Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (964.38 KB, 87 trang )
20
- Đối tượng chịu sự quản lý là các doanh gnhiệp có các hoạt động kinh tế thuộc
diện điều chỉnh của Luật Quản lý thuế và các luật thuế. Quá trình tổ chức và thực thi
các giải pháp thu thuế là rất phức tạp, đa dạng và phong phú. Các giải pháp đó không
đơn thuần là các giải pháp mệnh lệnh hành chính, cưỡng chế mà các giải pháp đó phải
kết hợp giữa mệnh lệnh hành chính, tuyên truyền giải thích, khuyến khích lợi ích vật
chất và tinh thần.
- Quản lý thuế TNDN được quy định bằng pháp luật nên các cơ quan thuế
không thể tuỳ tiện đề ra các biện pháp quản lý thu thuế trái ngược với quy định của
pháp luật. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là thủ tiêu tính sáng tạo của từng cơ
quan thuế trong việc tìm tòi các giải pháp cụ thế, miễn là các giải pháp đó không trái
với những quy định chung toàn ngành và phù hợp với đặc thù sản xuất kinh doanh ở
địa phương.
1.2.3.2. Mục tiêu quản lý thuế TNDN NDQ
Thuế TNDN NQD là một sắc thuế cơ bản trong hệ thống các sắc thuế ở Việt
Nam. Bởi vậy, mục tiêu quản lý thuế cũng là mục tiêu của thuế Thu nhập doanh
nghiệp.
Công tác quản lý thuế TNDN NQD trong nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được
những mục tiêu cơ bản sau đây:
Một là, tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho Ngân sách nhà nước từ
các nguồn, các đối tượng trên địa bàn được giao quản lý, trên cơ sở không ngừng nuôi
dưỡng và phát triển nguồn thu.
Hàng năm, thuế TNDN NQD có số thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thuế
TNDN nộp vào NSNN. Vì vậy, làm tốt công tác quản lý thuế TNDN NQD sẽ có tác
dụng lớn trong việc tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho NSNN.
Mặt khác, chính sách thuế TNDN NQD tác động trực tiếp đến thu nhập của các
tổ chức kinh tế, qua đó tác động trực tiếp đến quá trình phát triển kinh tế- cơ sở tạo ra
nguồn thu thuế trong tương lai. Để tăng cường và ổn định số thu của NSNN trong
tương lai, công tác quản lý thuế cần chú ý và duy trì phát triển các cơ sở tạo ra nguồn
thu thuế.
Hai là, Phát huy tốt nhất vai trò của thuế trong nền kinh tế.
Vai trò của thuế mang tính toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Song, những vai trò
đó không mang tính khách quan, mà nó là kết quả của những tác động từ phía con
21
người. Những tác động này được thực hiện thông qua những nội dung, những công
việc cụ thể của công tác quản lý thuế.
Ba là, tăng cường ý thức chấp hành phát luật cho người nộp thuế.
Trong cơ chế thị trường, Nhà nước thông qua công cụ luật pháp để thực hiện sự
tác động vào nền kinh tế ở tầm vĩ mô. Ý thức chấp hành luật pháp của người nộp thuế
sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến việc tác động của Nhà nước đến nền kinh tế. Qua công
tác tổ chức thực hiện kiểm tra việc chấp hành luật thuế cùng với việc tăng cường tính
pháp chế của luật thuế được nâng cao, từ đó tạo thói quen “Sống và làm việc theo pháp
luật” trong mọi tầng lớp nhân dân.
1.2.3.3. Nguyên tắc quản lý thuế
Trong hoạt động thực tiễn quản lý, người ta đã đưa ra nhiều nguyên tắc và mỗi
lĩnh vực hoạt động có những nguyên tắc quản lý đặc thù. Các nguyên tắc vừa phản ánh
các quy luật khách quan, nhưng cũng mang dấu ấn chủ quan của con người. Các
nguyên tắc quản lý thuế hình thành trên cơ sở các ràng buộc bởi: Mục tiêu của quản lý
thuế, tính chất của sắc thuế được giao quản lý thu; đòi hỏi của các quy luật khách quan
liên quan đến sự tồn tại, phát triển của cơ quan thuế và các ràng buộc của môi trường;
thực trạng và xu thế phát triển của cơ quan thuế.
