1. Trang chủ >
  2. Khoa học xã hội >
  3. Giáo dục học >

Phạm vi nghiên cứu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (6.48 MB, 26 trang )


hay không bằng tay quen” Vì vậy giáo dục về MT cần phải cho HS trực tiếp tìm

hiểu một cách chủ động và sáng tạo.

1.2. Thực tiễn của việc giáo dục MT hiện nay

Thực hiện theo chương trình đổi mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện nay

trong trường THPT đã có nhiều môn học tích hợp vấn đề MT vào trong chương

trình giảng dạy, vậy vấn đề là các em HS nhận thức được bao nhiêu trong số các

kiến thức đó và các em có thực sự quan tâm đến MT hay không, có sự chuyển biến

trong nhận thức và hành động hay chưa điều đó đặt ra một dấu hỏi cho các GV,

những người giảng dạy về MT, cho những người làm công tác quản lí và cho

những người thực sự quan tâm đến MT, đến sự phát triển bền vững của đất nước

trong tương lai phải suy nghĩ.

Giáo dục trong trường THPT theo đánh giá của các chuyên gia còn mang nặng

tính lý thuyết, thiếu tính vận dụng, tính thực tế. Đặc biệt thời lượng cho các hoạt

động ngoại khóa chưa thực sự nhiều và giáo dục về MT cũng không nằm ngoài

thực trạng đó. Thực tế qua quá trình giảng dạy, tôi thấy trong mỗi bài học có nội

dung liên quan GV chỉ nêu các hiện tượng ÔNMT, nguyên nhân và cách thức làm

giảm, phòng ngừa các hiện tượng đó với một thời lượng rất hạn chế. Như vậy là

thiếu sự tương tác giữa những người muốn sự thay đổi và những người sẽ thay đổi

MT trong hiện tại và tương lai. Tôi xin lấy một ví dụ nhỏ như sau: ở Nhật Bản

người ta giáo dục về truyền thống đạo Phật của đất nước mình, GV họ làm như sau:

dẫn những học sinh rất nhỏ đến ngôi chùa của đạo Phật cho các em tham quan và

hỏi các em HS ngôi chùa có đẹp không và tất nhiên HS sẽ nói là rất đẹp, GV kết

luận đó là văn hóa của đất nước ta các em phải cố gắng gìn giữ nó. Vậy giáo dục về

MT có cần phải có tính thực tế không, có cần cho học sinh trực tiếp tìm hiểu

không? Theo tôi là có và nên làm ngay từ bây giờ.

2. Phương pháp tiến hành

Trên cơ sở thực tiễn ở nơi tôi tiến hành giảng dạy, tôi đã tiến hành các phương

pháp sau:

Phương pháp thử nghiệm: Sau khi hoàn thành phần ý tưởng, truyền ý tưởng đến

HS cho HS vận dụng. Từ đó lấy kết quả qua các bài viết của các em khi áp dụng

vấn đề đã được giao.

Điều tra từ HS: Lấy ý kiến thăm dò từ nhiều HS thông qua phiếu điều tra, hỏi

trực tiếp để chia thành viên, giao phân công nhiệm vụ phù hợp cho các nhóm, các

lớp khác nhau.



5



Phân tích: Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện các nội

dung liên quan đến vấn đề mà HS tìm hiểu từ đó đề ra các yêu cầu phù hợp với

thực tế và điều kiện của HS.

Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở điều tra, nghiên cứu thử nghiệm, phân tích

từ kết quả thực tế qua đó tổng hợp dẫn đến kết luận chung.

Phương pháp quan sát: Quan sát kết quả đạt được từ việc áp dụng sáng kiến.

Thời gian để hoàn thiện: Trong vòng 2 năm học 2011-2012 và 2012- 2013.

