Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.05 MB, 109 trang )
5
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
1.1. VAI TRÕ CỦA CÔNG NGHIỆP VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG
ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
1.1.1. Khỏi niệm cụng nghiệp
Nhân loại đã trải qua lịch sử phát triển rất lâu dài, từ nền văn minh nông
nghiệp đến nền văn minh công nghiệp và nền kinh tế tri thức. Mỗi nền văn minh
đều dựa trên một cơ sở kinh tế nhất định.
Trong nền văn minh công nghiệp, công nghiệp là ngành kinh tế chủ
yếu. Đây là ngành kinh tế dựa trên việc sử dụng tƣ liệu sản xuất chủ yếu là
máy móc, với phân công, chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất sâu rộng.
Ngành công nghiệp có lịch sử phát triển rất lâu dài, từ trình độ thủ công lên
trình độ cơ khí, tự động; từ chỗ gắn liền với nông nghiệp trong khuôn khổ
của một nền sản xuất nhỏ tự cung tự cấp rồi tách ra khỏi nông nghiệp bởi
một cuộc phân công lao động lớn thứ hai để trở thành một ngành sản xuất
độc lập và phát triển cao hơn qua các giai đoạn hiệp tác giản đơn, công
trƣờng thủ công, công xƣởng...
Trong nền kinh tế quốc dân hiện đại, công nghiệp là một ngành sản
xuất vật chất độc lập, có vai trò chủ đạo trong việc khai thác tài nguyên
thiên nhiên, chế biến tài nguyên thiên nhiên và các sản phẩm của ngành
nông nghiệp thành những tƣ liệu sản xuất và tƣ liệu tiêu dùng.
Từ những điều trình bày trên đây có thể thấy rằng, công nghiệp có
những đặc trƣng chủ yếu sau:
- Về mặt kinh tế - xã hội, công nghiệp là ngành tƣơng đối độc lập
trong khâu khai thác, chế biến, sửa chữa và có mối quan hệ liên ngành với
6
nhiều ngành khác trong nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp tạo lập cơ sở vật
chất, mở đƣờng cho sự tiến bộ trong quan hệ sản xuất, tổ chức phân công lao
động ngày càng chặt chẽ; trình độ khoa học - kỹ thuật và công nghệ, trình độ
tổ chức quản lý ngày càng cao. Sự phát triển công nghiệp làm thay đổi tƣ
duy, thay đổi nếp sống của xã hội.
- Về mặt kinh tế - kỹ thuật, sản xuất công nghiệp khác với sản xuất
nông nghiệp: sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hƣởng trực tiếp của điều kiện tự
nhiên, sản xuất công nghiệp là quá trình tác động cơ - lý - hoá trực tiếp của
con ngƣời vào giới tự nhiên để lấy ra và biến đổi các vật chất tự nhiên thành
sản phẩm theo nhu cầu của con ngƣời.
- Công nghiệp tạo ra năng suất lao động xã hội cao, của cải dồi dào.
Đó là cơ sở, nền tảng vật chất cho việc nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh, phát triển các mặt khác
của đời sống kinh tế-xã hội.
Với những đặc trƣng trên đây, công nghiệp đã trở thành ngành kinh tế
quan trọng nhất, trực tiếp thúc đẩy quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện
các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ việc
sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao
động cùng với khoa học - công nghệ tiên tiến, tạo ra năng suất lao động và
hiệu quả kinh tế - xã hội cao, là nền tảng của nền văn minh công nghiệp.
1.1.2. Đặc điểm của công nghiệp trong giai đoạn hiện nay
Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển của lực lƣợng sản xuất, của
khoa học - công nghệ và quan hệ kinh tế quốc tế đã đem lại thay đổi to lớn
cho nhiều ngành kinh tế, trong đó có ngành công nghiệp.
Khu vực hoá và toàn cầu hoá là xu thế nổi bật trong giai đoạn hiện
nay. Các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội, trong đó có ngành công
nghiệp chịu tác động trực tiếp của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Quá
7
trình này tiếp tục diễn ra với quy mô ngày càng lớn, ở những cấp độ khác
nhau với xu hƣớng toàn cầu hoá đi đôi với xu hƣớng khu vực hoá và tốc độ
ngày càng cao trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Trƣớc
đây, các yếu tố bên ngoài đóng vai trò ít quan trọng đối với sự phát triển của
ngành công nghiệp, nền kinh tế có cơ cấu tƣơng đối hoàn chỉnh và khép kín.
