1. Trang chủ >
  2. Khoa học xã hội >
  3. Giáo dục học >

Tăng cương phát huy những ưu điểm và kịp thời khắc phục những khó khăn, sai lầm học sinh thường gặp khi học phép nhân, phép chia các số tự nhiên ở lớp 3.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (230.97 KB, 19 trang )


b) Trong phép nhân có nhớ nhiều hơn 1 (nhớ 2, nhớ 3 …) học sinh

thường chỉ nhớ 1.

VD:



2913

x

4

9652



=> Khắc phục: Đối với 2 lỗi trên, giáo viên cần khắc phục cho học sinh

bằng cách: yêu cầu các em nhẩm thầm trong khi tính (vừa tính, vừa nhẩm) như

phép tính mẫu trong sách giáo khoa và viết số cần nhớ ra lề phép tính.

c) Lúc đầu khi mới học nhân số có nhiều chữ số với số có một chữ số,

học sinh còn hay sai trong cách ghi kết quả.

26



VD:

x



3

618



=> Khắc phục: Ở đây, ta cần giải thích cho học sinh rằng: Nếu làm

như vậy thì tích có tới 62 chục, nhưng thực ra chỉ có 7 chục mà thôi. Vì:

- Ở lượt nhân thứ nhất: 3 nhân 6 đơn vị được 18 đơn vị, tức là 1 chục và

8 đơn vị, viết 8 ở cột đơn vị, còn 1 chục nhớ lại (- ghi bên lề phép tính) để

thêm vào kết quả lượt nhân thứ hai – nhân hàng chục.

- Ở lượt nhân thứ hai: 3 nhân 2 chục được 6 chục, thêm một chục đã

nhớ là 7 chục, viết 7 ở cột chục.

Giáo viên cũng có thể một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của phép tính

bằng cách: Phân tích từ số 26 = 2 chục + 6 đơn vị và hướng dẫn học sinh nhân

bình thường theo hàng ngang rồi cộng các kết quả lại.

* Học phép chia

12



a) Học sinh thường ước lượng thương sai trong phép chia có dư nên dẫn đến

tìm được số dư lớn hơn số chia và lại thực hiện chia số dư đó cho số chia. Cuối

cùng, tìm được thương lớn hơn số chia.

VD:



89 2

431



8

09

6

3

2

1



Nguyên nhân của lỗi sai này là:

- Do học sinh chưa nắm được quy tắc “số dư bao giờ cũng nhỏ hơn số

chia”

- Học sinh không thuộc bảng nhân, bảng chia, kỹ năng trừ nhẩm để tìm số

dư còn chưa tốt.

=> Để khắc phục sai lầm này:

- Khi dạy học sinh cách ước lượng thương trong phép chia, cần lưu ý cho

học sinh quy tắc trong phép chia có dư: “số dư bao giờ cũng nhỏ hơn số chia”

- Khi dạy về nhân, chia trong bảng, giáo viên cần yêu cầu học sinh phải học

thật thuộc các bảng nhân, bảng chia trước khi dạy chia viết.

- Dạy cho học sinh làm tính chia phải được tiến hành từ dễ đến khó, theo

từng bước một.

b) Một sai lầm nữa thường thấy ở học sinh khi học chia viết là: Các em

thường quên chữ số “0” trong phép chia có chữ số “0” ở thương.

=> Nguyên nhân và cách khắc phục:

Do học sinh không nắm được quy tắc thực hiện chia viết “có bao nhiêu lần

chia thì có bấy nhiêu chữ số được viết ở thương”. Giáo viên cũng cần lưu ý học

sinh: Chỉ duy nhất trong lần chia đầu tiên là được lấy nhiều hơn một chữ số ở

số bị chia để chia, còn các lần chia tiếp theo lấy từng chữ số để chia và khi lấy

một chữ số để chia thì phải viết được một chữ số ở thương.

13



Bên cạnh đó, giáo viên cũng lưu ý học sinh nên viết đủ phép trừ ở các lượt

chia như sau

VD: Hướng dẫn học sinh cách nhân khi thực hiện phép chia có dư trong mỗi

lượt chia như sau:



816 2

016 24

0



VD: 43: 5 =?

Cách 1: Đếm ngược từ 43 cho đến khi gặp một tích (hoặc số bị chia)

trong bảng nhân 5 (chia 5): 43; 42; 41; 40.

40: 5 = 8

Vậy 43: 5 = 8 (dư 3)

Cách 2: Tìm số lớn nhất (không vượt quá 43) trong các tích (số bị chia)

của bảng nhân (chia 5) ta được 40; 40: 5 = 8. Vậy 43: 5 = 8 (dư 3).

Nhìn chung, khi học nội dung về phép nhân, phép chia các số tự nhiên ở

lớp 3, hầu hết học sinh đều nắm được kiến thức có kỹ năng nhân, chia.

Những sai lầm trên đây chỉ xảy ra với số ít học sinh ở giai đoạn đầu học về nội

dung này. Giáo viên cần lưu ý để có biện pháp giúp đỡ học sinh kịp thời.