B. NỘI DUNG

I. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI

Giáo dục về MT là phải làm cho các em thấy hứng thú đối với các vấn đề về

MT, phải làm cho các em chủ động quan tâm đến MT, nhận thức đúng đắn về tác

hại của việc làm ÔNMT, có thái độ đúng đắn, biết thể hiện quan điểm, chính kiến

về các vấn đề MT, có các hành động cụ thể để góp phần BVMT. Thực tế giảng dạy

ở trường THPT tôi thấy HS chưa thực sự quan tâm đến vấn đề MT hoặc mức độ

quan tâm chưa cao và còn mang tính thụ động, đôi khi các em có những hành động

gây ÔNMT mà bản thân các em không nhận thức rõ và coi đó là việc nhỏ nhặt, vô

hại, dần dà trở thành thói quen nếu không được giáo dục tốt thì sẽ hình thành thế hệ

công dân sống vô cảm với MT, xa hơn nữa là sự định hướng sai lệch trong việc

sống thân thiện với MT. Vì vậy cần phải giáo dục cho các em biết được về tầm

quan trọng của MT, góp phần thay đổi nhận thức và hành vi của chính bản thân các

em.

Với sáng kiến kinh nghiệm này cũng nhằm để tìm hiểu, đánh giá sự nhận thức

và sự quan tâm của HS đến MT và cũng để tạo ra sân chơi bổ ích ích cho HS đồng

thời góp phần giáo dục cho HS ý thức BVMT.

II. MÔ TẢ TÍNH MỚI CỦA SÁNG KIẾN

1. Tính mới của sáng kiến

- Với đề tài này đã xây dựng cách thức để HS biết cách trình bày một vấn đề khoa

học được tìm hiểu.

- Đề tài giúp phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS, HS được tự tìm hiểu, tự trình

bày và được nêu quan điểm về vấn đề nghiên cứu, vấn đề được thảo luận có tính

thực tế, gần gũi với cuộc sống và có ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội, đó là

vấn đề MT.

- Lồng gép được hoạt động dạy và học với các hoạt động ngoại khóa.

Trên cơ sơ thực tiễn ở trường THPT Tam Quan tôi đã áp dụng các cách làm có

tính thực tế phù hợp với năng lực, trình độ nhận thức, thời gian và điều kiện của

thực tiễn đặt ra cụ thể như sau:



6



1.1. Đối với GV

Để thực hiện các yêu cầu đặt ra cũng như hướng tới mục đích của sáng kiến

kinh nghiệm này, tôi đã tiến hành các bước như sau:

- Giáo dục cho HS biết được tầm quan trọng của BVMT sống qua các bài giảng

trên lớp.

- Hướng dẫn HS tìm hiểu các nguồn gây ÔNMT có thể có ở địa phương, trên ba

mảng lớn + ÔNMT nước.

+ ÔNMT đất.

+ ÔNMT không khí.

- Chia nhóm học sinh trong một lớp theo đơn vị tổ hoặc để cho HS tự thành lập tổ,

mỗi tổ có từ 8- 13 thành viên, tùy theo số lượng HS trong một lớp.

- Hướng dẫn HS cách tìm hiểu thông tin về MT từ internet, sách báo.

- Hướng dẫn HS cách viết và trình bày bản báo cáo về vấn đề ÔNMT với bố cục

như sau:

- Tổ chức đánh giá, nhận xét về các bài viết của HS.



Viết trên khổ giấy A4 hoặc đánh máy từ 15 trang trở lên

Trang bìa

Trang mục lục

Trang ghi các thành viên của nhóm

Lời mở đầu

Nội dung

Ý kiến của các thành viên

Kết luận chung

Nội dung và bố cục từng trang được minh họa như sau:

Trang thứ 1 (Trang bìa): HS thiết kế và đánh máy vi tính với nội dung như sau:



7



Sở giáo dục đào tạo Bình Định

Trường THPT Tam Quan

------------***-------------



CHUYÊN ĐỀ: TÌM HIỂU VỀ VẤN

ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

Nhóm … lớp …..



Năm Học :

Trang thứ 2: Nhóm thực hiện chuyên đề (ghi rõ tên nhóm, lớp, họ và tên các thành

viên của nhóm) ví dụ:



8



Lớp 11A2

Tên các thành viên

1. Lê Văn Trung

2. Trần Văn Toàn

3. Trần Thị Thanh

4. Nguyễn Văn Tiến

5. Đào Duy Mạnh

6. Trần Công Hậu

7. Nguyễn Văn Minh

8. Trần Thị Đào

9. Phan Thị Bích Trinh

10. Nguyễn Tú Trinh



Trang thứ 3: HS ghi mục lục của chuyên đề (HS ghi các tiêu đề nội dung chính

của bài viết và số thứ tự của nó).