Ngày nay, xu hƣớng quốc tế hoá đời sống kinh tế đã trở nên mạnh mẽ. Các
nƣớc dù muốn hay không cũng bị thu hút vào các quan hệ kinh tế quốc tế.
Các mối quan hệ kinh tế quốc tế này có ảnh hƣởng quan trọng đối với việc
hình thành cơ cấu kinh tế của các quốc gia, chúng làm thay đổi cơ cấu của
các lực lƣợng tham gia vào ngành công nghiệp.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh diễn ra đặc biệt
gay gắt. Đây là thách thức lớn nhất đối với phát triển công nghiệp ở các
nƣớc đang phát triển hiện nay.
Công nghiệp chịu ảnh hƣởng trực tiếp của cuộc cách mạng khoa học
công nghệ. Cuộc cách mạng này đặc trƣng bởi những phát minh khoa học
đều trực tiếp dẫn đến sự hình thành các nguyên lý công nghệ sản xuất mới,
làm thay đổi về chất cách thức sản xuất chứ không chỉ đơn thuần về mặt
công cụ sản xuất. Cuộc cách mạng này có tác dụng làm đảo ngƣợc trình tự
phát triển của một số lĩnh vực và ngành công nghiệp cũng không nằm ngoài
vòng quay đó. Chẳng hạn, trƣớc đây công nghiệp hoá diễn ra ở các quốc gia
có trình độ khoa học và công nghệ phát triển nhất theo trình tự: phát triển
khoa học cơ bản - khoa học ứng dụng - phổ cập công nghệ trên diện rộng.
Ngày nay, các nƣớc đi sau có thể đi theo trình tự ngƣợc lại: ứng dụng công
nghệ tiên tiến nhập khẩu - phát triển khoa học ứng dụng - và chỉ khi trình độ
phát triển kinh tế xã hội cao thì khoa học cơ bản mới có đủ tiền đề phát triển
mạnh. Trình tự phát triển ƣu tiên các lĩnh vực trong tổng thể nền kinh tế
cũng đã có những thay đổi mang tính tất yếu. Trƣớc đây, công nghiệp hoá đi
8
sau cuộc cách mạng nông nghiệp. Khu vực nông nghiệp cung cấp nguồn
nguyên liệu và lao động giải phóng ra từ nông nghiệp và bảo đảm cho công
nghiệp nguồn tích luỹ nguyên thuỷ. Với những đặc điểm khác so với trƣớc
đây của công nghiệp, ví dụ nhƣ phụ thuộc ít hơn vào nguồn nguyên liệu từ
nông nghiệp và yêu cầu đầu tƣ vốn cao thì nông nghiệp ngay cả khi phát
triển ở trình độ khá cũng không thực hiện đƣợc các chức năng trên. Cách
mạng trong nông nghiệp ở một số nƣớc NICs đã từng đƣợc thúc đẩy với
mục tiêu ổn định kinh tế xã hội nông thôn, công nghiệp ngƣợc lại có vai trò
tác động trở lại rất quan trọng cho quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp và
nông thôn. Trƣớc đây, trong mô hình công nghiệp hoá khép kín ở quy mô
quốc gia, ƣu tiên phát triển công nghiệp nặng là cần thiết và hợp lý. Hiện
nay, trên quy mô thế giới, sản phẩm của ngành công nghiệp nặng có vị trí
quan trọng song những sản phẩm đó không thể chỉ do một nƣớc sản xuất,
nhất là những nƣớc chậm phát triển. Đối với một nƣớc, việc lựa chọn ƣu tiên
sản xuất sẽ phải căn cứ vào hiệu quả của việc phát huy lợi thế so sánh.
Phát triển công nghiệp trong điều kiện khoa học - công nghệ phát triển
nhanh có nhiều thuận lợi nhƣng nguy cơ tụt hậu cũng là thách thức to lớn
đối với các nƣớc đang phát triển.
Do những đặc điểm của công nghiệp trong giai đoạn hiện nay, Nhà
nƣớc có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của ngành công nghiệp.