V. HIỆU QUẢ:

Sau khi đề tài được áp dụng thực hiện cho học sinh khối lớp 3 ở Trưởng

Tiểu học An Thạnh 1.Qua quan sát kết quả học tập của học sinh các tiết học

cũng như qua các lần kiểm tra định kì trong năm học vừa qua. Học sinh có phát

huy những ưu hiệu quả thiết thực hơn so với các năm học trước, những khó

khăn, sai lầm trong khi thực hiện giải toán nhân, chia ở lớp 3 hầu như rất ít. Mục

tiêu về nội dung dạy học phép nhân, phép chia số tự nhiên Toán lớp 3 đươc đảm

bảo hoàn thiện và đạt kết quả cao. Hơn 95% học sinh sau khi khảo sát đều đạt

yêu cầu như:

- Học thuộc các bảng tính nhân 6, 7, 8, 9; bảng chia 6, 7, 8, 9.

- Học sinh biết tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính hoặc trong các trường

hợp đơn giản, thường gặp về nhân, chia.

14



- Biết thực hiện phép nhân số có 2, 3, 4, 5 chữ số có 1 chữ số; phép chia số

có 2, 3, 4, 5 chữ số cho số có 1 chữ số (chia hết hoặc chia có dư).

- Biết tính giá trị các biểu thức số có đến hai dấu phép tính (hoặc không

có dấu ngoặc).

- Biết tìm một thành phần chưa biết trong phép tính.

* Thông qua việc dạy học phép nhân, phép chia ở lớp 3 giúp học sinh các

em còn phát triển một số kĩ năng như:

- Phát triển khả năng tư duy: so sánh, lựa chọn, phân tích, tổng hợp, trừu

tượng hoá, khái quát hoá.

- Diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng thông tin.

- Tập phát hiện, tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức mới.

- Chăm chỉ, cẩn thận, tự tin, hứng thú trong học tập và thực hành toán.



15



C. KẾT LUẬN

I. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI ĐỐI VỚI CÔNG TÁC:

Qua nghiên cứu đề tài này tôi thấy: Nếu giáo viên Tiểu học nắm vững bản

chất toán học của các mạch kiến thức nói chung, của Số học nói riêng; nắm

được sự thể hiện các nội dung kiến thức đó trong sách giáo khoa thì chắc

chắn việc dạy học sẽ tốt hơn. Vì vậy có hiểu đúng, chính xác kiến thức thì giáo

viên mới truyền thụ cho học sinh kiến thức đúng được.

Bằng việc tìm hiểu cách sắp xếp nội dung dạy học trong sách giáo khoa,

giáo viên sẽ thấy được mối liên hệ giữa các bài học. Từ đó chú ý huy động

kiến thức học sinh đã có để học bài mới, đồng thời trang bị cho học sinh những

lượng kiến thức cần thiết để làm cơ sở học các bài tiếp theo.

Việc nắm được đặc điểm nhận thức của học sinh, các phương pháp dạy học

phép nhân, phép chia các số tự nhiên; định hướng đổi mới phương pháp dạy

học sẽ giúp giáo viên lựa chọn và vận dụng phương pháp dạy học đúng, hiệu

quả và phát huy được tính tích cực trong học tập của học sinh.

II. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG:

- Đề tài mang tính thực tiễn trong dạy học, việc tìm hiểu nội dung, phương

pháp dạy học toán nói chung, nội dung phương pháp dạy học phép nhân, phép

chia số tự nhiên nói riêng là rất cần thiết.

- Đề tài được áp dụng vào giảng dạy phép nhân, phép chia các số tự nhiên

theo sách giáo khoa cho học sinh khối lớp 3 Trường Tiểu học An Thạnh 1 trong

năm học 2011- 2012 đạt hiệu quả.

III. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

- Sau khi nghiên cứu đề tài về biện pháp dạy tốt phép nhân và phép chia số tự

nhiên theo sách giáo khoa Toán lớp 3 trao đổi họp tổ khối và đem vào áp dụng

giảng dạy trong năm học vừa qua bản thân tôi rút ra được những kinh nghiệm

như sau:

+ Các giáo viên đều nhận thấy được tầm quan trọng của việc dạy học nội

dung phép nhân, phép chia các số tự nhiên; nắm được chương trình, định

hướng chung về phương pháp dạy học các nội dung này. Vì vậy:

16



+ Giáo viên sử dụng phương pháp trực quan (nhất là trong giai đoạn đầu),

giảng giải – minh hoạ, gợi mở – vấn đáp khi hình thành khái niệm phép tính;

khi thành lập các bảng tính; hướng dẫn học sinh làm bài tập để định hướng

cho học sinh làm bài.

+ Giáo viên thường xuyên sử dụng phương pháp Thực hành luyện tập

trong quá trình rèn luyện kỹ năng thực hiện phép nhân, phép chia các số tự

nhiên cho học sinh. Điều này rất thuận lợi cho cả giáo viên và học sinh: giáo

viên không phải giảng nhiều, còn học sinh có điều kiện tự rèn luyện kỹ năng

cho mình.

+ Giáo viên bám sát và theo dõi từng bước thực hiện tính của học sinh, có

biện pháp sửa sai kịp thời.

+ Giáo viên có những điều chỉnh, phân tích kỹ, mở ra các hướng mới

đối với bài tập rèn luyện kỹ năng tính đưa ra trong sách giáo khoa (chẳng hạn

dạy qua các trò chơi). Trong quá trình giảng dạy biết lựa chọn bài tập hợp lý

tuỳ theo đối tượng học sinh.



Xét duyệt của Hội đồng trường



An Thạnh, ngày 29 tháng 3



năm 2012

Xếp loại:…….



Người viết



CTHĐ



17



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

×