9



Ví dụ:

Lời mở đầu

Trang 1

Tác nhân gây ÔNMT nước

Trang 2

Tác nhân gây ÔNMT đất

Trang 3

Tác nhân gây ÔNMT không khí

Trang 4



Trang thứ 4: HS ghi lời mở đầu (giới thiệu về chuyên đề của nhóm mình thực

hiện).

Ví dụ: trích từ Nhóm 4 - lớp 11A2



Chúng ta đã từng nghe nói nhiều về kinh tế xanh, phát triển kinh tế phải đi đôi

với BVMT. Vậy MT là gì ? Nó quan trọng với chúng ta như thế nào?

“MT là khoảng không gian bao quanh trái đất có mối quan hệ trực tiếp đến sự

tồn tại và phát triển của xã hội loài người” [sách giáo khoa Địa lí 10- trang 159],

MT rất quan trọng đối với chúng ta. Con người muốn tồn tại và phát triển được cần

có những điều kiện thích hợp ví dụ như: được sống trong một MT trong sạch, được

sử dụng các sản phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, được nghỉ ngơi thư giãn

sau những giờ làm việc... Hiện nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng đưa

tin về thực phẩm bẩn, về rau quả có dư lượng hóa chất vượt ngưỡng cho phép làm

cho chúng ta rất lo lắng cho sức khỏe trong mỗi bữa ăn, khi đã đảm bảo được bữa

ăn an toàn thì lại có một nỗi lo khác là nỗi lo về nước uống, nỗi lo về không khí

ÔN, đó là nỗi lo chung về MT sống.

Vấn đề ÔNMT đang vô cùng cấp bách trong xã hội chúng ta, không chỉ có ở các

thành phố lớn mà hiện nay với sự phát triển kinh tế nông thôn, sự gia tăng dân số

và nhu cầu của xã hội cũng đang làm cho bộ mặt nông thôn cũng dần thay đổi. Sự

phát triển về cơ sở hạ tầng, dịch vụ cộng với đó là nhu cầu sử dụng đồ dùng sinh

hoạt của người dân cũng tăng lên đáng kể đã tạo ra nhiều rác thải trong sinh hoạt

cũng như trong hoạt động sản xuất. Việc xử lí các chất thải này không phải dễ

dàng, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, nơi mà điều kiện còn nhiều hạn chế.

Ở Tam Quan và khu vực lân cận, cũng đã có không ít các cơ sở sản xuất công

nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và hộ gia đình sản xuất các ngành nghề thủ công, nuôi

trồng và đánh bắt thủy hải sản, hàng năm giải quyết khá nhiều công ăn việc làm,

tạo ra nguồn thu nhập cho người dân, chính quyền địa phương đã và đang góp phần

làm thay đổi bộ mặt nông thôn, nhưng bên cạnh đó cũng tạo ra không ít các hệ lụy

xấu trong đó có việc gây ÔNMT, làm ảnh hưởng tới sức khỏe và đảo lộn cuộc sống

của người dân. Không chỉ vậy, mà bản thân một số người dân vì ý thức BVMT

chưa cao cũng đang làm cho MT nơi mình sinh sống ngày càng trở nên ÔN hơn.



10



Thực trạng của các vấn đề nêu trên hiện nay ra sao và các biện pháp khắc phục,

phòng ngừa như thế nào được chúng em nhìn nhận và đánh giá trình bày trong

chuyên đề “ Tìm hiểu và viết báo cáo về vấn đề ÔNMT ”.

Trang tiếp theo: HS trình bày thực trạng vấn đề ÔN hiện nay ở địa phương

( Từ những thực tế ở địa phương các em trình bày trên 3 mảng )

+ ÔNMT đất.

+ ÔNMT nước.

+ ÔNMT không khí.

Ví dụ: trích từ Nhóm 3- lớp 11A2

“ÔNMT đất: Đất có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của người dân,

phần lớn đất ở nông thôn chủ yếu được dùng vào việc trồng trọt và chăn nuôi.