Quản lý thuế phải tuân thủ các nguyên tắc của quản lý nhà nước về kinh tế,
nguyên tắc quản trị tổ chức và nguyên tắc hành chính nhà nước.
Quản lý thuế tại cơ quan thuế cấp tỉnh là một khâu của công tác quản lý nhà
nước về thuế nên trước hết phải tuân thủ các nguyên tắc của quản lý nhà nước về kinh
tế nói chung, quản lý nhà nước về tài chính - thuế nói riêng. Các nguyên tắc quản lý
kinh tế của nhà nước là các quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn thực hành mà các cơ
quan quản lý nhà nước phải tuân thủ trong quá trình quản lý kinh tế. Đối với Việt Nam
hiện nay, có các nguyên tắc quản lý kinh tế ở phạm vi nhà nước là:
Nguyên tắc thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế: Lịch sử hình thành và phát
tiển của Nhà nước Việt Nam kiểu mới gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam. Trong hệ thống chính trị ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm
quyền, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo về bằng các nghị
quyết đề ra đường lối, chủ trương, chính sách nhiệm vụ cho quản lý nhà nước và căn
cứ vào đó Nhà nước (cơ quan chuyên môn) ban hành các văn bản pháp luật và tổ chức
thực hiện đường lối chính sách của Đảng. Đảng căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của cơ
22
quản quản lý nhà nước (cơ quan chuyên môn) để đề ra đường lối, chủ trương, chính sách
cho phù hợp nhằm đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chính trị mà cơ quan cấp trên giao.
Nguyên tắc tập trung dân chủ: Nguyên tắc tập trung dân chủ quy định trước hết
là sự lãnh đạo tập trug đối với những vấn đề cơ bản chính yếu nhất, bản chất nhất. Sự
tập trung đó đảm bảo cho cơ quan cấp dưới và cơ sở khả năng thực hiện quyết định
của cấp trên căn cứ vào các điều kiện thực tế của mình. Bên cạnh đó phải đảm bảo tính
sáng tạo, quyền chủ động của cơ sở.
Thực hiện nguyên tắc dân chủ thực chất là nguyên tắc lấy dân làm gốc, thực
hiện quyền làm chủ của NNT trong một nhà nước pháp quyền vì dân, do dân.
Nguyên tắc công khai: Công khai là một nguyên tắc quan trọng trong hoạt động
quản lý thuế. Bởi lẽ, có công khai mới thu hút và tạo điều kiện cho đông đảo người
dân và doanh nghiệp tham gia vào hoạt động quản lý thuế, theo phương châm “Dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Thông qua công khai làm cho công tác quản lý thuế bảo đảm được tính khách
quan, chính xác hơn vì nó cho phép kịp thời điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện chính sách
thuế, làm cho các quyết dịnh quản lý của cơ quan thuế đúng đắn, trung thực với sự vật
hiện tượng đã xảy ra.
Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc quy định mục tiêu của quản lý,
bao gồm cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả đòi
hỏi người quản lý phải có quan điểm hiệu quả đúng đắn, biết phân tích hiệu qủa trong
từng tình huống khác nhau, đặt lợi ích của tổ chức lên trên lợi ích cá nhân, từ đó ra
quyết định tối ưu nhằm tạo được các thành quả có lợi nhất cho nhu cầu phát triển của
tổ chức. Tuy nhiên tiết kiệm, hiệu quả không đồng nghĩa với hạn chế chi tiêu vấn đề
là chi tiêu hợp lý trong khả năng cho phép. Tiết kiệm cũng không có nghĩa là chi ít tiền
mà là chi sao cho đạt kết quả tốt nhất.
Quản lý thuế tại mỗi địa phương phải có sự nghiên cứu, xem xét áp dụng các
phương pháp, biện pháp, hình thức... phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương.