Vai trò của Nhà nƣớc không chỉ với chức năng quy định luật lệ, làm trọng
tài, khuyến khích bằng những công cụ hành chính và kinh tế, bảo hộ sản
xuất và thƣơng mại quốc gia mà Nhà nƣớc còn chức năng định hƣớng phát
triển công nghiệp, đầu tƣ hình thành những cơ sở ban đầu, chia sẻ rủi ro
trong những lĩnh vực công nghiệp mới…
1.1.3. Vị trí của công nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay
9
Ngành công nghiệp khi phát triển bản thân nó đã là một khu vực đóng
góp một phần lớn trong tổng sản phẩm xã hội. Ở hầu hết các quốc gia trên
thế giới ngành công nghiệp đều chiếm tỷ trọng cao và ngày càng có xu
hƣớng phát triển. Ngoại trừ các quốc gia phát triển, ở đó tỷ trọng của khu
vực công nghiệp và dịch vụ rất lớn trong tổng sản phẩm quốc nội.
Theo niên giám thống kê năm 1996, trong số các quốc gia và vùng
lãnh thổ là Trung Quốc, Inđonesia, Hàn Quốc, CHDCND Lào, Mianma,
Nepan, Philippin, Singapo, Đai Loan, Thai lan, Tonga có các số liệu về tỷ
trọng công nghiệp trong GDP thì có tới 10 quốc gia có tỷ trọng công nghiệp
chiếm từ 20% đến 49%. Tỷ trọng này của các quốc gia đang tăng lên đáng
kể so với năm 1975 và 1985.
Ở Việt Nam điều này đƣợc thể hiện rất rõ, tỷ trọng công nghiệp trong
GDP đang ngày càng tăng, từ 19,8% năm 1991 lên 22,8% năm 1995. Bằng
chỉ tiêu giá trị gia tăng công nghiệp và tỷ trọng của nó trong GDP, chúng ta
có thể thấy đƣợc vai trò của công nghiệp trong đóng góp trực tiếp vào tăng
trƣởng kinh tế. Trong những năm gần đây, công nghiệp Việt Nam đã đạt tốc
độ tăng trƣởng tƣơng đối cao ở phần lớn các phân ngành công nghiệp và hầu
nhƣ ở tất cả các vùng lãnh thổ. Tốc độ tăng trƣởng công nghiệp đạt từ trên
10% đến 15% bình quân năm (thậm chí có năm lên tới trên 15%). Sự phát
triển nhanh chóng của công nghiệp góp phần tăng nhanh tích luỹ để đầu tƣ
phát triển đất nƣớc. Theo số liệu có đƣợc từ bảng I/O (Input - Output table)
năm 1995 do Tổng cục thống kê cung cấp, khoảng 9% giá trị đầu ra của
công nghiệp đƣợc dùng cho tích luỹ và đầu tƣ phát triển.
Bên cạnh đó, công nghiệp cũng góp phần quan trọng trong việc tạo
tiền đề cơ sở vật chất kỹ thuật cho các hoạt động kinh tế xã hội. Điều này là
hiển nhiên và phù hợp với những nguyên lý chung về phát triển kinh tế. Các
sản phẩm công nghiệp ngoài việc phục vụ cho những mục tiêu tiêu dùng của
10
cả Chính phủ cũng nhƣ tiêu dùng cá nhân thì một phần lớn các sản phẩm kỹ
thuật cơ bản máy móc thiết bị kỹ thuật đƣợc dùng để trang bị cho các hoạt
động kinh tế xã hội khác.
Cũng theo kết quả điều tra và phân tích cùng với các dữ liệu từ các
bảng I/O do Tổng cục thống kê cung cấp, các ngành công nghiệp cơ bản
cung cấp đầu vào vật tƣ kỹ thuật cho hầu hết các ngành kinh tế kỹ thuật (có
ngành sử dụng tới 40% từ các ngành công nghiệp cơ bản). Xét trên tổng thể,
ngành công nghiệp cung cấp 50,77% giá trị đầu ra cho nhu cầu sử dụng
trong các ngành kinh tế quốc dân. Giá trị đầu ra công nghiệp cung cấp cho
các ngành kinh tế chiếm tới gần 60% tổng nhu cầu đầu tƣ vào các ngành
kinh tế. Điều đó cho thấy rõ ràng công nghiệp có một vị trí cực kỳ quan
trọng trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân. Ngoài những tác động có
tính trực tiếp đến các hoạt động kinh tế nói chung, những tác động gián tiếp
của sự phát triển công nghiệp nhìn chung khó có thể lƣợng hoá đƣợc. Với sự
hỗ trợ của công nghiệp, nhiều ngành kinh tế phát triển đã tạo ra việc làm và
thu nhập cho ngƣời dân, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân trên mọi
miền đất nƣớc.