ÔNMT đất xảy ra khá phổ biến ở nông thôn hiện nay. Người dân đa số còn chôn

lấp các chất thải khó phân hủy, như túi nilon, bao bì nhựa, vỏ lon bia, các chai

rượu, các túi đựng hóa chất bảo vệ thực vật gần nơi mình sinh sống. Các chất này

thời gian phân hủy rất lâu, có khi làm nhiễm độc nguồn nước ngầm chảy trong lòng

đất.

Ví dụ: ở thị trấn Tam Quan, sau mỗi vụ làm đất cấy lúa, chúng em thường thấy

các chai, lọ đựng thuốc bảo vệ thực vật được vứt hai bên bờ ruộng đó là nguồn ÔN

lâu dài nguồn nước và đất nếu không có biện pháp thu gom và xử lí đúng cách.

Hình ảnh minh họa: Phụ lục 2.

ÔNMT nước: Nước rất quan trọng cho sự sống trên trái đất. ¾ bề mặt trái đất là

nước nhưng lượng nước ngọt trong số đó chỉ chiếm một phần nhỏ. Theo ước tính,

tổng lượng nước trên trái đất vào khoảng 1.386 triệu km3, tuy nhiên trên 96% số đó

là nước mặn. Trong số hơn 3% nước ngọt còn lại, 68% lại tồn tại dạng băng và

sông băng; 30% là nước ngầm. Nguồn nước mặt như nước trong các sông hồ, chỉ

chiếm khoảng 0.0067%. Đây là những nguồn nước chủ yếu mà con người sử dụng

hàng ngày. Vấn đề sử dụng nước ngọt đang là vấn đề toàn cầu không chỉ riêng ở

Việt Nam. Hiện nay nguồn nước ngọt đang ngày càng khan hiếm, cùng với đó là

việc thải chất thải chưa qua xử lí đang làm cho nguồn nước ngầm, nước sông hồ

càng ÔN trầm trọng hơn.

Trong số các nguyên nhân làm ÔN nguồn nước có các nguyên nhân cơ bản sau

sau:

Việc thải các chất thải ở các khu công nghiệp và xưởng thủ công, cơ sở sản xuất

không qua xử lí thải xuống đất, thải xuống sông hồ, cửa biển.

Ví dụ: Xưởng gỗ ở khối 8 Thị trấn Tam Quan thải ra rất nhiều nước có chứa

hóa chất độc hại, không qua xử lí trực tiếp ra khu vực đất trống ở phía sau nhà máy.

Hình ảnh minh họa: Phụ lục 3.

Các cơ sở sản xuất tinh bột mì ở xã Hoài Hảo thường xuyên thải nước thải của

quá trình sản xuất trực tiếp ra khu vực đất xung quanh đó, gây ra ÔN nguồn nước



11



trầm trọng, gây ra mùi rất thối, ảnh hưởng rất lớn đến khu vực dân cư xung quanh.

Các cơ sở nuôi trồng thủy hải sản với việc sử dụng rất nhiều các thức ăn công

nghiệp cũng đang làm nguồn nước chảy qua khu vực xã Tam Quan Bắc rất đục và

thường có rất nhiều bọt có mùi khó chịu. Việc các hộ dân thường xuyên vứt xác

động vật chết như lợn, gà vịt xuống sông cũng gây ÔNMT, tiềm ẩn phát sinh rất

nhiều căn bệnh khó kiểm soát.

Hình ảnh minh họa: Phụ lục 4.

Người dân đang có một thói quen xấu đó là vứt rác thải sinh hoạt, túi nilon, đồ

nhựa, quần áo và các vật dụng khó phân hủy xuống các dòng sông, dòng kênh đó là

một trong những nguyên nhân làm tắc nghẽn dòng chảy của các con sông này, gây

ứ động nước. Các chất này là những chất rất khó phân hủy chúng tồn tại trong MT

nước rất lâu, theo thời gian tạo ra một lượng chất thải khổng lồ và điều đó rất nguy

hiểm cho sự sống, phát triển của các loài sinh vật sống trong nước, đó cũng là nơi

phát sinh các mầm bệnh về tiêu chảy, sốt xuất huyết…rất nguy hiểm cho con

người.