1.2.4. Nội dung quản lý thuế Thu nhập doanh nghiệp
1.2.4.1. Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế
Nhà nước quản lý xã hội bằng hệ thống pháp luật. Pháp luật về thuế là một bộ phận
của hệ thống pháp luật. Hiện nay, tình trạng trốn thuế, sai phạm về thuế vẫn còn phổ
biến. Bên cạnh đó, chính sách thuế thường xuyên thay đổi và rất nhiều NNT chưa có
23
điều kiện nắm bắt kịp thời các luật thuế. Chính vì vậy, công tác tuyên truyền và hỗ trợ
NNT sẽ tăng cường tính thực thi của pháp luật Thuế nói riêng và pháp luật của Nhà
nước nói chung.
Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế là khâu đầu của công tác quản lý thuế theo
chức năng. Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế có tác dụng không chỉ đối với người
nộp thuế, nhằm ngăn ngừa giảm dần các sai phạm, việc làm này còn thuận lợi ngay cả
cho cơ quan thuế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình. Tuyên truyền hỗ trợ
cho người nộp thuế sẽ tạo ra mối quan hệ thân thiện giữa cơ quan thuế và người nộp
thuế. Người nộp thuế sẽ nhận được những thông tin, kiến thức về thuế, tiết kiệm thời
gian và tiền của cho quá trình thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Đối với cơ quan thuế sẽ
làm tăng số thu, giảm chi phí, tăng mức độ chấp hành và tăng độ tin cậy của NNT.
Nếu làm tốt công tác tuyên truyền hỗ trợ thì số thuế do NNT chủ động thực hiện nộp
vào ngân sách tăng lên mà chưa cần phải tổ chức thanh tra, kiểm tra. Để làm tốt công tác
hỗ trợ người nộp thuế, cơ quan thuế phải thật sự coi người nộp thuế là các khách hàng.
1.2.4.2. Quản lý khai thuế, nộp thuế
Khai thuế, tính thuế
- Khai thuế là việc NNT tự xác định số thuế phải nộp phát sinh trong kỳ kê khai
thuế theo quy định của từng Luật thuế, Pháp lệnh thuế. NNT sử dụng hồ sơ khai thuế
của từng loại thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế để kê khai số thuế phải nộp với cơ
quan thuế và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của các số liệu trong hồ sơ khai thuế.
Khai thuế thu nhập doanh nghiệp là loại khai tạm tính theo quý, khai quyết toán
năm hoặc khai quyết toán đến thời điểm chấm dứt hoạt động kinh doanh, chấm dứt
hợp đồng, chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp, tổ chức lại doanh nghiệp và các
trường hợp:
+ Khai thuế thu nhập doanh nghiệp tạm tính theo từng lần chuyển quyền sử
dụng đất, chuyển quyền thuê đất áp dụng đối với tổ chức kinh doanh không phát sinh
thường xuyên hoạt động chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất.
+ Khai thuế thu nhập doanh nghiệp tính theo tỷ lệ thu nhập trên doanh thu theo
tháng hoặc theo lần phát sinh thu nhập của người kinh doanh không thường xuyên.
+ Khai thuế thu nhập doanh nghiệp khấu trừ từ tiền hoa hồng đại lý theo tháng.
- Cơ quan thuế tôn trọng việc tự tính thuế và khai thuế của NNT, đồng thời có
các biện pháp giám sát hiệu quả, vừa đảm bảo khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện của
NNT, vừa bảo đảm phát hiện, ngăn ngừa những trường hợp vi phạm pháp luật thuế.
24
* Ấn định thuế:
Về nguyên tắc, người nộp thuế phải tự xác định số thuế phải nộp, kê khai và
nộp số thuế kê khai vào NSNN theo đúng thời hạn. Tuy nhiên, do điều kiện khách
quan hoặc do ý thức của NNT nên thực tế còn có trường hợp NNT cố tình chậm
hoặc không kê khai thuế, trong trường hợp đó Luật Quản lý thuế quy định cơ quan
thuế được quyền ấn định thuế và ra thông báo ấn định thuế cho NNT. Đây là cơ sở
pháp lý để cơ quan thuế thực hiện quyền ấn định thuế cũng như hạn chế tình trạng lạm
dụng khi thực hiện ấn định thuế, đảm bảo công bằng trong công tác quản lý thuế.
Ấn định thuế là việc cơ quan thuế xác định số thuế phải nộp và yêu cầu NNT
chấp hành nộp thuế theo quyết định ấn định thuế của cơ quan thuế khi NNT không kê
khai hoặc kê khai không đầy đủ, trung thực.
