1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Kinh tế >

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.34 MB, 102 trang )


Quan niệm thứ hai, HQKD là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ

sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất

trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí nhỏ nhất [mục 7].

Quan niệm thứ ba, HQKD là chỉ tiêu xác định bằng đại lượng so

sánh giữa kết quả với chi phí [mục 2]. Quan niệm này đã phản ánh đƣợc

mối quan hệ bản chất của HQKD. Tuy nhiên sự so sánh này là chƣa đủ vì

nó mới chỉ phản ánh sự đo lƣờng, mà HQKD thì phải vừa phản ánh đƣợc

mặt định tính, phải vừa thể hiện đƣợc mặt định lƣợng, không những xác

định đƣợc công thức thể hiện, mà còn ứng dụng đƣợc vào thực tiễn sản

xuất kinh doanh, thể hiện đƣợc sức sống đem lại ý nghĩa trong quản lý.

Hai mặt định tính và định lƣợng này phải đƣợc xem xét trong mố i quan hệ

chặt chẽ với nhau.

Quan niệm thứ tư, HQKD là hiệu quả tài chính của doanh nghiệp [mục

10]. Quan niệm này coi HQKD là hiệu quả tài chính của doanh nghiệp tức là

đề cập đến mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận đƣợc và

chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có đƣợc lợi ích kinh tế đó. Quan niệm

này đúng với những nhà Đầu tƣ khi xét hiệu quả của các dự án Đầu tƣ (tƣơng

ứng với khái niệm đánh giá tài chính, đánh giá kinh tế dự án), nhƣng không

đúng với các doanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh, bởi vì hiệu quả tài

chính chỉ liên quan đến việc thu chi có liên quan trực tiếp. Các nhà Đầu tƣ

trong chi phí khai thác hàng năm không xét tới yếu tố khấu hao tài sản vì giá

trị của nó đã đƣợc thể hiện ở chi phí Đầu tƣ, còn đối với doanh nghiệp sản

xuất kinh doanh thì khấu hao là một yếu tố chi phí.

Từ việc phân tích các quan niệm về hiệu quả kinh doanh của doanh

nghiệp, trong phạm vi luận văn này "Hiệu quả kinh doanh của doanh

nghiệp là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực



6



của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện

mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp".

1.1.3. Phân loại hiệu quả

Phân loại hiệu quả kinh doanh là việc làm hết sức cần thiết, nó cho phép

các doanh nghiệp xem xét và đánh giá kết quả mà mình đạt đƣợc và là cơ sở

để xây dựng chiến lƣợc, kế hoạch và các chính sách của doanh nghiệp. Trong

công tác quản lý, phạm trù hiệu quả đƣợc biểu hiện ở nhiều dạng khác nhau,

mỗi dạng có những đặc trƣng và ý nghĩa khác nhau. Việc phân loại hiệu quả

theo những tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực trong việc tổ chức quản

lý và hoạt động của doanh nghiệp.

1.1.3.1. Hiệu quả cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân

Hiệu quả cá biệt là hiệu quả thu đƣợc từ hoạt động kinh doanh của từng

doanh nghiệp, với biểu hiện trực tiếp là lợi nhuận và chất lƣợng thực hiện

những yêu cầu mà xã hội đặt ra cho doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế quốc dân

đƣợc tính cho toàn bộ nền kinh tế. Về cơ bản nó là sản phẩm thặng dƣ, thu

nhập quốc dân hay tổng sản phẩm xã hội mà đất nƣớc thu đƣợc trong mỗi thời

kỳ so với lƣợng vốn sản xuất, lao động xã hội và tài nguyên đã hao phí.

Trong cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc, không những cần

phải tính toán và đạt đƣợc hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của từng doanh

nghiệp mà còn phải đạt hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, trong đó

mức hiệu quả kinh tế quốc dân lại phụ thuộc vào hiệu quả cá biệt, tức là hiệu

quả của nền kinh tế phụ thuộc vào hiệu quả của từng doanh nghiệp. Đồng thời

thông qua hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nƣớc cũng có tác động đến

hiệu quả cá biệt. Cơ chế, chính sách của Nhà nƣớc mà đúng đắn sẽ tạo thuận

lợi cho việc nâng cao hiệu quả cá biệt và ngƣợc lại nó sẽ kìm hãm hiệu quả cá

biệt của các doanh nghiệp.



