1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Kinh tế >

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY NHANH SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHIỆP HẢI PHÒNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.05 MB, 109 trang )


70



vốn hỗ trợ chính thức với các điều kiện ƣu đãi (ODA) đến các nƣớc đang

phát triển có xu thế giảm dần.

Qúa trình tự do hoá thƣơng mại đặt ra cho các quốc gia vấn đề về cắt

giảm thuế và loại bỏ hàng rào phi thuế quan. Điều này có nghĩa các doanh

nghiệp trong nƣớc sẽ không còn đƣợc nhận sự trợ giúp của Chính phủ thông

qua các chính sách bảo hộ và nếu doanh nghiệp không có sức cạnh tranh thì

sẽ không tồn tại đƣợc.

Xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá còn dẫn đến sự phân công lại lao

động trên toàn thế giới, theo chiều hƣớng là các nƣớc công nghiệp phát triển

sẽ chiếm giữ quyền độc tôn sản xuất và làm chủ các sản phẩm công nghệ kỹ

thuật cao, các nƣớc đang phát triển sẽ sản xuất các mặt hàng sử dụng nhiều

lao động, giá trị thấp, tốn nguyên liệu. Tuy nhiên, xu hƣớng này cũng đem

lại lợi thế cho những nƣớc biết tận dụng cơ hội này thực hiện phân công lao

động theo hƣớng chuyên môn hoá cao, nhất là đối với các nƣớc đang phát

triển. Nếu một nƣớc đang phát triển biết “đi tắt đón đầu”, tận dụng đƣợc

khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất thì có thể nƣớc đó sẽ sản xuất

đƣợc những mặt hàng có hàm lƣợng khoa học cao, chiếm đƣợc vị trí trên thị

trƣờng thế giới.

- Cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên thế giới tiếp tục diễn ra sôi

động. Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, cách mạng khoa học công nghệ có

bƣớc phát triển nhảy vọt. Trong điều kiện đó, việc phát triển kinh tế - xã hội

nói chung và ngành công nghiệp của Hải Phòng nói riêng cần phải đƣợc

triển khai theo tƣ duy mới, phù hợp với giai đoạn mới. Hải Phòng có những

lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên và dồi dào về nhân lực, kể cả tiềm

năng về trí tuệ. Vì vậy, nếu công nghiệp Hải Phòng phát huy đƣợc những lợi

thế này, tiếp nhận đƣợc những thành tựu khoa học, công nghệ của thế giới

thì có thể nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, chủ động tạo ra những lợi thế



71



mới trong quá trình hội nhập quốc tế để vƣơn lên đạt trình độ phát triển cao

hơn.

3.1.2. Bối cảnh trong nƣớc

Hiện nay, quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam vẫn thể hiện hai

đặc trƣng cơ bản là “chuyển đổi” và “đang phát triển”. Tuy nhiên, quá trình

này đã có những sự thay đổi mạnh mẽ, tạo ra bối cảnh mới cho sự phát triển.

Sau nhiều năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có sự biến đổi đáng

kế về lƣợng và chất. Sự biến đổi về lƣợng có thể thấy rõ qua các chỉ tiêu

kinh tế đạt đƣợc trong thời gian qua nhƣ tốc độ tăng trƣởng GDP bình quân

hàng năm trên 7%, tỷ lệ lạm phát thấp ở mức một con số, mức thâm hụt

ngân sách thấp và tỷ lệ tích luỹ, đầu tƣ tăng hai lần, kim ngạch xuất nhập

khẩu tăng trung bình 20%/năm... Bên cạnh những sự thay đổi về lƣợng, nền

kinh tế cũng có những biến đổi về chất: thể chế kinh tế kế hoạch hoá tập

trung quan liêu bao cấp đang đƣợc thay bằng thể chế của nền kinh tế thị

trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa; tính chất tự cấp tự túc và khép kín

trong nền kinh tế và trong đời sống xã hội đã đƣợc thay thế bằng xu hƣớng

mở cửa và chủ động hội nhập quốc tế, kết hợp nội lực và ngoại lực thành

sức mạnh tổng hợp; cơ cấu kinh tế thay đổi theo hƣớng chú trọng các ngành

công nghiệp và dịch vụ...

Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn chƣa thoát khỏi tình trạng kém

phát triển. Nền kinh tế vẫn đang nằm ở giữa giai đoạn chuyển đổi sang nền

kinh tế thị trƣờng. Việt Nam vẫn là một trong những nƣớc có thu nhập bình

quân đầu ngƣời thấp trên thế giới, hiệu quả của nền kinh tế còn thấp. Các thể

chế quan trọng nhƣ hệ thống pháp lý, ngân hàng, các thị trƣờng vốn, lao

động... còn phát triển chƣa đầy đủ; môi trƣờng kinh doanh và cạnh tranh

kém hấp dẫn; không đủ năng lực cạnh tranh quốc tế, chất lƣợng đầu tƣ

thấp…



72



3.1.3. Bối cảnh của Hải Phòng

Sự phát triển trong những năm qua đã tạo ra vị thế mới và cũng đặt ra

những yêu cầu mới cho thành phố Hải Phòng trong chiến lƣợc phát triển

VỰNG Kinh tế đồng bằng BẮC BỘ và của cả nƣớc. Trong bối cảnh phát

triển mạnh mẽ của cả nƣớc và sự cạnh tranh gay gắt trong xu thế toàn cầu

hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, định hƣớng phát triển thành phố đến năm

2010 đƣợc Đại hội lần thứ XII Đảng bộ thành phố xác định: tiếp tục đẩy

nhanh quá trỠNH XÕY DỰNG HẢI PHŨNG THàNH THàNH PHỐ CẢNG

Văn minh, hiện đại, cửa chính ra biển, trung tâm công nghiệp, dịch vụ, thủy

sản ở miền Bắc, có kinh tế, văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học - công

nghệ, cơ sở hạ tầng phát triển đồng bộ, quốc phŨNG - AN NINH VỮNG

CHẮC, KHỤNG NGỪNG NÕNG CAO đời sống nhân dân.

Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng đÓ XỎC định : Đến năm

2020 nƣớc ta cơ bản trở thành một nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện đại.

Với tiềm năng, thế mạnh là một thành phố cảng, đầu mối giao thông quan

trọng, trung tâm công nghiệp có truyền thống lâu đời, cơ cấu ngành công

nghiệp phát triển có nhiều sản phẩm mũi nhọn, nằm trong vùng kinh tế trọng

điểm phía Bắc, Hải Phòng xác định phải cơ bản trở thành một thành phố

công nghiệp hiện đại trƣớc năm 2020, một trong những trung tâm công

nghiệp, thƣơng mại lớn của cả nƣớc, xứng đáng với vai trò là cực tăng

trƣởng mạnh của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, góp phần cùng với Thủ

đô Hà Nội thúc đẩy sự phát triển chung của cả vùng. Hải Phòng quyết tâm

thực hiện đúng mục tiêu nhƣ Chính phủ đã xác định : “Hải Phòng là đô thị

trung tâm cấp quốc gia, là một trong những trung tâm công nghiệp, thƣơng

mại, dịch vụ, du lịch của cả nƣớc và vùng duyên hải Bắc Bộ; là thành phố

cảng, cửa ngõ chính ra biển của các tỉnh phía Bắc; là đầu mối giao thông



73



quan trọng của miền Bắc và cả nƣớc; Hải Phòng là thành phố trực thuộc

Trung ƣơng, có vị trí quan trọng về mặt an ninh và quốc phòng”.

Bối cảnh mới của đất nƣớc đặt ra cho Hải Phòng những nhiệm vụ mới.

THỨ NHẤT, tiếp tục phát triển công nghiệp với tốc độ cao.

Hải Phòng đã đƣợc Nhà nƣớc xác định là một trong những trung tâm

phát triển, có vai trò quan trọng trong việc tạo động lực lôi kéo sự phát triển

chung của cả vùng và cả nƣớc. Công nghiệp Hải Phòng là ngành kinh tế chủ

yếu của thành phố, đƣơng nhiên phải phát triển với tốc độ cao hơn tốc độ

phát triển chung của thành phố. Trên tinh thần đó, ngành công nghiệp Hải

Phòng xây dựng tốc độ phát triển bình quân của ngành đến 2010 theo

phƣơng án đã đƣợc lựa chọn của thành phố nhƣ sau:

Về tổng sản phẩm nội địa GDP

- Nền kinh tế thành phố



:



BỠNH QUÕN 10



- Ngành công nghiệp-xây dựng



:



BỠNH QUÕN 13,6%-năm.