Căn cứ ấn định thuế:
+ Cơ quan thuế căn cứ vào cơ sở dữ liệu thu thập được từ NNT khai báo về
doanh thu, chi phí, thu nhập, số thuế phải nộp trong các kỳ khai thuế trước; Tổ chức,
cá nhân có liên quan đến NNT; các cơ quan quản lý Nhà nước khác.
+ Tham khảo, đối chiếu số thuế phải nộp của cơ sở kinh doanh cùng ngành
nghề, cùng mặt hàng, cùng qui mô tại địa phương.
+ Tài liệu và kết quả kiểm tra, thanh tra còn hiệu lực. Tuỳ theo mức độ vi phạm,
cơ quan quản lý thuế ấn định số thuế phải nộp (ấn định toàn bộ) hoặc ấn định từng yếu
tố liên quan đến việc xác định số thuế phải nộp.
Nộp thuế
Người nộp thuế có nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, đúng thời hạn vào ngân sách
Nhà nước. Trường hợp người nộp thuế tính thuế, thời hạn nộp thuế chậm nhất là
ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế. Trường hợp cơ quan thuế tính
thuế hoặc ấn định thuế, thời hạn nộp thuế là thời hạn ghi trên thông báo của cơ
quan thuế.
1.2.4.3. Quản lý miễn thuế, giảm thuế
Cơ quan quản lý thuế thực hiện miễn thuế, giảm thuế đối với các trường hợp
thuộc diện miễn thuế, giảm thuế được qui định tại các văn bản pháp luật về thuế.
Người nộp thuế tực xác định số thuế TNDN được miễn, giảm hoặc không phải
nộp thuế và khai báo với cơ quan thuế trong hồ sơ khai thuế.
Đối với hợp tác xã có mức thu nhập bình quân tháng trong năm của mỗi lao
động dưới mức lương tối thiểu chung do Nhà nước qui định đối với cán bộ công chức
25
nhà nước, cơ quan thuế trực tiếp kiểm tra hồ sơ và ra quyết định miễn thuế, giảm thuế
thu nhập doanh nghiệp.
1.2.4.4. Quản lý thông tin người nộp thuế
Hệ thống thông tin về người nộp thuế là tất cả các thông tin tài liệu liên quan
đến nghĩa vụ thuế của Người nộp thuế, bao gồm các thông tin định danh, thông tin về
tình hình sản xuất kinh doanh, kê khai, nộp thuế, tình hình tuân thủ pháp luật thuế, giải
quyết khiếu nại tố cáo về thuế và các thông tin khác do người nộp thuế và các tổ chức,
cá nhân khác tự nguyện cung cấp hoặc cung cấp theo yêu cầu bắt buộc của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền.
Thông tin về người nộp thuế được thu thập từ các nguồn: Thông tin, tài liệu do
NNT hoặc tổ chức, các nhân được NNT uỷ quyền kê khai, cung cấp; thông tin, tài liệu
do cơ quan quản lý thuế thu thập trong quá trình theo dõi đăng ký, kê khai, nộp thuế;
giải quyết hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ; kiểm tra, thanh tra, điều tra; giải
quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý vi phạm về thuế; và quản lý sử dụng hoá đơn của người
nộp thuế; thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của NNT; thông
tin về chính sách và tình hình phát triển khinh tế; đặc thù ngành sản xuất kinh doanh
của NNT hoặc nhóm NNT do bên thứ ba là các cơ quan, tổ cức, cá nhân cung cấp;
thông tin, tài liệu mua từ tổ chức, cá nhân (nếu có).
Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm xây dựng hệ thống thông tin NNT thống
nhất từ trung ương đến địa phương; đảm bảo cơ sở dữ liệu tập trung về trung ương;
xây dựng chế độ thông tin, báo cáo thường xuyên, định kỳ giữa cơ quan quản lý thuế
các cấp.