7



1.1.3.2. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận

Hiệu quả kinh doanh tổng hợp thể hiện mối tƣơng quan giữa kết quả thu

đƣợc và chi phí bỏ ra để thực hiện hoạt động kinh doanh. Hiệu quả kinh

doanh bộ phận lại thể hiện mối tƣơng quan giữa kết quả thu đƣợc với chi phí

từng yếu tố cần thiết để thực hiện nhiệm vụ ấy (lao động, thiết bị, nguyên vật

liệu…). Việc tính toán chỉ tiêu kinh doanh tổng hợp cho thấy hiệu quả chung

của doanh nghiệp. Việc tính toán chỉ tiêu kinh doanh bộ phận cho thấy sự tác

động của các yếu tố nội bộ hoạt động kinh doanh đến hiệu quả kinh tế chung.

Về nguyên tắc, hiệu quả kinh doanh tổng hợp phụ thuộc vào hiệu quả kinh

doanh bộ phận.

1.1.3.3. Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh

Trong hoạt động kinh doanh, việc xác định và phân tích hiệu quả nhằm

hai mục đích:

Một là, phân tích đánh giá trình độ quản lý và sử dụng các loại chi phí

trong kinh doanh.

Hai là, phân tích luận chứng về kinh tế - xã hội các phƣơng án khác nhau

trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó.

Hiệu quả tuyệt đối đƣợc tính toán cho từng phƣơng án bằng cách xác

định mối tƣơng quan giữa kết quả thu đƣợc với chi phí bỏ ra khi thực hiện

mục tiêu.

Hiệu quả so sánh đƣợc xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả

tuyệt đối, hoặc so sánh tƣơng quan các đại lƣợng thể hiện chi phí hoặc kết quả

của các phƣơng án với nhau.

Cách phân loại này đƣợc sử dụng khá phổ biến và rộng rãi trong việc

thẩm định các dự án mới Đầu tƣ. Với các doanh nghiệp đi vào hoạt động thì

chỉ tiêu hiệu quả so sánh đƣợc xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu

quả tuyệt đối với hai mốc thời gian khác nhau.



8



1.2. CÁC NGUYÊN TẮC VÀ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH

1.2.1. Nguyên tắc đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.1.1. Đảm bảo sự thống nhất biện chứng về mặt thời gian và không gian

Sự toàn diện của hiệu quả đạt đƣợc trong từng giai đoạn không đƣợc làm

giảm hiệu quả khi xét trong dài hạn, hoặc hiệu quả của chu kỳ sản xuất trƣớc

không đƣợc làm hạ thấp hiệu quả của chu kỳ sau. Trong thực tế không ít

trƣờng hợp chỉ thấy lợi ích trƣớc mắt, thiếu sự xem xét lợi ích toàn diện và lâu

dài. Vấn đề này tồn tại ở khá nhiều doanh nghiệp và trong đội ngũ cán bộ

quản lý doanh nghiệp. Nghiên cứu và xem xét hiệu quả; nâng cao hiệu quả

kinh doanh về mặt thời gian là việc không thể không xem xét của các nhà

quản trị doanh nghiệp để doanh nghiệp tồn tại và phát triển.

Bên cạnh đó, có hiệu quả kinh doanh hay không còn phụ thuộc vào chỗ

hiệu quả của hoạt động cụ thể nào đó có ảnh hƣởng tăng hay giảm nhƣ thế

nào đối với cả hệ thống mà nó có liên quan, tức là giữa ngành kinh tế này với

ngành kinh tế khác, giữa từng bộ phận với toàn bộ hệ thống, và đặc trƣng là

đối với doanh nghiệp Nhà nƣớc thì có mối quan hệ với hiệu quả kinh doanh

và việc thực hiện các mục tiêu khác ngoài mục tiêu kinh tế.

Nhƣ vậy, với nỗ lực tính từ giải pháp kinh tế - tổ chức - kỹ thuật nào đó

dự định áp dụng vào thực tiễn đều phải đƣợc đặt xem xét toàn diện. Khi hiệu

quả ấy không làm ảnh hƣởng tiêu cực tới hiệu quả chung thì nó mới đƣợc coi

là thực sự có hiệu quả.

1.2.1.2. Xét trên cả hai mặt định lƣợng và định tính

Về định lƣợng, hiệu quả kinh tế phải đƣợc thể hiện trong mối tƣơng quan

giữa thu và chi theo hƣớng tăng thu, giảm chi. Điều đó có nghĩa là tiết kiệm

tối đa chi phí sản xuất kinh doanh mà thực chất là hao phí lao động (lao động

sống và lao động vật hóa) để tạo ra một đơn vị sản phẩm.