- Riêng ngành công nghiệp



:



BỠNH QUÕN 14,6%-năm.



Về giá trị sản xuất công nghiệp:



11%-năm.



BỠNH QUÕN 16%-năm.



THỨ HAI, tiếp tục chuyển đổi cơ cấu công nghiệp, đƣa tỷ trọng GDP

33,6% năm 2000 lên 39



40% năm 2010.



Thứ ba, phấn đấu đạt tốc độ tăng trƣởng kim ngạch hàng công nghiệp

xuất khẩu thời kỳ 2005-2010 là 18-20%. Đƣa kim ngạch ƣớc tính 550 triệu

USD năm 2005 lên 1.200-1300 triệu USD năm 2010.

3.2. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP

Thứ nhất: Khai thác triệt để lợi thế các cảng, truyền thống công

nghiệp, vùng tài nguyên khoáng sản, nguồn lực của thành phố và nguồn lực

bên ngoài trên cả hai phƣơng diện vốn và kỹ thuật công nghệ. Bên cạnh đó,



74



tiếp tục thực hiện chiến lƣợc hƣớng mạnh về xuất khẩu, phát triển các ngành

công nghiệp chủ đạo và một số sản phẩm mũi nhọn tạo ra giá trị gia tăng

lớn, hiệu quả cao. Trong đó ƣu tiên phát triển các ngành công nghiệp sử

dụng nhiều lao động, tạo ra nhiều việc làm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao

động xã hội của Hải Phòng theo hƣớng công nghiệp hoá - hiện đại hoá để

góp phần tự trang bị và xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo tích lũy lớn, từng bƣớc

nâng cao năng lực tự chủ cho bản thân ngành công nghiệp và cho các ngành

kinh tế của Hải Phòng.

Quan điểm này đƣợc xây dựng trên cơ sở thực tế: Hải Phũng là thành

phố cảng, nằm ở vị trớ trung tõm của vựng duyờn hải Bắc Bộ, là đầu mối

giao thông quan trọng và cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc, giao lƣu

thuận lợi với các địa phƣơng trong nƣớc và quốc tế. Về cơ sở hạ tầng, Hải

Phũng đó đƣợc đầu tƣ đồng bộ khá cơ bản và hiện đại về giao thông, điện,

cấp thoát nƣớc, hệ thống thông tin liên lạc. Về nguồn nguyên liệu, Hải

Phũng cú nhiều thuận lợi cho phỏt triển ngành sản xuất xi măng, bột nặng,

bột nhẹ, đất đèn, gạch ngói … do có nguồn mỏ đá vôi, đất phụ gia, sột…Vị

trớ ven biển và nhiều sông ngũi đó đem lại cho ngành công nghiệp Hải

Phũng nhiều ƣu thế trong ngành đóng, sửa chữa tàu và nuôi trồng, chế biến

thủy, hải sản.

Thứ hai: Công nghiệp Hải Phòng phải đƣợc phát triển trên cơ sở phát

huy sức mạnh của các thành phần kinh tế. Song song với việc đẩy nhanh quá

trình đa dạng hoá sở hữu, phải tiếp tục củng cố nâng cao năng lực, vị trí, vai

trò chủ đạo của kinh tế nhà nƣớc.

Các thành phần kinh tế - trong đó kinh tế nhà nƣớc giữ vai trò chủ đạo

- tồn tại một cách khách quan và là những bộ phận cần thiết của nền kinh tế

trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Phát triển kinh tế đa thành phần



75



trong ngành công nghiệp là một tất yếu. Chỉ có nhƣ vậy chúng ta mới có thể

khai thác đƣợc mọi nguồn lực kinh tế, nâng cao đƣợc hiệu quả kinh tế, phát

huy đƣợc tiềm năng của các thành phần kinh tế vào phát triển chung của nền

kinh tế của thành phố và thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân.