1.2.4.5. Quản lý nợ thuế
Thực hiện nội dung của Luật Quản lý thuế, công tác quản lý nợ và cưỡng chế
nợ thuế là một trong những chức năng có vị trí, vai trò quan trọng trong hệ thống quản
lý thuế. Điều này được thể hiện:
Một là, việc quản lý nợ đọng thuế là một khâu trong hệ thống quản lý thuế, một
trong những chức năng chính và cơ bản của mô hình quản lý thuế theo chức năng
trong cơ chế tự tính, tự khai - tự nộp thuế được sử dụng nhằm quản lý hệ thống thuế.
Hia là, đôn đốc người nộp thuế nộp các khoản thuế còn nợ thuế vào ngân sách
theo quy định của pháp luật. Đảm bảo công bằng xã hội khi người nộp thuế cùng phát
sinh nghĩa vụ thuế thì phải nộp vào ngân sách đúng hạn. Thực hiện công bằng xã hội
26
thông qua việc cơ quan thuế có tác động can thiệp kịp thời và xử lý nghiêm túc các trường
hợp có hành vi vi phạm về chậm nộp thuế nhằm nâng cao ý thức tuân thủ của NNT.
Ba là, quản lý nợ đọng thuế và kết quả đem lại từ việc đôn đốc nợ và cưỡng chế
nợ thuế là một phần thước đo để đánh giá và nâng cao hiệu quả của công tác quản lý
thuế của ngành thuế. Số thuế nợ đọng không kiểm soát được sẽ dẫn đến khả năng phát
sinh các khoản thuế không có khả năng thu hồi.
1.2.4.6. Kiểm tra thuế
Kiểm tra thuế là một trong bốn chức năng cơ bản của quản lý thuế theo mô hình
chức năng. Bên cạnh việc việc tôn trọng kết quả tự tính, tự khai tự nộp thuế, cơ quan
thuế thực hiện các biện pháp giám sát hiệu quả vừa đảm bảo khuyến khích sự tuân thủ
tự nguyện, vừa đảm bảo phát hiện ngăn ngừa các trường hợp vi phạm pháp luật thuế.
Thanh tra, kiểm tra là một biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa vi phạm,
giúp người nộp thuế nhận thấy luôn có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại và kịp
thời phát hiện các hành vi vi phạm của họ.
Kiểm tra thuế
Kiểm tra thuế được thực hiện dưới hai hình thức: kiểm tra tại trụ sở cơ quan
thuế và kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế.
Kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế: Để đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các hồ
sơ thuế cũng như sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế, cơ quan thuế
thường xuyên tiến hành kiểm tra các hồ sơ thuế tại trụ sở cơ quan thuế. Cán bộ thực
hiện kiểm tra, đối chiếu nội dung kê khai trong hồ sơ thuế với cơ sở dữ liệu của NNT
cùng ngành nghề, mặt hàng kinh doanh để phân tích, đánh giá tính tuân thủ hoặc phát hiện
các trường hợp khai chưa đầy đủ dẫn tới việc thiếu thuế hoặc trốn thuế, gian lận thuế.
Kiểm tra tại trụ sở của NNT: Cơ quan thuế tiến hành kiểm tra tại trụ sở NNT
trong các trường hợp NNT không giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu; không khai
bổ sung hồ sơ khai thuế hoặc giải trình, khai bổ sung hồ sơ thuế nhưng không
chứng minh được số thuế đã khai là đúng; hoặc cơ quan thuế không đủ căn cứ để ấn
định số thuế phải nộp; hoặc kiểm tra trước khi hoàn thuế.
1.3. Nhân tố ảnh hưởng tới quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
Mọi hoạt động của một tổ chức hoặc cá nhân đều diễn ra trong một môi trường
nhất định và luôn chịu tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài. Trong hoạt
động quản lý thuế cũng vậy luôn chịu tác dộng của các nhân tố đó. Chính vì vậy,
người quản lý cần phải hiểu rõ từng nhân tố để đưa ra những quyết định phù hợp.
27
1.3.1. Nhân tố chủ quan
Là các yếu tố thuộc về nội bộ cơ quan thuế, bao gồm:
Tổ chức bộ máy: Là tổng thể các đơn vị, các bộ phận cấu thành dựa trên chức
năng nhiệm vụ được giao.