9



Về định tính, trong bất kỳ hoạt động kinh doanh nào, khi đánh giá hiệu

quả của hoạt động đó không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả đạt đƣợc mà

còn đánh giá chất lƣợng của kết quả ấy. Có nhƣ vậy thì hiệu quả kinh doanh

mới đƣợc đánh giá toàn diện.

Kết quả đạt đƣợc trong sản xuất mới đảm bảo đƣợc yêu cầu tiêu dùng

của mỗi cá nhân và toàn xã hội. Nhƣng kết quả tạo ra ở mức nào, với giá trị

nào, đó chính là vấn đề cần xem xét, vì nó là chất lƣợng của hoạt động tạo ra

kết quả. Vì thế đánh giá hoạt động kinh doanh không chỉ đánh giá kết quả mà

còn đánh giá chất lƣợng của hoạt động tạo ra kết quả đó, tức là đánh giá

ngƣời sản xuất tạo ra kết quả bằng phƣơng tiện gì, bằng cách nào và chi phí là

bao nhiêu. Ngoài ra, nhu cầu tiêu dùng của con ngƣời bao giờ cũng lớn hơn

khả năng tạo ra sản phẩm của họ, do đó vấn đề mà con ngƣời quan tâm là làm

sao với khả năng hiện có tạo ra đƣợc nhiều sản phẩm nhất. Đây là một nguyên

nhân mà chúng ta phải xem xét lựa chọn cách thức để đạt đƣợc kết quả lớn

nhất. Điều này cũng minh họa cho sự khác biệt giữa hai khái niệm hiệu quả và

kết quả.

1.2.1.3. Đánh giá hiệu quả kinh doanh phải căn cứ cả mặt hiện vật và mặt

giá trị của hàng hóa

Mặt hiện vật của hàng hóa thể hiện ở số lƣợng sản phẩm, chất lƣợng sản

phẩm; mặt giá trị là biểu hiện bằng tiền của sản phẩm hàng hóa, của kết quả

và chi phí bỏ ra. Xem xét đánh giá hiệu quả kinh doanh trên cả hai mặt giá trị

và hiện vật là một tất yếu. Đứng trên giác độ hiện vật, nó cho biết khả năng

cung cấp và thoả mãn nhu cầu thị trƣờng của doanh nghiệp; đứng trên giác độ

mặt giá trị nó cho biết hiệu quả đích thực của kinh doanh.

1.2.1.4. Đảm bảo tính chính xác của các số liệu tính toán

Các số liệu tính toán các chỉ tiêu hiệu quả phải là số liệu chính xác, phản

ánh khách quan hoạt động của doanh nghiệp. Bởi vì các chỉ tiêu hiệu quả là



10



những chỉ tiêu rất quan trong đối với hoạt động quản trị doanh nghiệp. Các

nhà quản trị doanh nghiệp thƣờng xem xét các chỉ tiêu hiệu quả này để biết

đƣợc những tồn tại và yếu kém trong hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời

các biện pháp đƣa ra cũng dựa trên cơ sở các chỉ tiêu hiệu quả này. Để nâng

cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp nói chung thì doanh nghiệp phải

nâng cao từng chỉ tiêu hiệu quả, đặc biệt là những chỉ tiêu quan trọng và số

liệu tính toán chính là cơ sở để có đƣợc các chỉ tiêu này.

1.2.1.5. Đánh giá hiệu quả phải sử dụng tổng hợp các chỉ tiêu hiệu quả

khác nhau

Để phản ánh một cách toàn diện và chính xác về hoạt động sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp. Ta cũng biết rằng việc đánh giá hiệu quả kinh doanh

của doanh nghiệp có thể dựa trên rất nhiều các chỉ tiêu, mỗi chỉ tiêu hiệu quả

này có những đặc trƣng và ý nghĩa riêng, phản ánh một khía cạnh nào đó

trong hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, để có cái nhìn chính xác thì khi

đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cũng nhƣ sử dụng các chỉ tiêu

hiệu quả cho hoạt động quản trị doanh nghiệp thì phải sử dụng nhiều chỉ tiêu

đánh giá về nhiều mặt khác nhau của doanh nghiệp nhƣ chỉ tiêu sử dụng vốn

lƣu động, chỉ tiêu sử dụng vốn cố định, chỉ tiêu sử dụng lao động,…

1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.2.1 Lợi nhuận và doanh lợi của hoạt động

Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả của kinh doanh trong

một thời kỳ nhất đinh. Lợi nhuận là chỉ tiêu cơ bản nhất để đánh giá hiệu quả

kinh tế của hoạt động kinh doanh.

a) Tổng lợi nhuận của hoạt động kinh doanh

Tổng lợi nhuận của hoạt động kinh doanh đƣợc tính nhƣ sau:

LN = DT - CP

[mục 5]



11



Trong đó:

LN: là tổng lợi nhuận

DT: là tổng doanh thu

CP: là tổng chi phí

Nhƣ vậy, xét về mục đích kinh doanh thì lợi nhuận là động cơ trực tiếp

của các doanh nghiệp, xét về hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh thì

lợi nhuận là chỉ tiêu cơ bản và đƣợc sử dụng phổ biến nhất.

b) Doanh lợi của hoạt động kinh doanh

Có nhiều cách tính khác nhau về doanh lợi hay tỷ suất lợi nhuận với

những ý nghĩa và tác dụng khác nhau trong phân tích hiệu quả kinh doanh của

doanh nghiệp.

Phƣơng pháp 1: Doanh lợi theo chi phí (Dcf) đƣợc tính theo công thức:

LN

Dcf



=



x

CP



100%



[mục 4]



Chỉ tiêu Dcf cho biết một đồng chi phí bỏ ra có thể thu đƣợc bao nhiêu

đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động

càng có hiệu quả.

Chỉ tiêu này giúp cho nhà quản lý thấy đƣợc hiệu quả của các khoản chi

phí bỏ ra. Nếu doanh nghiệp bỏ ra nhiều chi phí mà lợi nhuận thu về không

nhiều thì doanh nghiệp phải tìm cách giảm các khoản chi phí. Tuy nhiên, nếu

nhƣ dùng chỉ tiêu này để so sánh các doanh nghiệp có đặc thù về ngành nghề

khác nhau thì không thực sự chính xác. Có những doanh nghiệp sản xuất chi

phí bỏ ra lớn nhƣng lợi nhuận không nhiều, trong khi các doanh nghiệp dịch

vụ chi phí không nhiều nhƣng lợi nhuận thu đƣợc lại khá cao. Nhƣng chỉ tiêu

này dùng để so sánh hiệu quả của các doanh nghiệp trong cùng ngành nghề

thì khá chính xác.



12



Phƣơng pháp 2: Doanh lợi theo doanh thu:(DDT) đƣợc tính theo công thức:

LN

DDT



=



x

DT



100%



[mục 4]



Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng doanh thu sẽ có bao nhiêu đồng lợi

nhuận. Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động càng có

hiệu quả.

Các nhà quản lý doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm đến chỉ tiêu này.

Bởi vì có những doanh nghiệp vốn bỏ ra lớn, doanh thu đạt đƣợc cao nhƣng

lợi nhuận thu về lại thấp. Điều này chứng tỏ trong công tác quản lý của doanh

nghiệp chƣa hiệu quả. Chỉ tiêu này cũng đƣợc dùng để so sánh hiệu quả hoạt

động của các doanh nghiệp trong cùng một ngành hoặc giữa các ngành.

Phƣơng pháp 3: Doanh lợi theo vốn, thông thƣờng là doanh lợi theo vốn

lƣu động DVLĐ đƣợc tính theo công thức:

LN

DVLĐ



=



x

VLĐ



100%



[mục 4]



Trong đó: VLĐ là vốn lƣu động

Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lƣu động bỏ ra có thể thu đƣợc bao

nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động

càng có hiệu quả và ngƣợc lại. Có thể nói trong các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả

hoạt động của doanh nghiệp thì đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng

nhất. Chỉ tiêu này phản ánh chính xác khả năng sinh lợi một đồng vốn lƣu

động bỏ ra của doanh nghiệp. Có thể các chỉ tiêu hiệu quả khác của doanh

nghiệp không cao nhƣng chỉ tiêu doanh lợi theo vốn mà cao cũng phản ánh

đƣợc doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả.



13



Lợi nhuận và doanh lợi phản ánh kết quả của hoạt động kinh doanh trong

mối quan hệ với chi phí, doanh thu và vốn. Nhƣng hiệu quả kinh doanh của

doanh nghiệp còn đƣợc thể hiện qua mức tiết kiệm sử dụng các nguồn lực của

doanh nghiệp. Mức tiết kiệm trong việc sử dụng các nguồn lực của doanh

nghiệp đƣợc thể hiện qua các chỉ tiêu phản ánh việc sử dụng vốn và lao động

của doanh nghiệp.