Không chỉ có củng cố và phát triển các thành phần kinh tế dựa trên chế độ

công hữu là thành phần kinh tế nhà nƣớc và kinh tế tập thể mà còn phải

khuyến khích các thành phần kinh tế dựa trên tƣ hữu phát triển để hình

thành nền kinh tế thị trƣờng rộng lớn bao gồm các đơn vị kinh tế thuộc chế

độ tƣ hữu, các đơn vị kinh tế thuộc chế độ công hữu. Trong phát triển công

nghiệp Hải Phòng phải đặc biệt chú ý hình thức kinh tế tƣ bản nhà nƣớc

(liên doanh) và kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài... Các đơn vị kinh tế thuộc

mọi thành phần đều bình đẳng với nhau trƣớc pháp luật, vừa hợp tác vừa

cạnh tranh với nhau để phát triển. Trong nền kinh tế thị trƣờng nhiều thành

phần phát triển theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nƣớc phải giữ

vai trò chủ đạo.

Thứ ba: phát triển công nghiệp Hải Phòng phải đặt trong bối cảnh hội

nhập và cạnh tranh quốc tế, trong sự hợp tác chặt chẽ với các tỉnh trong

nƣớc; gắn sự phát triển với vùng Bắc Bộ đặc biệt là địa bàn trọng điểm; giữ

vai trò động lực và nòng cốt trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá

nền kinh tế Hải Phòng.

Hải Phòng với tiềm năng, thế mạnh là một thành phố cảng, đầu mối

giao thông quan trọng, trung tâm công nghiệp có truyền thống lâu đời, cơ

cấu ngành công nghiệp phát triển có nhiều sản phẩm mũi nhọn, nằm trong

vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, hợp tác chặt chẽ với các tỉnh trong cả

nƣớc, gắn sự phát triển với vùng Bắc Bộ đặc biệt là tam giác kinh tế Hà Nội

- Hải Phòng - Quảng Ninh, công nghiệp Hải Phòng cần phải phát huy vai trò

quan trọng của mình trong sự phát triển chung của đất nƣớc và giữ vai trò là



76



động lực trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế thành phố

Hải Phòng

Thứ tư: Quá trình phát triển công nghiệp phải kết hợp chặt chẽ với bảo

vệ môi trƣờng, môi sinh, bảo đảm sự phát triển bền vững, gắn với củng cố

quốc phòng - an ninh.

Do điều kiện lịch sử, từ lâu các cơ sở công nghiệp ở Hải Phòng đƣợc

bố trí khá lộn xộn, thƣờng là xen kẽ trong các khu dân cƣ. Sau năm 1975,

tốc độ đô thị hoá ở Hải Phòng tăng nhanh. Mặt khác, trong nhiều năm thành

phố đã không quan tâm đầy đủ tới công tác quy hoạch không gian cho khu

vực sản xuất nên đã xuất hiện tình trạng những cơ sở trƣớc đây ở ven đô,

ngoại thành đã dần lọt vào nội thành, cộng với những cơ sở mới xây dựng

không quy hoạch,... đã gây ô nhiễm đô thị. Nhiều nơi bị ô nhiễm nặng nề và

dƣới sức ép của dƣ luận xã hội, nhiều cơ sở phải đình chỉ sản xuất, gây thiệt

hại đáng kể về kinh tế. Quá trình phát triển nhanh vào những thập kỷ tới,

phát triển công nghiệp Hải Phòng phải đặt vấn đề bảo vệ môi trƣờng và thực

hiện nghiêm ngặt các chính sách bảo vệ môi trƣờng, môi sinh để góp phần

phát triển bền vững.



3.3. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN

CÔNG NGHIỆP HẢI PHÕNG TRONG THỜI GIAN TỚI

3.3.1. Xây dựng chiến lƣợc phát triển công nghiệp

3.3.1.1. Xác định cơ cấu công nghiệp

- Xác định các ngành công nghiệp mũi nhọn: Đó là những ngành sản

xuất ra những sản phẩm cơ bản của kinh tế đất nƣớc, tạo ra sản lƣợng, giá trị

lớn, chiếm vị trí cao trong ngành công nghiệp của thành phố cũng nhƣ của

đất nƣớc; có tác động thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển; có

điều kiện sử dụng một cách tốt nhất lợi thế về tài nguyên, lao động, truyền



77



thống của địa phƣơng; có hiệu quả kinh tế - xã hội cao, hƣớng về xuất khẩu,

tạo ra nhiều việc làm; có nhu cầu thị trƣờng rộng lớn trong và ngoài nƣớc.