Ngoài những vai trò to lớn là trực tiếp đóng góp một phần trong tăng
trƣởng kinh tế và tạo tiền đề cơ sở vật chất kỹ thuật cho các hoạt động kinh
tế xã hội, công nghiệp phát triển đã tạo động lực thúc đẩy các ngành kinh tế
xã hội phát triển. Trƣớc hết công nghiệp là nơi tiêu thụ các sản phẩm từ một
số ngành kinh tế kỹ thuật khác. Sau đó, công nghiệp phát triển tạo ra nhiều
cơ hội việc làm cho đông đảo nhân dân. Sự phát triển công nghiệp làm thay
đổi nhanh chóng bộ mặt xã hội của một quốc gia. Với một chiến lƣợc phát
triển công nghiệp hợp lý chú trọng nhiều tới sự phát triển bền vững của một
quốc gia, sự phát triển của công nghiệp làm giảm bớt sự phát triển khác biệt
giữa các khu vực dân cƣ.
11
Theo các số liệu thống kê có đƣợc cho năm 1995, 26,6% giá trị đầu ra
nông nghiệp, 38,75% giá trị ngành lâm sản, 33,77% giá trị ngành thuỷ sản
cung cấp cho các hoạt động công nghiệp trong đó chủ yếu là công nghiệp
chế biến các sản phẩm của các ngành đó. Xét trên khía cạnh tạo việc làm,
chỉ riêng số lao động làm việc trong các hoạt động công nghiệp do Nhà nƣớc
quản lý đã có trên 600.000, còn lực lƣợng lao động công nghiệp trong khu
vực vừa và nhỏ, thủ công nghiệp, công nghiệp ở nông thôn là rất lớn.
Từ năm 1998 đến nay, với sự chuyển hƣớng trong công nghiệp hóa, sự
phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp, số lƣợng mặt hàng công nghiệp
Việt Nam đã tăng lên nhanh chóng, không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
đa dạng trong nƣớc mà còn xuất khẩu. Lúc này khả năng cạnh tranh của
hàng hoá trên thị trƣờng đƣợc quyết định bởi mức độ công nghiệp hóa mà
biểu hiện là trình độ công nghệ. Trình độ công nghệ càng cao, chất lƣợng
hàng càng tốt và giá càng hạ. Chất lƣợng và giá cả là hai yếu tố cơ bản để
thắng trong cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trƣờng. Đối với Việt Nam, nông, lâm,
thuỷ sản là những ngành có thế mạnh, nhƣng những năm trƣớc đây những
sản phẩm này không qua chế biến, xuất khẩu dƣới dạng nguyên liệu thô nên
khó tiêu thụ, giá trị xuất khẩu thấp. Hiện nay nhờ có công nghiệp hóa mà
nông sản phẩm của ta xuất khẩu ngày càng có giá trị hơn. Tuy vậy, nông sản
phẩm của ta xuất khẩu giá vẫn thấp hơn với sản phẩm cùng loại của một số
nƣớc mà chủ yếu họ có công nghệ và trình độ chế biến cao hơn.
1.1.4. Các nhân tố chủ yếu ảnh hƣởng đến sự phát triển công nghiệp
Có rất nhiều nhân tố ảnh hƣởng đến sự phát triển của công nghiệp
nhƣng có thể xét tới các nhân tố chủ yếu là các nguồn lực, cơ chế kinh tế và
chính sách phát triển của mỗi quốc gia.
1.1.4.1. Nguồn lực
12
- Lao động: Một mặt, lao động là một bộ phận của nguồn lực phát
triển, là yếu tố đầu vào không thể thiếu đƣợc của quá trình sản xuất, mặt
khác lao động là một bộ phận của dân số, những ngƣời đƣợc hƣởng lợi ích
của sự phát triển. Nguồn nhân lực chính là một trong số những nhân tố quyết
định việc thực hiện thành công chiến lƣợc phát triển công nghiệp, phát triển
những ngành công nghiệp trọng điểm. Điều đó có nghĩa là sự phát triển của
ngành công nghiệp không chỉ phụ thuộc vào vốn, kỹ thuật, tài nguyên mà
còn phụ thuộc rất lớn vào năng lực của con ngƣời sử dụng những phƣơng tiện
đó.
- Tài nguyên: Đây là yếu tố đầu vào quan trọng của sản xuất công
nghiệp. Hoạt động sản xuất công nghiệp sử dụng rất nhiều tài nguyên thiên
nhiên ở đầu vào. Công nghiệp sản xuất thực phẩm phụ thuộc vào cơ sở tài
nguyên thiên nhiên, hoặc là thu hoạch trực tiếp nhƣ đánh bắt cá, hoặc là
cung cấp những đầu vào thiết yếu để cho thực vật và động vật tăng trƣởng.