1.2.2.2. Chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả sử dụng tài sản và vốn của doanh nghiệp

a) Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn cố định

Hiệu quả sử dụng vốn cố định đƣợc tính toán bằng nhiều chỉ tiêu, bao

gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau:

* Chỉ tiêu sức sinh lời của vốn cố định(VCĐ)

Lợi nhuận thuần



Sức sinh lời của VCĐ



=



VCĐ bình quân



[mục 4]

Trong đó, Lợi nhuận thuần = Doanh thu thuần - giá vốn hàng bán - chi

phí bán hàng - chi phí quản lý

Chỉ tiêu này còn gọi là hệ số doanh lợi của VCĐ, nó cho biết một đồng

VCĐ bình quân mang lại mấy đồng lợi nhuận thuần trong kỳ.

* Chỉ tiêu VCĐ cho một lao động

VCĐ cho 1 lao động



VCĐ bình quân

=



Số lao động bình quân



[mục 4]

Chỉ tiêu này cho biết xu hƣớng có tính hợp lý của việc tăng TSCĐ cho

một lao động.

b) Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động



14



* Hiệu quả sử dụng vốn lƣu động đƣợc đánh giá qua các chỉ tiêu nhƣ:

Sức sản xuất, sức sinh lời của VLĐ.

Sức sản xuất của VLĐ



Tổng doanh thu thuần

=



Vốn lƣu động bình quân



[mục 4]

Sức sản xuất của VLĐ cho biết một đồng VLĐ làm ra mấy đồng doanh

thu thuần trong kỳ.

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, VLĐ vận động không ngừng,

thƣơng xuyên qua các giai đoạn của quá trình sản xuất. Đẩy nhanh tốc độ luân

chuyển của vốn lƣu động sẽ góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho doanh

nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

* Để xác định tốc độ luân chuyển của vốn lƣu động, ngƣời ta thƣờng sử

dụng các chỉ tiêu sau:

Số vòng quay của vốn lƣu

động



Tổng doanh thu thuần

=



Vốn lƣu động bình quân



[mục 4]

Chỉ tiêu này cho biết số vốn lƣu động quay đƣợc mấy vòng trong kỳ.

Nếu số vòng quay tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn cao và ngƣợc lại, chỉ

tiêu này còn đƣợc gọi là hệ số luân chuyển.

Thời gian của một vòng

luân chuyển



Thời gian của kỳ phân tích

=



Số vòng quay của vốn lƣu

động trong kỳ

Vốn lƣu động



=



x

Doanh thu



[mục 4]



15



360



Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết để cho vốn lƣu động quay đƣợc

một vòng. Thời gian này càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng lớn.

c) Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn nói chung

Ngoài việc xem xét hiệu quả kinh doanh dƣới góc độ sử dụng VCĐ,

VLĐ, chúng ta cần xem xét hiệu quả sử dụng vốn dƣới góc độ sinh lời. Đây là

một trong những nội dung phân tích đƣợc các nhà Đầu tƣ, các nhà tín dụng

quan tâm một cách đặc biệt, vì nó gắn liền với lợi ích của họ cả hiện tại cũng

nhƣ trong tƣơng lai. Để đánh giá khả năng sinh lời của vốn, chúng ta sử dụng

các chỉ tiêu sau:

Hệ số sinh lời của vốn



Lợi nhuận trƣớc thuế

=



Tổng tài sản



[mục 4]

Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất đánh giá khả năng sinh lời của một đồng

vốn Đầu tƣ. Đây còn đƣợc gọi là tỷ lệ hoàn vốn Đầu tƣ.

Hệ số sinh lợi doanh thu thuần



Lợi nhuận

=



Doanh thu thuần



[mục 4]

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng doanh thu thuần đem lại mấy đồng lợi

nhuận. Trong công thức trên chỉ tiêu lợi nhuận thƣờng là lợi nhuận ròng trƣớc

thuế hoặc sau thuế, lợi tức hoặc lợi tức gộp.

1.3. NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.3.1. Những yếu tố ảnh hƣởng đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh

của doanh nghiệp

Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một chỉ tiêu chất lƣợng tổng

hợp, nó liên quan tới tất cả các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó nó

chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau.



16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (102 trang)

×