Hình ảnh minh họa: Phụ lục 5

ÔNMT không khí: Không khí rất quan trọng đối với chúng ta, một MT trong

sạch đòi hỏi một bầu không khí không bị ÔN. Song hiện tại do sự phát triển của cơ

sở hạ tầng giao thông, với nhiều tuyến đường lớn chạy qua, với các nhà máy đóng

trên địa bàn đang làm cho không khí trở nên ÔN hơn.

Ví dụ: Nhà máy gỗ ở khối 8, thị trấn Tam Quan thường xuyên đốt và thải ra một

lượng rất lớn khí độc, những khi có gió khí đó theo chiều gió bay thẳng vào các hộ

gia đình sống trong khu vực xung quanh nhà máy, gây đảo lộn cuộc sống và về lâu

dài ảnh hưởng tới sức khỏe của con người.

Hình ảnh minh họa: Phụ lục 6.

Đối với các hộ dân sống trên tuyến đường có mật độ phương tiện giao thông

cao thì bụi trở thành vấn đề nhức nhối, nan giải không chỉ ảnh hưởng tới sinh hoạt

hằng ngày mà còn ảnh hưởng tới sức khỏe.

Tuyến giao thông quốc lộ 1A chạy qua địa bàn khối 7, 3, 1 thị trấn Tam Quan

và các xã Hoài Thanh Tây, Hoài Hảo có mật độ phương tiện tham gia giao thông

rất lớn, các phương tiện này đang thải ra rất nhiều khí độc hại và kéo theo đó là vấn

đề về bụi đã làm cho người dân sống hai bên ven đường bị ảnh hưởng rất nhiều.

Việc các hộ gia đình chăn nuôi không xây dựng hệ thống xử lí chất thải động

vật, gây ra các mùi hôi thối đang rất phổ biến hầu hết trong khu vực nông thôn

Việt Nam nói chung và khu vực địa bàn chúng em đang sống nói riêng. Việc đốt

các chất thải trong các hộ gia đình cũng làm ÔNMT không khí, đặc biệt việc đốt



12



túi nilon đang rất phổ biến, thải ra rất nhiều khí độc ảnh hưởng tới sức khỏe chúng

ta là các ví dụ sinh động về thực tế ÔNMT hiện nay. ”

Hình ảnh minh họa: Phụ lục 7.

Trang thứ 6: HS trình bày biện pháp góp phần BVMT (Đưa ra biện pháp

phòng ngừa, khắc phục vấn đề ÔNMT)

Ví dụ: trích từ Nhóm 1- lớp 11A3.

“Qua những phân tích trên đã chỉ ra rằng việc gây ÔNMT đất thường kéo theo

ÔNMT nước, đặc biệt là nguồn nước ngầm, do vậy để tránh việc gây ÔNMT nước

cần loại trừ các nguồn ÔN đã được đề cập trên. Có những biện pháp đã được áp

dụng rất hiệu quả ở nhiều địa phương trong cả nước và được các phương tiện

truyền thông đưa tin. Trên cơ sở thực tế ở địa phương, chúng em xin đề xuất các

biện pháp có thể áp dụng như sau:

Đối với nguồn rác thải sinh hoạt của các hộ gia đình cần xử lí đúng cách, hợp

vệ sinh, để làm được điều đó cần phân loại tại nguồn.

- Rác có nguồn gốc hữu cơ dễ phân hủy như các loại hoa quả, rau, lá,…

- Rác có nguồn gốc hữu cơ khó phân hủy nhưng có thể tái chế như các vật dụng

bằng nhựa: chai nhựa, lon nhựa, rổ giá nhựa, bao bì…

- Rác thải có nguồn gốc vô cơ có thể tái chế như các loại vật dụng bằng kim loại:

vỏ lon bia, song, nồi nhôm, xe đạp hỏng…Vật dụng làm từ thủy tinh: bóng đèn,

chai thủy tinh….