Nƣớc là đầu vào thiết yếu của nhiều quy trình sản xuất công nghiệp. Không
khí cũng là đầu vào thiết yếu của hầu hết các quy trình sản xuất. Nguồn tài
nguyên thiên nhiên là cơ sở để phát triển công nghiệp khai thác, công nghiệp
chế biến, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, thuỷ tinh sành sứ...
- Vốn: Vốn đầu tƣ là yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất. Nếu lao
động và tài nguyên chỉ đƣợc coi là yếu tố đầu vào thì vốn sản xuất vừa đƣợc
coi là yếu tố đầu vào vừa đƣợc coi là sản phẩm đầu ra của quá trình sản
xuất. Những thay đổi trong đầu tƣ có thể tác động lớn đến tổng cầu, do đó
tác động lớn đến sản lƣợng. Khi đầu tƣ tăng có nghĩa là nhu cầu về chi tiêu
để mua sắm máy móc thiết bị, phƣơng tiện vận tải, vật liệu xây dựng... tăng
lên. Đầu tƣ sẽ dẫn đến tăng vốn sản xuất, nghĩa là có thêm các nhà máy,
thiết bị, phƣơng tiện vận tải... mới đƣợc đƣa vào sản xuất, làm tăng khả năng
sản xuất của nền kinh tế. Việc tăng vốn đầu tƣ cũng góp phần vào việc giải
13
quyết công ăn việc làm cho ngƣời lao động khi mở ra các công trình, các
nhà máy...và mở rộng quy mô sản xuất.
- Khoa học - công nghệ: Khoa học công nghệ là một trong các yếu tố
quan trọng nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lƣợng sản phẩm và tăng
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và của ngành công nghiệp. Đối với
các ngành công nghiệp trọng điểm, yếu tố công nghệ lại càng trở nên quan
trọng hơn, giữ vai trò quyết định đối với sự tăng trƣởng, phát triển của
ngành. Có thể nói cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã làm thay đổi sâu
sắc phƣơng thức lao động của con ngƣời, nó có vai trò quyết định lợi thế
cạnh tranh và tốc độ phát triển của các quốc gia. Đặc biệt với sự tham gia
của vốn và công nghệ của nƣớc ngoài, một số ngành kinh tế quan trọng nhƣ
thăm dò, khai thác dầu khí, công nghiệp xi măng, sắt thép, lắp ráp ôtô xe
máy đã có bƣớc phát triển đáng kể.
1.1.4.2. Cơ chế kinh tế
Trong cơ chế thị trƣờng, các hoạt động kinh tế đều chịu sự chi phối
của các quy luật thị trƣờng. Các quy luật này đều đòi hỏi các hoạt động kinh
tế phải có hiệu quả. Do đó, trong nền kinh tế thị trƣờng việc phân bổ nguồn
lực đƣợc thực hiện một cách có hiệu quả. Bởi vậy, cơ chế thị trƣờng đƣợc
coi là điều kiện cần thiết cho cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung,
cho sự phát triển công nghiệp nói riêng. Tuy nhiên, bên cạnh những ƣu
điểm, cơ chế thị trƣờng còn tồn tại những khuyết tật ngăn cản sự phân bổ
nguồn lực một cách hiệu quả. Đó là hiện tƣợng ngoại ứng, sự không đối
xứng về thông tin và cạnh tranh không hoàn hảo...
Khi các công ty của một ngành công nghiệp tạo ra đƣợc tri thức nhƣ bí
quyết, công nghệ mới thông qua dự án nghiên cứu và triển khai thì các công
ty này không thể chiếm đƣợc toàn bộ lợi ích từ dự án nghiên cứu và triển
khai vì một phần lợi ích sẽ do các công ty khác hƣởng do việc sao chép ý
14
tƣởng và kỹ thuật. Điều này dẫn tới việc các công ty thƣờng ít có động cơ để
thực hiện dự án nghiên cứu và triển khai và mức đầu tƣ vào dự án này sẽ
thấp hơn mức hiệu quả, đó là ngoại ứng tích cực. Trên thực tế, ngành công
nghiệp đó đã tạo ra một khối lƣợng đầu ra bổ sung nào đó, làm tăng lợi ích
xã hội.