Từ tiêu chuẩn và từ thực tiễn phát triển trong thời gian qua, công

nghiệp Hải Phòng cần lựa chọn các ngành công nghiệp mũi nhọn đến năm

2010 là: ngành sản xuất kim loại, ngành đóng mới và sửa chữa tàu biển. Đây

là những ngành có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự phát triển công nghiệp

Hải Phòng. Những công nghiệp khác nhƣ: ngành vật liệu xây dựng, ngành

sản xuất giày dép, ngành chế biến nông thuỷ sản, ngành hoá chất và sản

phẩm từ hoá chất, ngành dệt- may… chỉ nên coi là những ngành phụ trợ.

Những ngành phụ trợ này là những ngành công nghiệp khai thác đƣợc tiềm

năng lợi thế của thành phố Hải Phòng và góp phần đáp ứng nhu cầu lớn của

Thành phố về việc làm, tăng trƣởng kinh tế… hỗ trợ cho sự phát triển của

các ngành mũi nhọn.

- Cơ cấu thành phần: Cơ cấu thành phần kinh tế trong công nghiệp

Hải Phòng tính từ giá trị sản xuất công nghiệp đạt đƣợc từng năm của các

thành phần kinh tế trong thời gian qua đã có bƣớc thay đổi lớn. Điều này

đƣợc thể hiện rõ trong bảng số 17:

BẢNG SỐ 17: TỶ TRỌNG ĐÓNG GÓP CỦA CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ

Tính theo giá trị sản xuất (GO)

1996



1998



2000



2002



Công nghiệp Hải Phòng



100%



100%



100%



100%



- Kinh tế trong nƣớc



74,14



53,85



50,90



55,4



+Thành phần kinh tế Nhà nước



58,54



38,48



30,50



32,6



+Thành phần kinh tế ngoài NN



15,60



15,37



20,40



22,8



- Kinh tế có vốn ĐTNN



25,86



46,15



49,10



44,6



( Nguồn : Sở Công nghiệp Hải Phòng )



78



Thành phần kinh tế trong nƣớc trong ngành công nghiệp Hải Phòng

(quốc doanh và ngoài quốc doanh) chiếm tỷ trọng 55,4% năm 2002, 56,4%

năm 2003. Khu vực có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài chiếm tỷ trọng 44,6% năm

2002 và 43,6% năm 2003. Điều này thể hiện sự độc lập, huy động nội lực

trong phát triển.

Có thể dự báo tới năm 2010 cơ cấu thành phần sẽ thay đổi nhƣ sau:

BẢNG SỐ 18 : DỰ BÁO CƠ CẤU THÀNH PHẦN KINH TẾ

TRONG CÔNG NGHIỆP HẢI PHÕNG

2000

Công nghiệp Hải phòng



2005



2010



100%



100%



100%



50,9



55,0



60-65



- Quốc doanh



30,5



32,5



35-40



- Ngoài quốc doanh



20,4



22,5



25



2. CN có vốn ĐTNN



49,1



45,0



35-45



1. Công nghiệp trong nƣớc



( Nguồn : Sở Công nghiệp Hải Phòng )

Trong những năm 1999-2000 khu vực có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đã

đầu tƣ chậm hẳn lại, song tài sản đầu tƣ vẫn gấp 3- 4 lần tài sản cố định các

doanh nghiệp trong nƣớc. Tuy nhiên, với chính sách mở cửa, đa dạng và đa

phƣơng hoá nền kinh tế, khu vực có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài sẽ tăng trong

thời gian tới. Do đó, có thể dự báo rằng tới năm 2010 cơ cấu thành phần sẽ

còn thay đổi theo hƣớng khu vực có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài có khả năng

chiếm từ 35-45%.