- Rác thải có nguồn gốc vô cơ khó phân hủy như: các loại xỉ xây dựng…

Sau khi đã phân loại cần xử lí rác theo các hướng khác nhau. Đối với rác thải

hữu cơ dễ phân hủy có thể ủ, chôn lấp hoặc làm phân bón hữu cơ. Đối với rác thải

có nguồn gốc hữu cơ khó phân hủy và rác thải vô cơ có thể tái chế thì cần thu gom

và bán cho các cơ sở tái chế.

Ví dụ: ở Khối 6, thị trấn Tam Quan có cơ sở chuyên thu mua các vật dụng bằng

kim loại, các loại bao bì giấy và chuyển vào các nhà máy ở thành phố Hồ Chí

Minh.

Đối với rác thải có nguồn gốc vô cơ khó phân hủy: các loại chất thải xây dựng

như xỉ…thì biến đổi mục đích sử dụng hoặc tái sử dụng.

Ví dụ: Xỉ xây dựng có thể dùng để lát đường, chai thủy tinh sau khi thu gom

được xử lí và tái sử dụng.

Đối với chất thải chăn nuôi: Đây là nguồn phân hữu cơ có thể tận dụng trong

sản xuất nông nghiệp và hầu hết đều được sử dụng vào mục đích đó. Nhưng cần

xây dựng công trình chứa chất thải hợp vệ sinh, chất thải phải được chứa đựng

trong các hố làm bằng bê tông, hoặc các vật liệu không thấm nước như nhựa hoặc

vật liệu tổng hợp…và phải có nắp đậy, phải xa khu vực sinh sống của con người để

tránh ÔN không khí và ÔN nước ngầm. Có thể xây dựng các hầm bioga để tận

dụng nguồn khí vào mục đích cung cấp khí đốt.



13



Đối với các cơ sở sản xuất thủ công: Cần đưa các cơ sở sản xuất này ra khỏi khu

dân cư tập trung, di chuyển vào các cụm công nghiệp, nơi có các hệ thống xử lí

chất thải đạt tiêu chuẩn. Đối với các nhà máy: Cần phải được đầu tư các hệ thống

xử lí chất thải đúng quy trình và đạt tiêu chuẩn.

Để giảm bớt ÔN không khí cần trồng nhiều cây xanh ở ven các con đường, vừa

tạo ra bầu không khí trong lành, vừa tạo được cảnh quan đẹp cho nơi mình sống.

Viêc sử dụng hợp lí, tiết kiệm các sản phẩm tiêu dùng, sử dụng tiết kiệm điện năng,

năng lượng…cũng góp phần vào BVMT sống của chúng ta. Các biện pháp xử lí

ÔN sẽ là không hiệu quả nếu ý thức của người dân không được nâng cao, vì vậy

điều quan trọng là cần tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, hiểu biết cho mỗi

người dân, để việc tham gia BVMT trở thành một việc làm tự giác, chủ động và

thường xuyên.

Hiện nay người dân được tiếp xúc nhiều với các thông tin về BVMT, qua các

phương tiện thông tin đại chúng nhưng hầu như các thông tin đó đi vào được đời

sống thực tế rất hạn chế, vì vậy theo chúng em mỗi HS nên là một tuyên truyền

viên, tuyên tuyền cho chính gia đình của mình và hàng xóm xung quanh. Cũng nên

chăng mỗi địa phương, mỗi năm nên tổ chức các cuộc diễu hành vì MT, để tuyên

truyền về BVMT và nên có các hoạt động cụ thể như tổ chức các tổ tự quản, tổ vệ

sinh MT ở khu vực thôn xóm, đường phố”.

Trang tiếp theo: HS trình bày phần mở rộng vấn đề về ÔNMT và các biện pháp

đã được áp dụng để phòng ngừa và xử lí ÔNMT trong thực tế ở Việt Nam và trên

thế giới.

Ví dụ: trích từ lớp Nhóm 2 – lớp 11A2.