Để một tổ chức hoạt động tốt, tổ chức bộ máy cần đáp ứng được các yêu cầu
như: tinh gọn, hiệu quả, hiệu lực (gọn nhẹ, không cồng kềnh, nặng nề); đúng chức
năng nhiệm vụ; phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận; vận hành một cách nhịp nhàng.
Con người: Đây là yếu tố quan trọng nhất, quyết định đến việc thành công hay
thất bại của công tác quản lý thuế, những người trực tiếp thực thi công vụ về thuế.
Trình độ và kỹ năng cũng như khả năng phát triển của họ trong tương lai, tập quán,
phong thái và thái độ trong quá trình làm việc sẽ tác động trực tiếp đến hiệu quả của
công tác quản lý thuế.
Phẩm chất cách mạng và năng lực toàn diện của các cán bộ quản lý thuế phải
được nâng cao về quan điểm, lập trường, đạo đức, về trình độ nghiệp vụ thuế, về khả
năng tổ chức quản lý, thông thạo về kế toán, kiểm toán, có trình độ ngoại ngữ, biết sử
dụng vi tính phù hợp với sự phát triển của ngành và đáp ứng được yêu cầu quản lý
ngày càng cao trong tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng đa
dạng và phức tạp.
Quy chế làm việc (cơ chế vận hành) tại mỗi đơn vị cũng ảnh hưởng không nhỏ đến
hiệu quả công tác. Nếu quy chế làm việc hợp lý thì sẽ nâng cao hiệu quả của công tác
quản lý thuê.
Điều kiện vật chất: Đây cũng là một trong những nội dung trong chương trình cải
cách hệ thống thuế. Cơ sở vật chất tốt sẽ tạo điều kiện cho cán bộ công chức thuế thực
hiện nhiệm vụ của mình được tốt hơn.
1.3.2. Nhân tố khách quan
1.3.2.1. Hệ thống chính sách, pháp luật thuế
Hệ thống chính sách, pháp luật thuế được áp dụng thống nhất đối với mọi thành
phần kinh tế phải đảm bảo được sự động viên đóng góp bình đẳng và thực hiện công
bằng xã hội. Hệ thống thuế phải thực sự khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi
ngành nghề kinh doanh, các tổ chức và cá nhân bỏ vốn, lao động, đầu tư trang thiết bị
và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cho sản xuất kinh doanh theo quỹ đạo của kế
hoạch nhà nước.
28
Hệ thống thuế mang tính chắp vá, chồng chéo, thiếu căn cứ kinh tế, có thể vừa
gây lạm thu, vừa gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước. Ngược lại, hệ thống chính
sách thuế khoa học, đơn giản, dễ hiểu và ổn định trong thời gian dài tạo điều kiện nâng
cao hiểu biết và nhận thức về nghĩa vụ công dân đối với thuế, tranh thủ được sự đồng
tình ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp dân cư và tự giác chấp hành luật thuế, từ đó tác
dụng thúc đẩy hạch toán kinh tế, thực hiện nghiêm chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ .
1.3.2.2. Người nộp thuế
Người nộp thuế với các hành vi chấp hành pháp luật về thuế của họ là một yếu
tố có vai trò đặc biệt đối với công tác quản lý của cơ quan thuế. Bởi vì, việc tuân thủ
pháp luật thuế của người nộp thuế là đối tượng chính của công tác quản lý thuế. Đồng
thời, mức độ, trình độ hiểu biết và chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế ở mỗi
quốc gia trong từng thời kỳ cũng là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến tính chất, quy mô,
trình độ... cần phải có của công tác quản lý thuế.
13.2.3. Sự phối hợp giữa các ban ngành chức năng
Thuế là một trong những chính sách lớn của Đảng, Nhà nước. Là công cụ quan
trọng để Nhà nước quản lý kinh tế, quản lý xã hội hay nói một cách khác thuế là một
phạm trù kinh tế - chính trị tổng hợp, do đó thực hiện chính sách thuế không phải là
công việc đơn phương của ngành thuế. Cần có sự phối hợp với các đoàn thể và cơ
quan có liên quan để triển khai đồng bộ việc thi hành chính sách thuế với các chính
sách khác và quản lý kinh tế- xã hội trên địa bàn.