- Cơ cấu sản xuất xuất khẩu và nội địa: Công nghiệp Hải Phòng đang



đứng trƣớc thách thức và là một áp lực lớn là phải phát triển với tốc độ

nhanh, trình độ cao để từng bƣớc hội nhập với kinh tế các nƣớc trong khu



79



vực. Vì vậy, đòi hỏi cấp bách đối với công nghiệp Hải Phòng là phải nhanh

chóng và đi đầu các ngành sản xuất vật chất trong quá trình công nghiệp

hoá, hiện đại hoá, để tiến tới mục tiêu đủ sức cạnh tranh sản phẩm công

nghiệp, hƣớng ra xuất khẩu các sản phẩm có đủ sức cạnh tranh, khai thác thị

trƣờng khu vực và thế giới để từ đó xác định tăng thêm các sản phẩm mới

xuất khẩu. Năm 2000, giá trị sản xuất công nghiệp xuất khẩu của Hải Phòng

chiếm tỷ trọng 25,5%. Công nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài mới tham gia

xuất khẩu với một tỷ lệ nhỏ mặc dù giá trị sản xuất chiếm tới 49% vì nhiều

loại sản phẩm chủ yếu của khu vực này nhƣ xi măng, thép xây dựng, hàng

cơ khí, hoá chất thị trƣờng trong nƣớc có nhu cầu lớn.

Đối với kinh tế trong nƣớc, đến năm 2010 giá trị sản xuất các sản

phẩm xuất khẩu chủ lực vẫn là giầy dép, thủy sản, dệt may (chiếm khoảng

40-45% giá trị sản xuất), dự kiến tỷ trọng hàng xuất khẩu của khu vực kinh

tế trong nƣớc khoảng 50%. Cụ thể là:



BẢNG SỐ 19 : DỰ KIẾN TỶ TRỌNG HÀNG XUẤT KHẨU

Đơn vị tính: tỷ đồng

* Giá trị sản xuất CNHP

1.Công nghiệp trong nƣớc

2.Công nghiệp có vốn ĐTNN

* Giá trị sản xuất hàng XK

1. Công nghiệp trong nƣớc

2. CN có vốn ĐTNN

* Tỷ trọng hàng xuất khẩu



2000

2005

2010

BQđến 2010

8.709 18.500 38.075

16%

21.000

17.045

2.170 5.550 19.000

24,2%



25,5%



30%



50%



80



( Nguồn : Sở Công nghiệp Hải Phòng )

Dự kiến các thành phần kinh tế tham gia sản xuất xuất khẩu nhƣ sau:

BẢNG SỐ 20 : DỰ KIẾN CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ

THAM GIA SẢN XUẤT HÀNG XUẤT KHẨU

Năm 2000

Năm 2010

QD



NQD



ĐTNN



QD



NQD



ĐTNN



Ngành giày dép



+



+



+



+



+



+



Ngành dệt-may



+



+



+



+



+



+



Ngành chế biến thủy sản



+



0



+



+



+



+



Ngành chế biến nông sản



+



0



0



+



+



+



Ngành thủ công mỹ nghệ



+



+



0



0



+



0



Ngành giấy



+



+



0



0



+



0



Sản phẩm tẩy rửa



0



0



0



0



+



+



Xi măng



0



0



0



+



0



+



Thép xây dựng



0



0



0



+



0



+



Đóng sửa tàu biển



0



0



0



+



0



+



Thủy tinh



0



0



+



0



0



+



Thép kết cấu



0



0



+



+



0



+



6



4



5



8



7



10



Tổng cộng



( Nguồn : Sở Công nghiệp Hải Phòng )



Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tham gia xuất khẩu chủ yếu các

sản phẩm thuộc ngành công nghiệp nhẹ. Khuyến khích tập trung vào

ngành chế biến nông hải sản xuất khẩu.

Thành phần kinh tế Nhà nƣớc có thể chuyển rút một số sản phẩm phổ

biến là thủ công, tập trung vào các ngành đòi hỏi đầu tƣ lớn, trình độ công

nghệ cao nhƣ sản xuất thép, xi măng, đóng sửa tàu biển, hoá chất...

Thành phần kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài hoàn toàn có đủ khả

năng cạnh tranh sản phẩm, nên việc hƣớng sản phẩm của các doanh nghiệp

này ra xuất khẩu chủ yếu là dựa vào việc đôn đốc các doanh nghiệp thực



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (109 trang)

×