số câu hỏi bằng nào hái được hoa What is your name ?How old

đó có từng em lên hái hoa. Em tiếng Anh. ví dụ:

thì đọc câu hỏi cho cả lớp nghe rồi trình bày câu

are you? …….Hoặc bằng tiếng việt: Ví dụ:Em nói sang Tiếng anh câu sau:

trả lời trước lớp. Em nào trả lời đúng thì được

“Tạm biệt, hẹn gặp lại….”.

khen và được một phần thưởng.

- Luật chơi: Học sinh xung phong lên bảng

bốc câu hỏi trên những bông hoa và trả lời

- Kết thúc trò chơi:Tuyên dương những bạn

11

trả lời đúng và nhanh. Giáo viên nhận xét và sửa

những lỗi mà học sinh mắc phải.



Trò chơi: Pastimes

- Mục đích : Kiểm tra vốn kiến thức từ vựng mà HS đã học ở chương 2 theo

chủ điểm Trường học của tôi.( Theme two:My School. (Self check two)

- Chuẩn bị:Không cần chuẩn bị bất kỳ đồ dùng nào.

- Cách chơi: Giáo viên vẽ hai ông mặt trời có những tia nắng và chia lớp làm

hai đội đồng thời cho mỗi đội một viên phấn duy nhất để lên bảng viết một từ

bất kỳ nào đã học, viết song nhanh chóng truyền phấn cho bạn khác trong đội

mình lên viết.



- Luật chơi: Khi nghe hiệu lệnh bắt đầu, các em trong mỗi đội thật nhanh lên

bảng viết một từ bất kỳ, chỉ được viết duy nhất 1 từ cho mỗi lần và có thể nên

nhiều lần, rồi lại truyền phấn cho bạn khác. Kết thúc trò chơi trong vòng 3-5

phút, cả lớp cùng kiểm tra đội nào viết đúng và nhiều từ hơn là đội thắng cuộc.

*Lưu ý trong đội những từ trùng nhau chỉ được tính 1.Kết thúc trò chơi có thể

khuyến khích các em bằng những món quà nhỏ mà cô giáo đã chuẩn bị.

2. Tổ chức trò chơi bằng các bài hát Tiếng Anh. (Lồng ghép các bài hát

Tiếng anh vào các trò chơi để củng cố bài học).

Dựa vào tâm lý vui chơi của các em để các em cùng vui chơi ca hát với

Tiếng anh. Để các em nghe từng câu, từng câu trong bài Tiếng anh và dạy các

em hát lại câu hát đó. Bài hát nên ngắn gọn, dễ nhớ và giải nghĩa Tiếng việt để

các em hiểu. Việc dạy cho các em hát và nghe các bài hát Tiếng anh rèn luyện



12



kỹ năng nghe cho các em. Qua đó ngôn ngữ được lồng vào sẽ được sử dụng

nhiều lần và linh hoạt hơn, khắc sâu hơn

* Luôn tạo cho các em thói quen hát một bài hát Tiếng Anh vào mỗi đầu

tiết học. Thỉnh thoảng vào những lúc giữa tiết học các em bị căng thẳng, mệt

mỏi do học vào tiết cuối cùng, giáo viên cũng nên bắt nhịp cho các em một hoặc

hai bài hát ngắn, nhẹ nhàng với giọng điệu vui – kèm theo những tiếng vỗ tay

nhịp đôi, rồi nhịp một, nhịp càng lúc càng nhanh rồi chấm dứt, nhằm trả lại sự

phấn chấn, rộn ràng, vui tươi, sinh động trong lớp học.

* Kết hợp một vài động tác hay điệu bộ phù hợp trong lúc hát. Hát kết

hợp chơi như “Hát thi” (không hát lại một trong những từ của chủ điểm đã được

hát trước theo quy định của giáo viên).

* Hình thức hát đuổi là cách hát vui nhộn và mang tính giáo dục rất có ý

nghĩa, nó gây được sự ham thích của học sinh. Hát đuổi (với 2 hoặc 4 nhóm) tạo

cho người hát, các nhóm, các bè và cả người nghe một cảm giác lộn xộn lúc ban

đầu khi các nhóm hát khác nhau (khác về lời nhưng nhạc vẫn đi theo một mẫu

giống nhau), rồi sau cùng lại giống nhau – cùng hát một câu. Nếu hát được

đúng, ta đã giúp tạo ra lòng tự tin, tính độc lập cho các em, không nghe theo,

không làm theo người hát bè khác. Khi đó, chắc chắn các em sẽ rất vui và còn

hãnh diện nữa…Ngoài ra vào cuối năm học, việc giới thiệu một hoặc hai bài hát

ở chương trình Tiếng Anh lớp 3 không những có thể giúp cho các em giải trí ,

ham học hơn mà còn mang tính giáo dục rất cao.

HỌC SINH SAY SƯA HÁT CÁC BÀI HÁT TIẾNG ANH



Sau đây là một số bài hát ví dụ dành cho các em học sinh tiểu học mà tôi

tự soạn và áp dụng trong quá trình giảng dạy của mình.

* Chủ điểm giao tiếp:

Unit 1: HELLO



13



Bài hát giúp các em ôn lại lời chào nhau khi gặp mặt và khi tạm biệt. Ôn

lại mẫu câu hỏi thăm sức khỏe: “How are you?”I am fine, thank you.



* Chủ điểm trường học:

.

Unit 5: MY SCHOOL

Bài hát giúp học sinh giới thiệu về vị trí, đặc điểm của trường và lớp học

của mình. Sử dụng “This is ……… và That is ……… ”. Đồng thời giáo dục các

em iết yêu quý và bảo vệ ngôi trường thân yêu của mình.