Cần phát huy chức năng của các toà án hành chính kinh tế trong việc giải quyết
các tranh chấp giữa cơ quan thuế và người nộp thuế bảo đảm tính khách quan trong việc
thực hiện đầy đủ các quy định về thuế của nhà nước.
+ Trình độ nhận thức và ý thức chấp hành luật thuế của nhân dân Nhà nước đưa
được công tác thuế vào quần chúng nhân dân là công việc rất quan trọng góp phần
phát huy tác dụng của chính sách thuế; nâng cao tính pháp lý của hệ thống chính sách
thuế; giáo dục tính tự giác về nghĩa vụ nộp thuế và quyền lợi được hưởng về thuế, tạo
điều kiện giúp thuế trở thành công cụ mạnh mẽ trong trong điều khiển kinh tế quốc
gia. Nếu trình độ nhận thức và ý thức chấp hành thuế của quần chúng nhân dân cao sẽ
tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý thuế đồng thời qua sự phản hồi những vấn
đề bất hợp lý sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về thuế.
29
1.3.2.4. Các yếu tố môi trường bên ngoài khác
Môi trường bên ngoài là các yếu tố tác động trên phạm vi rộng. Các yếu tố
thuộc môi trường chung bao gồm:
Kinh tế: các yếu tố kinh tế được xem xét và đánh giá trên các chỉ tiêu chung của
một nền kinh tế như tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân, tình hình giá cả và lạm
phát, tình hình lao động, việc làm... Môi trường kinh tế tốt sẽ thúc đẩy qua trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả thì lợi
nhuận tăng, nhờ đó sẽ nộp thuế TNDN nhiều hơn cho NSNN, tạo điều kiện cho cơ
quan thuế hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách trên địa bàn.
Chính trị: đó là các yếu tố như thể chế và xu thế chính trị của quốc gia, lập
trường và thái độ của Chính phủ trước các vấn đề kinh tế xã hội, tình trạng luật
pháp và trật tự xã hội... Môi trường chính trị tốt sẽ tạo điều kiện thu hút đầu tư của
các doanh nghiệp từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển và ngược lại.
Xã hội: có thể bao gồm các yếu tố chính như các yếu tố về nhân khẩu, tập quán
và truyền thống của từng cộng đồng dân cư, các giá trị xã hội... Môi trường xã hội sẽ
tác động trực tiếp việc lựa chọn biện pháp quản lý. Chính vì vậy, cơ quan quản lý thuế
cần lựa chọn biện pháp quản lý thuế phù hợp với thực tế của mỗi địa phương.
Khoa học và công nghệ: Có thể nói khoa học và công nghệ sẽ tác động rất lớn
đến công tác quản lý thuế: góp phần tăng thu, cải tiến quy trình quản lý thuế, cung cấp
thông tin thu - nộp thuế nhanh, từ đó nâng cao hiệu quả hiệu lực quản lý của cơ quan
quản lý thuế.
30
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Trong chương 1 tác giả đã nêu khái quát những vấn đề về quản lý thu thuế thu
nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, khẳng định thuế thu nhập
doanh nghiệp là sắc thuế tính trên thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp, thuế thu
nhập doanh nghiệp được tính bằng thu nhập chịu thuế nhân với mức thuế suất, luận
văn cũng phân biệt rõ ràng cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu
trừ thuế và cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp.
Hiện nay tại Việt Nam, các doanh nghiệp NQD bao gồm: Doanh nghiệp tư
nhân, Công ty Trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần và Công ty hợp danh.
Luận văn đưa ra tám bước trong quá trình xử lý chứng từ nộp thuế. Tới ngày 15
hàng tháng, kế hoạch đôn đốc thu nợ thuế được thực hiện, cuối cùng là tiến hành làm
định kỳ cuối quý lập báo cáo tình hình quyết toán thuế và lưu hồ sơ quyết toán.
Khi tìm hiểu vấn đề quản lý thu thuế THDN, tác giả đã đưa ra bốn nhân tố tác
động tới vấn đề này. Đó là: khung quản lý rộng, loại hình các doanh nghiệp đa dạng,
hiểu biết pháp luật của doanh nghiệp còn hạn chế, trình độ quản lý của cán bộ thuế
chưa cao và tinh thần trách nhiệm của một số cán bộ thuế yếu.