“ Vấn đề MT không chỉ bó hẹp ở một không gian địa điểm cụ thể nào, mà đang là

vấn đề toàn cầu. Hiện nay trên thế giới các nước tiên tiến đang rất quan tâm tới vấn

đề MT. Ở nhiều Quốc gia trong liên minh Châu Âu họ đặt ra tiêu chuẩn khí thải

cho các loại xe, các loại động cơ có tiêu thụ năng lượng…họ rất quan tâm và có

những đầu tư rất lớn cho MT. Còn ở nước ta thì sao? Một đất nước đang trong quá

công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển công nghiệp, dịch vụ, nông- lâm- ngư

nghiệp...để đưa đất nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020,

một đất nước không có nền tảng về khoa học kĩ thuật tốt như các nước phát triển,

nên chúng ta không có nhiều sự lựa chọn. Sự phát triển công nghiệp có tác dụng rất

lớn đối với nền kinh tế nói chung nhưng bên cạnh đó cũng đã để lại không ít tác

động đến MT. Việc các nhà máy công nghiệp xả thải chưa qua xử lí không phải là

không có. Ví dụ như vụ xả thải trên sông Thị Vải – Đồng Nai của công ty VeDan

Việt Nam vào năm 2008, vụ xả thải trên kênh Tham Lương – Thành phố Hồ Chí



14



Minh của công ty dệt Thái Tuấn…là các vụ việc điển hình đã làm ÔNMT đất và

nước trầm trọng mà việc khắc phục hậu rất khó khăn và lâu dài, đòi hỏi phải có

nguồn kinh phí lớn.

Nước ta có đường bờ biển dài, lại nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, mỗi

năm đều phải gánh chịu nhiều thiên tai như bão, lũ lụt xảy ra triền miên đặc biệt là

ở Miền Trung và rất nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan như mưa đá, lốc tố, hạn

hán…vì vậy vấn đề phát triển bền vững lại được quan tâm hàng đầu.

Đứng trước những thách thức đó Đảng và Nhà nước ta cũng đã xác định đường

lối phát triển kinh tế đúng đắn: phát triển kinh tế phải theo hướng bền vững, phát

triển kinh tế phải đi đôi với việc BVMT, kêu gọi đầu tư nước ngoài nhưng không

bằng mọi giá, mời gọi đầu tư nhưng phải lựa chọn công nghệ tiên tiến, thân thiện

với MT, để góp phần sự phát triển hưng thịnh của đất nước trong tương lai. Hy

vọng với những chủ trương, chính sách đúng đắn đó sẽ đưa đất nước ta ngày một

giàu mạnh và văn minh hơn.”

Trang tiếp theo: Kết luận chung (HS trình bày ý nghĩa của việc BVMT)

Ví dụ: trích từ Nhóm 3- lớp 11A3.

“ MT có tầm quan trọng đối sự sống và phát triển của con người. BVMT không

chỉ là trách nhiệm của các cơ quan, ban ngành hay một tổ chức nào, mà còn là trách

nhiệm của mỗi người dân. BVMT phải xuất phát từ hành động cụ thể, việc làm

thiết thực.

Đối với chúng em đang ở lứa tuổi cắp sách tới trường, được tiếp thu các kiến

thức khoa học và có những hiểu biết về tự nhiên và xã hội nhất định, được sống

trong MT trong lành nhưng không vì thế mà không quan tâm đến MT. Có thể ở

hiện tại MT không bị ÔN nhưng không có nghĩa là trong tương lai nó không bị ÔN.

Vì vậy việc gìn giữ và BVMT bằng các hành động cụ thể là đang góp phần cho

tương lai tốt đẹp hơn”.

Trang tiếp theo: Ý kiến của từng cá nhân trong nhóm (Các thành viên của

nhóm trình bày những suy nghĩ, ý kiến của mình, mỗi ý kiến sẽ mang thông điệp

nhắn gửi tới mọi người về MT).

Ví dụ: trích từ Nhóm 1- lớp 11A3.



Ngọc Cường: Nói vấn đề ÔNMT có thể xa xôi nhưng nó đã hiện diện ngay trước

mắt của em. Nhà em đang phải sống chung với mùi hôi thối bốc lên từ xưởng chế

biến tinh bột mì của nhà hàng xóm. Mỗi ngày đặc biệt là khi trời mưa, thì mùi hôi

đó bốc lên càng nồng nặc, đã gây ra không ít phiền toái cho gia đình em. Thiết nghĩ

nếu mỗi người dân có ý thức hơn trong vấn đề BVMT thì cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn.



15



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (26 trang)

×