* Chủ điểm gia đình:

Unit nine: MY HOUSE

Bài hát giáo dục cho HS tình cảm gắn bó với ngôi nhà của mình đồng thời

củng cố kiến thức cho các em khi giới thiệu về nhà , các phòng và đặc điểm của

chúng.



* Các bài hát thuộc chủ điểm khác: (Thế giới xung quanh em)

Unit 11: OUR PETS

Bài hát ôn lại các từ chỉ tên các con thú cưng một âm tiết đã học như:

dog, cat, fish, bird. Qua đó kết hợp giáo dục cho các em biết yêu thương và bảo

vệ các loài động xung quanh mình.

3. Tổ chức trò chơi trên công nghệ thông tin.

(Ứng dụng công nghệ thông tin để các hoạt động trò chơi thêm sinh động).

Ưng dụng CNTT trong trò chơi sẽ giảm được thời gian viết bảng, tạo

thuận lợi để nhắc lại kiến thức đã trình bày và lưu giữ bổ xung vào bài học một

cách dễ dàng.



14



Khi tiếp cận công nghệ thông tin với hình thức mới lạ mà hấp dẫn.Các em

được tiếp cận và làm quen với hình ảnh trực quan sinh động hơn, các em say sưa

và sôi nổi hơn trong bài học.

Ví dụ: Unit 10 – The Weather – Section B – Book 1.

Củng cố bài học về thời tiết bằng trò chơi “Những con số may mắn”.

Lucky numbers: Chia lớp thành 2 nhóm.GV đưa lên hình ảnh khoảng 2 số là

những con số may mắn.Chọn trúng con số may mắn được cộng 2 điểm và không

phải trả lời câu hỏi nào.Còn lại khoảng 4 con số, mỗi con số là một câu hỏi, trả

lời đúng sẽ được 2 điểm.Trả lời sai nhóm khác được quyền trả lời. Kết thúc trò

chơi nhóm nào được nhiều điểm sẽ là nhóm chiến thắng.



4. Khích lệ học sinh củng cố bài học bằng thi sáng tác thơ:

Thường xuyên thay đổi các hình thức chơi trong giờ học Tiếng Anh Tiểu

học là rất cần thiết. Các em sẽ không bị nhàm chán mà liên tục được cuốn hút

vào bài học bằng các trò chơi đơn giản nhưng mang tính thi đua tập thể rất cao.

Ví dụ như khích lệ các em củng cố từ vựng bằng tự ghép từ mới thành những

vần thơ.

Cách chơi: Chia lớp thành 2 hoặc 4 nhóm. Trong thời gian 5 -7 phút nhóm nào

tự sáng tác ra những vần thơ hay và đúng sẽ chiến thắng.

Ví dụ 1: Unit nine: My House:



Ví dụ 2: Unit twelve: Our Toys



My house là nhà của tôi



Hello chào bạn doll là búp bê.



There is… có ít, there are… có nhiều.



New nghĩa là mới đẹp lại là nice .



Chair là cái ghế còn room là phòng.



Ball là quả bóng five là số năm.



To là big, ngôi nhà là house.



Robot người máy he là anh ta.



Kitchen là bếp, nhỏ là small.

Here đây too cũng my là của tôi.

5. Sáng tạo trong các trò chơi dạy học Tiếng anh.

15



(VD: Unit six: My class room- Section A )

Những phút đầu tiên, cô giáo giới thiệu từ mới. Một cái túi được đưa ra,

bên trong là những vật đơn giản đã học như: Quyển sách, vở, cái bút, thước ,

tẩy,… Mỗi em được phát một cái khăn bịt mắt. Sau đó lần lượt từng em lấy từng

đồ vật trong túi ra và nói lên chúng bằng Tiếng anh. Nếu vật nào không biết HS

có thể hỏi thầy, hỏi bạn bằng Tiếng anh. Phương pháp này giúp các em nhớ từ

rất nhanh và chất lượng.

Tổ chức cho các em vui chơi bằng Tiếng anh trong các giờ hoạt động

ngoại khoá là rất thiết thực và bổ ích. Như dẫn các em ra ngoài vườn trường để

các em biết thêm các tên loài cây, loài hoa…Tổ chức các cuộc thi vẽ , tổ chức

các cuộc thi olympic Tiếng anh cấp trường, hay các cuộc thi khác có lồng Tiếng

Anh… vừa giúp các em vui chơi tập thể vừa giúp các em học Tiếng anh một

cách thoải mái, tự nhiên…



C. KẾT LUẬN

Tạo ra những giờ học tiếng Anh thân thiện bằng phương pháp “học mà

chơi, chơi mà học” không những mang lại cho các em niềm say mê trong học

tập mà còn củng cố kiến thức bài học một cách nhẹ nhàng mà sâu sắc và dễ

hiểu.Các em dễ dàng vận dụng được những kiến thức đã học vào cuộc sống

xung quanh các em một cách có hiệu quả.

Qua hai năm nghiên cứu và thử nghiệm. Bằng nhiều nổ lực của thầy và

trò, kết quả học tập của các em ngày một tiến bộ hơn, các em hăng say trong học

tập và mạnh dạn, cởi mở chứ không rụt dè như trước.Tuy kết quả chưa thật cao

nhưng những tiến bộ bước đầu giúp tôi hưng phấn hơn trong công tác. Một điều

thật thú vị là tôi đã bắt gặp các em HS chơi các trò chơi bằng Tiếng Anh trong

các giờ giải lao, bắt gặp các em hát nghêu ngao những bài hát ngắn, hay nói



16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (17 trang)

×