Việc thông tin không đối xứng là một thất bại của thị trƣờng khi các
bên tham gia thị trƣờng luôn không có đủ thông tin hoặc có một bên có
nhiều thông tin hơn bên kia làm các doanh nghiệp có thể có những quyết
định sai. Điều này xảy ra do việc thu thập các thông tin không chính xác
hoặc việc xác định giá cả cho thông tin thƣờng rất khó khăn. Khó khăn trong
việc thu thập thông tin môi trƣờng và thông tin thị trƣờng sẽ khiến cho các
doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp công nghiệp nói riêng bị hạn chế
trong việc thâm nhập và tiếp cận thị trƣờng.
Ở hầu hết các quốc gia, một ngành công nghiệp thƣờng có tính chất
độc quyền đa phƣơng, thể hiện ở phƣơng diện là khi các công ty muốn gia
nhập ngành đều phải đầu tƣ một lƣợng vốn lớn và các thiết bị phụ trợ mà sau
đó không thể chuyển sang dùng vào việc khác đƣợc. Điều này đã làm hạn
chế sự gia nhập ngành của các công ty trong nƣớc và khi đó tại một số
ngành công nghiệp chỉ có một số công ty cạnh tranh có hiệu quả. Do đó, thị
trƣờng là cạnh tranh không hoàn hảo và xuất hiện lợi nhuận siêu ngạch. Các
công ty có thể kiếm đƣợc những khoản lợi nhuận cao hơn so với những
khoản lợi nhuận có đƣợc từ việc đầu tƣ vào những lĩnh vực kinh tế khác có
mức độ rủi ro tƣơng đƣơng. Lúc này sẽ xuất hiện sự cạnh tranh quốc tế để
giành những khoản lợi nhuận này thông qua các công ty xuyên quốc gia, đa
quốc gia. Những công ty này có tiềm lực vốn lớn để đầu tƣ vào các ngành
này và do đó, việc xâm nhập vào ngành và chiếm lĩnh thị trƣờng khá dễ
dàng.
15
1.1.4.3. Vai trò của Nhà nƣớc
Những thất bại thị trƣờng nhƣ ngoại ứng, sự không đối xứng về thông
tin của thị trƣờng... có thể khắc phục và hạn chế đƣợc nhờ sự can thiệp của
Nhà nƣớc thông qua các chính sách kinh tế. Những thất bại của thị trƣờng
chính là căn cứ để Nhà nƣớc đƣa ra các chính sách kinh tế nói chung, chính
sách công nghiệp nói riêng. Chẳng hạn nhƣ:
- Khi xuất hiện ngoại ứng tích cực nhƣ trên, Nhà nƣớc sẽ can thiệp
bằng cách trợ cấp cho các công ty hoặc trực tiếp tiến hành nghiên cứu và
triển khai nhằm tạo ra hiệu ứng lan toả về công nghệ, giúp nền kinh tế nói
chung và ngành công nghiệp nói riêng tăng trƣởng nhanh. Đối với việc một
ngành công nghiệp gây ô nhiễm cao nhƣng cũng mang lại lợi nhuận cao thì
Nhà nƣớc sẽ so sánh giữa lợi ích và chi phí của xã hội để xem xét có nên
cho phép ngành đó phát triển sau khi đã tiến hành những biện pháp nhằm
hạn chế việc gây ô nhiễm môi trƣờng hay thực hiện việc hạn chế phát triển
ngành.
- Khi thị trƣờng xuất hiện tình trạng thông tin không đối xứng, thông
qua chính sách công nghiệp, Nhà nƣớc có thể tiến hành thu thập, xử lý thông
tin để cung cấp cho các doanh nghiệp công nghiệp có những thông tin đầy
đủ về thị trƣờng, sản phẩm, sự phát triển của các ngành công nghiệp hiện
nay và khả năng phát triển trong tƣơng lai... Điều này giúp các ngành công
nghiệp phát triển theo đúng định hƣớng mà Nhà nƣớc đã vạch ra.
- Khi xuất hiện thị trƣờng cạnh tranh không hoàn hảo và lợi nhuận
siêu ngạch, với khả năng của mình, Nhà nƣớc sử dụng các chính sách kinh
tế để thay đổi “luật chơi”, để chuyển các khoản lợi nhuận siêu ngạch từ các
công ty nƣớc ngoài sang các công ty trong nƣớc nhƣ cung cấp một khoản trợ
cấp hoặc thực hiện việc bảo hộ cho các công ty nội địa và kìm giữ, hạn chế
đầu tƣ sản xuất của các công ty nƣớc ngoài.